|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 19 tháng 10, 2021 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG II. TƯƠNG ƯNG THIÊN TỬ, PHẨM THỨ NHẤT (S.i,50)
Bài 9. Kinh Candima (Candimasuttaṃ) & Kinh Sūriya (Sūriyasuttaṃ)
- CẦU PHẬT CỨU KHỔ CỨU NẠN.
Sự tồn tại
của vũ trụ bao gồm của những thứ nằm trong trật tự và những
thứ vô trật tự. Nhật nguyệt và một số tinh cầu đi theo quỹ
đạo vốn chịu ảnh hưởng của nghiệp lực trong lúc nhiều hiện
tượng khác thuộc về hỗn độn. Chư thiên và a tu la cũng như
nhiều thành phần trong xã hội loài người: có những người
đóng vai các viên chức hữu trách trong lúc những thành phần
khác thuộc du thuỷ du thực. Họ va chạm nhau đôi khi thắng
đôi khi thua. Có trường hợp phải nhờ tới thế lực mạnh hơn
can thiệp. Câu chuyện trong hai bài kinh nầy Nguyệt thần và
Nhật thần cầu tới uy đức của Phật để giải cứu. Hai câu kinh:
Namo te buddha vīratthu, vippamuttosi sabbadhi;
Sambādhapaṭipannosmi, tassa me saraṇaṃ bhavā’’ti. (Lạy Phật,
bậc Đại Hùng / Đấng hoàn toàn giải thoát / Con đang bị bức
hại / Hãy cho con nương tựa) và buddhā lokānukampakā (Chư
Phật thương xót thế gian) là những câu kinh tiêu tai cát
tường thường được gia trì bởi những vị tu theo mật hạnh.
Sāvatthinidānaṃ.
1) Thế Tôn trú ở Sāvatthī (Xá-vệ).
Tena kho pana samayena candimā devaputto rāhunā asurindena
gahito hoti.
Lúc bấy giờ,
Thiên tử Candimā bị Rāhu, vua A-tu-la bắt. Rồi Thiên tử
Candimā, tưởng niệm đến Thế Tôn, trong lúc ấy nói lên bài kệ
này:
2)‘‘Namo te buddha vīratthu, vippamuttosi
sabbadhi;
Ðảnh lễ đấng Giác Ngộ,
Bản
hiệu đính:
Lạy Phật, bậc Đại Hùng
Atha kho bhagavā candimaṃ devaputtaṃ ārabbha rāhuṃ asurindaṃ
gāthāya ajjhabhāsi –
3) Rồi Thế Tôn, vì Thiên tử Candimā, nói lên bài lệ này cho
Rāhu, vua A-tu-la:
‘‘Tathāgataṃ arahantaṃ, candimā saraṇaṃ gato;
Canda đã quy y,
Bản
hiệu đính:
Canda đã nương tựa
Atha kho rāhu asurindo candimaṃ devaputtaṃ muñcitvā
taramānarūpo yena vepacitti asurindo tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā saṃviggo lomahaṭṭhajāto ekamantaṃ aṭṭhāsi.
Ekamantaṃ ṭhitaṃ kho rāhuṃ asurindaṃ vepacitti asurindo
gāthāya ajjhabhāsi –
4) Rồi Rāhu,
vua A-tu-la, giải thoát cho Thiên tử Candimā. Như bị hốt
hoảng, Rāhu đi đến Vepacitti, vua A-tu-la, run sợ, lông tóc
dựng ngược và đứng một bên. Và Vepacitti, vua A-tu-la, nói
lên bài kệ cho Ràhu, vua A-tu-la, đang đứng một bên:
5)‘‘Kiṃ nu santaramānova, rāhu candaṃ pamuñcasi;
Vì sao, như hốt hoảng,
6)‘‘Sattadhā me phale muddhā, jīvanto na sukhaṃ
labhe;
-- Ðầu con bể thành bảy,
Sāvatthinidānaṃ. Tena kho pana samayena sūriyo devaputto
rāhunā asurindena gahito hoti. Atha kho sūriyo devaputto
bhagavantaṃ anussaramāno tāyaṃ velāyaṃ imaṃ gāthaṃ abhāsi –
1) Tại
Sāvatthī.
Lúc bấy giờ, Thiên tử Sūriya bị Rāhu, vua A-tu-la bắt. Rồi
Thiên tử Sūriya tưởng niệm đến Thế Tôn, trong lúc ấy nói lên
bài kệ này:
2)‘‘Namo te buddha vīratthu, vippamuttosi
sabbadhi;
Ðảnh lễ đấng Giác Ngộ,
Bản
hiệu đính:
Lạy Phật, bậc Đại Hùng
Atha kho bhagavā sūriyaṃ devaputtaṃ ārabbha rāhuṃ asurindaṃ
gāthāhi ajjhabhāsi –
3) Rồi Thế Tôn, vì Thiên tử Sūriya, nói lên bài kệ này cho
Rāhu, vua A-tu-la:
‘‘Tathāgataṃ arahantaṃ, sūriyo saraṇaṃ gato;
Sūriya đã quy y,
Bản hiệu đính:
Canda đã nương tựa
Atha kho rāhu asurindo sūriyaṃ devaputtaṃ muñcitvā
taramānarūpo yena vepacitti asurindo tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā saṃviggo lomahaṭṭhajāto ekamantaṃ aṭṭhāsi.
Ekamantaṃ ṭhitaṃ kho rāhuṃ asurindaṃ vepacitti asurindo
gāthāya ajjhabhāsi –
4) Rồi Rāhu,
vua A-tu-la, giải thoát cho Thiên tử Sūriya. Như bị hốt
hoảng, Rāhu đi đến Vepacitti, vua A-tu-la run sợ, lông tóc
dựng ngược và đứng một bên. Và Vepacitti, vua A-tu-la, nói
lên bài kệ cho Rāhu, vua A-tu-la, đang đứng một bên:
5)‘‘Kiṃ nu santaramānova, rāhu sūriyaṃ
pamuñcasi;
Vì sao, như hốt hoảng,
6)‘‘Sattadhā me phale muddhā, jīvanto na sukhaṃ
labhe;
-- Ðầu con bể thành bảy,
“Namo te buddha vīratthu = đảnh lễ Ngài, Đức Phật bậc Đại Hùng
Candimā (Nguyệt Thần) và Suriya (Nhật Thần) là hai thiên tử
trú ở mặt trăng và mặt trời (chứ không phải là mặt trăng,
mặt trời). (Phật giáo Mật Tông thờ Đức Đại Nhật Như Lai hay
Tỳ Lô Giá Na Phật là phiên âm của Verocana một chữ chỉ cho
mặt trời vốn được thờ trong Bái Hoả Giáo).
Rāhu (La Hầu) là chúng sanh có thân tướng “to nhất trong vũ
trụ” có khả năng nuốt các tinh tú kể cả nhật, nguyệt được
biết trong thiên văn học ngày nay là “black hole” hơn là
hiện tượng nhật thực, nguyệt thực trong cách hiểu dân gian
Ấn độ. Mặc
dù Rāhu và Vepacitti đều là thủ lãnh của A tu la nhưng
Vepacitti có quyền lực lớn hơn và thường là đối thủ của
thiên chủ Sakka như theo Sớ giải của bài kinh khác trong
Tương Ưng Bộ.
Theo Sớ giải thì sở dĩ Đức Phật gọi Suriya là Pajaṃ mama
(con của ta, thân quyến của ta) bởi vì cả hai Candimā
(Nguyệt Thần) và Suriya (Nhật Thần) đều chứng tu đà huờn khi
đến nghe Đức Phật giảng kinh Mahāsamaya Sutta (Trường Bộ,
Kinh số. 20). @@@ Dịch giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu Hiệu đính và biên soạn giáo trình: Tỳ Kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |