|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Chủ Nhật, ngày 24 tháng 10, 2021 MÔN HỌC THẮNG PHÁP ABHIDHAMMAChương IV. TOÁT YẾU SẮC PHÁP (Rūpasaṅgaha)_PHẦN I.Liệt kê sắc pháp (Rūpasamuddeso) (tiếp theo) Bài 32. Về Sắc y sinh (Upādāyarūpa)
·
24 sắc y sinh (Upādāyarūpa)
1.
Nhãn
(cakkhu)
2.
Nhĩ (sota)
3.
Tỷ (ghāna)
4.
Thiệt (jivhā)
5.
Thân (kāya)
6.
Sắc (rūpa)
7.
Thinh (sadda)
8.
Khí (gandha)
9.
Vị (rasa)
Xúc (phoṭṭhabba)
là
ba hiển sắc trừ nước.
10.
Nữ tánh (itthatta)
11.
Nam tánh (purisatta)
12.
Ý vật (hadayavatthu)
13.
Mạng quyền (jīvitindriya)
14.
Dưỡng tố (oja)
15.
Không giới (ākāsadhātu)
16.
Thân biểu (kāyaviññatti)
17.
Khẩu biểu (vācīviññatti)
18.
Khinh (lahutā)
19.
Nhu (mudutā)
20.
Thích sự (kammaññatā)
21.
Sinh (upacaya)
22.
Diễn (santati)
23.
Dị (jaratā)
24.
Diệt (aniccatā)
Giải
thích:
Sắc y sinh (Upādāyarūpa):
Là
những sắc pháp sanh do nương bốn nguyên tố (đất, nước, lửa,
gió)
như
các đồ trang sức được làm từ kim loại quý vậy.
Sắc y sinh gồm 24 thứ phân thành 10 nhóm:
(1) Sắc thanh triệt 5 thứ. (2) Sắc cảnh giới 4 hoặc 7 thứ.
(3) Sắc tính 2 thứ. (4) Sắc tâm cơ 1 thứ. (5) Sắc mạng 1
thứ. (6) Sắc vật thực 1 thứ. (7) Sắc giao giới 1 thứ. (8)
Sắc biểu tri 2 thứ. (9) Sắc linh hoạt 3 thứ. (10) Sắc tướng
trạng 4 thứ.
(1) Sắc thanh triệt (pasādarūpa)
hay còn
gọi là sắc thần kinh là những sắc tinh tuý của bốn đại thu
bắt ngoại cảnh. Đây là những giác quan của loài sinh vật. Có
5 thứ sắc thanh triệt:
Nhãn thanh triệt hay thần kinh nhãn (cakkhupasāda)
chính
là nhãn giác quan (thị giác) nhãn vật, trú căn của nhãn
thức, cơ quan bắt cảnh sắc. Có đặc tính là tính chất tứ đại
nhạy cảm với cảnh sắc (rūpābhighātārahabhūtappasādalakkhaṇaṃ).
Có chức năng là thu bắt cảnh sắc (rūpesu
āviñchanarasaṃ).
Có
biểu hiện là thành chỗ nương cho nhãn thức (cakkhuviññāṇassa
ādhārabhāvapaccupaṭṭhānaṃ).
Có nhân gần là sắc nghiệp tứ đại từ nhân duyên thích thấy
(daṭṭhukāmatānidānakammajabhūtapadaṭṭhānaṃ).
Nhĩ
thanh triệt hay thần kinh nhĩ (sotapasāda)
chính
là nhĩ giác quan (thính giác), nhĩ vật, trú căn của nhĩ
thức, cơ quan bắt cảnh thinh. Có đặc tính là tính chất tứ
đại nhạy cảm với âm thanh (saddābhighātārahabhūtappasādalakkhaṇaṃ).
Có chức năng là thu bắt cảnh thinh (saddesu
āviñchananarasaṃ).
Có
biểu hiện là thành chỗ nương cho nhĩ thức (sotaviññāṇassa
ādhārabhāvapaccupaṭṭhānaṃ).
Có
nhân gần là sắc nghiệp tứ đại từ nhân duyên thích nghe
(sotukāmatānidānakammajabhūtapadaṭṭhānaṃ).
Tỷ
thanh triệt hay thần kinh tỷ (ghānapasāda)
chính
là tỷ giác quan (khứu giác), tỷ vật, trú căn của tỷ thức, cơ
quan bắt cảnh khí. Có đặc tính là tính chất tứ đại nhạy cảm
với mùi hơi (gandhābhighātārahabhūtappasādalakkhaṇaṃ).
Có
chức năng là thu bắt cảnh khí (gandhesu
āviñchanarasaṃ).
Có
biểu hiện là thành chỗ nương cho tỷ thức (ghānaviññāṇassa
ādhārabhāvapaccupaṭṭhānaṃ).
Có
nhân gần là sắc nghiệp tứ đại từ nhân duyên thích ngửi
(ghāyitukāmatānidānakammajabhūtapadaṭṭhānaṃ).
Thiệt
thanh triệt hay thần kinh thiệt (jvhāpasāda)
chính
là thiệt giác quan (vị giác), thiệt vật, trú căn của thiệt
thức, cơ quan bắt cảnh vị. Có đặc tính là tính chất tứ đại
nhạy cảm với vị chất (rasābhighātārahabhūtappasādalakkhaṇaṃ).
Có
đặc tính là tính chất tứ đại nhạy cảm với vị chất (rasābhighātārahabhūtappasādalakkhaṇaṃ).
Có
chức năng là thu bắt cảnh vị (r. asesu
āviñchanarasaṃ).
Có
biểu hiện là chỗ nương cho thiệt thức (jivhāviññāṇassa
ādhārabhāvapaccupaṭṭhānaṃ).
Có
nhân gần là sắc nghiệp tứ đại từ nhân duyên thích nếm (sāyitukāmatānidānakammajabhūtapadaṭṭhānaṃ).
Thân
thanh triệt hay thần kinh thân (kāyapasāda)
chính
là thân giác quan (xúc
giác),
thân
vật, trú căn của thân thức, cơ quan bắt cảnh xúc. Có đặc
tính là tính chất tứ đại nhạy cảm với sự xúc chạm (phoṭṭhabbābhighātārahabhūtappasādalakkhaṇaṃ).
Có chức năng là thu bắt cảnh xúc (phoṭṭhabbesu
āviñchanarasaṃ).
Có
biểu hiện là thành chỗ nương cho thân thức (kāyaviññaṇassa
ādhārabhāvapaccupatthānaṃ).
Có
nhân gần là sắc nghiệp tứ đại từ nhân duyên thích đụng (phusitukāmatānidānakammajabhūtapadaṭṭhānaṃ).
(2) Sắc
cảnh giới (gocararūpa
hay visayarūpa).
Gocara nghĩa đen là cánh đồng cỏ, nơi mà trâu bò lui tới
(gāvo
carantī 'ti gocaraṃ);
nghĩa
bóng là “cảnh giới”, phạm vi mà mắt, tai, mũi, lưỡi, thân
tiếp xúc.
Gocara
và visaya có nghĩa giống nhau và đều chỉ cho
ārammaṇa
(cảnh).
Sắc cảnh giới có 5 thứ, trong đó 4 cảnh thuộc sắc y sinh:
cảnh sắc, cảnh thinh, cảnh khí, cảnh vị và cảnh xúc thuộc
sắc đại hiển.
Cảnh sắc (rūpārammaṇa)
là
các hình thể màu sắc mắt thấy được, bị nhãn thức biết. Có
đặc tính là đối chiếu với thần kinh nhãn (cakkhupaṭihananalakkhaṇaṃ).
Có
chức năng làm đối tượng cho nhãn thức (cakkhuviññāṇassa
visayabhāvarasaṃ).
Có
biểu hiện là thành cảnh của tâm ấy (tasseva gocarapaccupaṭṭhānaṃ).
Có
nhân gần là bốn đại hiển (catumahābhūtapadaṭṭhānaṃ).
Cảnh
thinh (saddārammaṇa)
là
các tiếng âm thanh mà tai nghe được, bị nhĩ thức biết. Có
đặc tính là đối chiếu với thần kinh nhĩ (sotapaṭihananalakkhaṇaṃ).
Có
chức năng làm đối tượng cho nhãn thức (sotaviññāṇassa
visayabhāvarasaṃ).
Có biểu hiện là thành cảnh của tâm ấy (tasseva gocarapaccupaṭṭhānaṃ).
Có
nhân gần là bốn đại hiển (catumahābhūtapadaṭṭhānaṃ).
Cảnh khí (gandhārammaṇa)
là
các hơi mùi mà mũi ngửi được, bị tỷ thức biết. Có đặc tính
là đối chiếu với thần kinh tỷ (ghānapaṭihananalakkhaṇaṃ).
Có chức năng làm đối tượng cho tỷ thức (ghānaviññāṇassa
visayabhāvarasaṃ).
Có biểu hiện là thành cảnh của tâm ấy (tasseva gocarapaccupaṭṭhānaṃ).
Có
nhân gần là bốn đại hiển (catumahābhūtapadaṭṭhānaṃ).
Cảnh vị (rasārammaṇa)
là
các vị mặn ngọt …v.v… mà lưỡi nếm được, bị thiệt thức
biết. Có đặc tính là đối chiếu với thần kinh thiệt (jivhāpaṭihananalakkhaṇaṃ).
Có
chức năng làm đối tượng cho thiệt thức (jivhāviññāṇassa
visayabhāvarasaṃ).
Có biểu hiện là thành cảnh của tâm ấy (tasseva gocarapaccupaṭṭhānaṃ).
Có
nhân gần là bốn đại hiển (catumahābhūtapadaṭṭhānaṃ).
Cảnh xúc (phoṭṭhabbārammaṇa)
thuộc
ba sắc đại hiển: đất (tính cứng hay mềm), lửa (tính nóng hay
lạnh), gió (tính căn hay dùn), trạng thái cứng, mềm, nóng,
lạnh, căn, dùn mà thân chạm được, bị thân thức biết. Có đặc
tính là đối chiếu với thần kinh thân (kāyapaṭihananalakkhaṇaṃ).
Có
chức năng làm đối tượng cho thân thức (kāyaviññāṇassa
visayabhāvarasaṃ).
Có biểu hiện là thành cảnh của tâm ấy (tasseva gocarapaccupaṭṭhānaṃ).
Có
nhân gần là bốn đại hiển (catumahābhūtapadaṭṭhānaṃ).
Nếu
kể 24 sắc y sinh thì sắc cảnh giới chỉ có 4, không kể cảnh
xúc vì cảnh xúc là 3 trong bốn sắc đại hiển đã được liệt kê
rồi. Ở đây chi nói ra cho đủ 5 đối tượng giác quan.
(3) Sắc tính (bhāvarūpa)
là
thứ sắc nghiệp biểu hiện giới tính của nam nữ, đực cái,
trống mái, phân biệt theo bốn khía cạnh là liṅga
(căn_tức là bộ phận sinh dục), nimitta (tướng_tức là
hình dạng tiêu biểu), kutta (nết_tức là tánh thói cư
xử),
ākappa
(hành
vi_tức là cách sinh hoạt). Sắc tính có 2 thứ: nữ quyền
(itthindriya) và nam quyền (purisindriya).
Sắc nữ quyền (itthindriya) là sắc nghiệp biểu hiện
giới tính của nữ, giống cái, giống mái. Sắc nữ quyền có đặc
tính là trạng thái nữ (itthibhāvalakkhanaṃ).
Có chức năng là biểu thị nữ tính (itthī
'ti pakāsanarasaṃ).
Có biểu hiện là thành nhân tố cho căn nữ, tướng nữ, nết nữ,
hành vi nữ (itthiliṅganimittakuttākappānaṃ
kāraṇabhāvapaccupaṭṭhānaṃ).
Có
nhân gần là sắc nghiệp tứ đại (kammajabhūtapadaṭṭhānaṃ).
Sắc
Nam quyền (purisindriya) là sắc nghiệp biểu hiện giới
tính của nam, giống đực trống. Sắc nam quyền có đặc tính là
trạng thái nam (purisabhāvalakkhanaṃ).
Có
chức năng là biểu thị nam tính (puriso 'ti pakāsanarasaṃ).
Có
biểu hiện là thành nhân tố cho căn nam, tướng nam, nết nam,
hành vi nam (purisaliṅganimittakuttākappānaṃ
kāraṇabhāvapaccupaṭṭhānaṃ).
Có nhân gần là sắc nghiệp tứ đại (kammajabhūtapadaṭṭhānaṃ).
(4) Sắc
tâm cơ (hadayarūpa)
là
sắc ý vật (hadayavatthu). Mặc dù, chữ
hadaya, nghĩa tự điển là “trái tim” (tâm cơ) và “hadayarūpa”
dịch là sắc tái tim, sắc tâm cơ; Nhưng chữ “hadaya” còn có
nghĩa khác là “tâm”, như trong bộ Dhammasaṅganī,
dùng
một loạt từ để giải thích Tâm: “Yaṃ
tasmiṃ samaye cittaṃ mano mānasaṃ hadayaṃ paṇḍaraṃ
… cittaṃ hoti, cái
gì là tâm, ý, tư tưởng, tâm tạng, bạch tịnh … có trong khi
ấy, đây gọi là “tâm”. Hadayavatthu (ý vật) chỉ là cơ
sở vật lý cho tâm trú sanh, trú căn của ý giới và ý thức
giới; cũng như cakkhuvatthu (nhãn vật) là trú căn của
nhãn thức giới …v.v…
Lại nữa, trong bộ paṭṭhāna
khi
trình bày sáu trú căn (vatthu)
trợ cho
bảy tâm giới bằng vật
tiền sanh duyên, đến trú căn thứ sáu, đức Phật không nói là
trái tim mà Ngài chỉ nói: “… Yaṃ
rūpaṃ nissāya manodhātu ca manoviññānadhātu ca vattanti, taṃ
rūpaṃ manodhātuyā ca manoviñnnāṇadhātuyā ca
taṃsampayuttakānañca dhammānaṃ purejātapaccayena paccayo _
Ý giới và ý thức giới sinh diễn nương vào sắc nào thì sắc ấy
(yaṃ
rūpaṃ nissāya … taṃ rūpaṃ)
trợ
cho ý giới và ý thức giới, cùng các pháp tương ưng, bằng
tiền sanh duyên”.
Do đó, từ hadayavatthu (ý vật) mà cho rằng là “sắc
trái tim” có lẽ dựa theo cổ thư upanishad thời xưa.
Và có chỗ cho là “não bộ” thì đó là ý kiến của các nhà khoa
học hiện đại.
Sắc ý vật có đặc tính là chỗ nương của ý giới và ý thức giới
(Manodhātumanoviññāṇadhātūnaṃ
nissayalakkhaṇaṃ).
Có
chức năng là làm điểm tựa cho hai tâm giới ấy (tāsaññeva
dhātūnaṃ ādhāraṇarasaṃ).
Có
biểu hiện là thành căn cứ (ubbahanapaccupaṭṭhānaṃ).
Có
nhân gần là sắc nghiệp
tứ
đại (kammajabhūtapadaṭṭhānaṃ).
(5) Sắc
mạng (jīvitarūpa)
là
mạng quyền (jīvitindriya).
Các
sắc nghiệp được sống còn là nhờ sắc nầy. Sắc mạng quyền có
đặc tính là bảo trì các sắc nghiệp đồng sanh (sahajātarūpānupālanalakkhaṇaṃ).
Có
chức năng là làm cho các sắc nghiệp ấy tồn tại (tesaṃ
pavattanarasaṃ).
Có biểu hiện là giữ lại các sắc nghiệp ấy (tesaññevaṭhapanapaccupaṭṭhānaṃ).
Có nhân gần là sắc tứ đại cần phải bảo dưỡng (yāpayitabbabhūtapadaṭṭhānaṃ).
(6) Sắc
vật thực (āhārarūpa)
là
dưỡng tố (oja) từ đoàn thực (kabaliṅkārāhāra).
Sắc
vật thực có đặc tính là chất bổ (ojālakkhaṇo).
Có
chức năng là nuôi các sắc (rūpāharaṇaraso).
Có biểu hiện là thân được trợ lực (kāyupatthambhanapaccupaṭṭhāno).
Có
nhân gần là một thân căn cần được nuôi dưỡng
(āharitabbavatthupadaṭṭhāno).
(7) Sắc
giao giới (paricchedarūpa)
là
sắc hư không, hư không giới (ākāsadhātu).
Sắc
hư không đây có nghĩa là khoảng trống, kẽ hở giữa các sắc
pháp. Sắc hư không chính là sắc giao giới vì đặc tính của nó
là giới hạn cho mỗi bọn sắc (rūpaparicchedalakkhaṇā).
Hư
không giới có chức năng là biểu thị ranh giới của bọn sắc
(rūpapariyantappakāsanarasā).
Có biểu hiện là sắc pháp tiếp giáp (rūpamariyādāpaccupaṭṭhānā).
Có
nhân gần là sắc được phân cách (paricchinnarūpapadaṭṭhānā).
(8) Sắc
biểu tri (viññattirūpa)
là
sắc do tâm sanh (cittajarūpa),
biểu đạt bằng cử chỉ và lời nói làm cho người khác hiểu ý
mình. Sắc biểu tri có 2 thứ là thân biểu tri và khẩu biểu
tri.
Thân biểu tri (kāyaviññatti)
là
sắc biểu đạt cho hiểu bằng cử chỉ thân. Tất cả thân hành
(kāyasamācāra)
có
dụng ý hay không dụng ý cũng đều gọi là Thân biểu tri. Như
cử chỉ gật đầu đồng ý, lắc đầu không đồng ý …v.v… gọi
là thân hành có dụng ý; Oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi, đánh
đồng xa …v.v… gọi là thân hành không dụng ý. Thân
biểu tri có dụng ý là thân hành “làm cho người khác hiểu”
(viññāpetī
'ti viññatti);
Thân
biểu tri không dụng ý, gọi là thân hành “được người khác
hiểu” (viññāyatī
'ti viññatti).
Thân biểu tri có đặc tính là làm cho hiểu (viññāpanalakkhaṇā).
Có nhiệm vụ là biểu đạt ý tưởng (adhippāyapakāsanarasā).
Có
biểu hiện là nhân tạo sự chuyển động của thân (kāyavipphandanahetubhāvapaccupaṭṭhānā).
Có
nhân gần là chất gió do tâm sanh (cittasamuṭṭhānavāyodhātupadaṭṭhānā).
Khẩu
biểu tri
(vācīviññatti)
là
sắc tâm biểu đạt cho hiểu bằng âm thanh miệng; cũng có hai
cách khẩu biểu tri: khẩu hành (vacīsamācāra)
có
dụng ý và khẩu hành không dụng ý. Khẩu hành có dụng ý là nói
cho người khác hiểu ý, như đàm thoại, phát biểu …v.v…
gọi là viññāpetī
'ti viññatti
(biểu tri làm cho hiểu).
Khẩu
hành không dụng ý như: đọc, tụng, ca hát, ngâm nga …v.v…
gọi là viññāyatī
'ti viññatti
(biểu tri được người khác hiểu). Khẩu biểu tri cũng có đặc
tính là làm cho hiểu (viññāpanalakkhaṇā).
Có
nhiệm vụ là biểu đạt ý tưởng (adhippāyapakāsanarasā).
Có
biểu hiện là nhân tạo khẩu thinh (vacīghosasahetubhāvapaccupaṭṭhānā).
Có
nhân gần là chất đất do tâm sanh (cittasamuṭṭhānapathavīdhātupadaṭṭhānā).
(9) Sắc
linh hoạt (vikārarūpa).
Gọi là “linh hoạt” vì đặc tính làm cho các sắc thực tính
được uyển chuyển, thích hợp, đặc biệt. Chiết tự
vikāro “viseso ākāro” ti,
nên
cũng còn gọi là “sắc đặc biệt”. Sắc linh hoạt có 3 thứ là
khinh (lahutā),
nhu (mudutā),
thích
sự (kammaññatā).
Khinh tánh (lahutā)
là
trạng thái nhẹ nhàng của sắc thực tính. Khinh tánh có đặc
tính là không chậm chập (adandhatālakkhaṇā).
Có
nhiệm vụ là dẹp bỏ tình trạng nặng nề. của sắc pháp (rūpānaṃ
garubhāvavinodanarasā).
Có
biểu hiện là hoạt động lẹ làng (lahuparivattitāpaccupaṭṭhānā)
vì
có sắc nhẹ mới tạo ra khinh tánh của bọn sắc (rūpassa
lahutā).
Nhu tánh
(mudutā)
là
trạng thái mềm mại của sắc thực tính. Nhu tánh có đặc tính
là không thô cứng (athaddhatālakkhaṇā).
Có
nhiệm vụ là tiêu trừ trình trạng cứng ngắt của sắc pháp (rūpānaṃ
thaddhabhāvavinodanarasā).
Có biểu hiện là không đối chọi với mọi hoạt động (sabbakiriyāsu
avirodhitāpaccupaṭṭhānā).
Có nhân gần là sắc mềm (mudurūpapadaṭṭhānā)
vì
có sắc mềm mới tạo ra nhu tánh của bọn sắc (rūpassa
mudutā).
Thích tánh (kammaññatā)
là
trạng thái tương thích của sắc thực tính. Thích tánh có đặc
tính là cách thích hợp trong hoạt động của thân (sarīrakiriyānukūlakammaññabhāvalakkhaṇā).
Có
nhiệm vụ là tiêu trừ tính không tương thích (akammaññatāvinodanarasā).
Có
biểu hiện là tính không yếu ớt (adubbalabhāvapaccupaṭṭhānā).
Có
nhân
gần là sắc thích hợp (kammaññarūpapadaṭṭhānā)
vì
có sắc tương thích mới tạo ra thích tánh của bọn sắc (rūpassa
kammaññatā).
(10) Sắc
tướng trạng (lakkhaṇarūpa)
là
những đặc tướng, đặc tánh, hiện trạng của các sắc để nhận
định “đây là khởi sanh, đây là diễn biến, đây là già cũ, đây
là sự biến mất”
… Sắc tướng trạng chỉ là tình trạng của sắc thực tính, sắc
tướng trạng không phải là pháp thực tính. Có 4 hiện trạng
sắc: sinh (upacaya), diễn (santati), dị (jāratā),
diệt (aniccatā).
Sinh (upacaya) là
sự bắt đầu xuất hiện của bọn sắc. Thuật ngữ upacaya
nghĩa là khởi sự chất chứa (ādito
cayo),
nên có chỗ dịch là sắc tích tập. Một bọn sắc sống còn kéo
dài 17 sát na, mỗi sát na là 3 sát na tiểu sanh_trụ_diệt,
như vậy tuổi thọ của một bọn sắc là 51 sát na tiểu (= 17 sát
na đại); Bọn sắc bắt đầu khởi lên vào sát na tiểu thứ 1 gọi
là sinh (hay tích tập); diễn tiến từ sát na tiểu thứ 2 đến
sát na tiểu thứ 50 gọi là sắc diễn (hay kế thừa); Trong giai
đoạn diễn tiến là hiện tượng sắc già (hay lão mại) tức là
sắc dị; Đến sát na tiểu thứ 51 bọn sắc hoại mất gọi là sắc
diệt (hay vô thường). Đặc tính của sắc sinh là sắc sơ sanh
(ācayalakkhaṇo).
Nhiệm vụ là làm cho sắc pháp nỗi dậy trước tiên
(pubbantato
rūpānaṃ ummujjāpanaraso).
Có
biểu hiện là tình trạng hoàn thành (paripuṇṇabhāvapaccupaṭṭhāno).
Có
nhân gần là sắc tập khởi (upacitarūpapadaṭṭhāno).
Diễn
(santati) hay
còn gọi là tiến, thừa kế …v.v… là hiện tượng tiếp
diễn của sắc sau khi khởi sanh, là giai đoạn từ sát na tiểu
thứ hai đến sát na tiểu thứ 50. Đặc tính của sắc diễn là
tiếp tục sanh (pavattilakkhaṇā).
Nhiệm
vụ là kế tục (anuppabandhanarasā).
Biểu
hiện là không gián đoạn (anupacchedapaccupaṭṭhānā).
Nhân
gần là có sắc nối tiếp nhau (anuppabandhakarūpapadaṭṭhānā).
Dị (jaratā)
hay
lão mại, là tình trạng già nua của sắc. Sắc diễn tiến càng
lúc càng già cỗi để đến điểm diệt mất, trong giai đoạn diễn
tiến của sắc đã có hiện tượng già theo mỗi sát na. Sắc dị có
đặc tính là sự chín muồi của sắc pháp (rūpaparipākalakkhaṇā).
Nhiệm vụ là dẫn đến (upanayanarasā).
Có
biểu hiện là mất tính cách mới mẻ (navabhāvāpagamapaccupaṭṭhānā).
Nhân
gần là sắc đang hao mòn (paripaccamārarūpapadaṭṭhānā).
Diệt
(aniccatā)
hay vô
thường tánh, là tình trạng hư hoại của sắc pháp, vào thời
điểm sát na tiểu thứ 51 bọn sắc đã đủ tuổi nên diệt đi. Đặc
tính của sắc diệt là tan rã (paribhedalakkhaṇā).
Nhiệm
vụ là chìm xuống (saṃsīdanarasā).
Biểu
hiện là hoại diệt (khayavayapaccupaṭṭhānā).
Nhân
gần là sắc đang tiêu hoại (paribhijjamānarūpapadaṭṭhānā).
Mười tám sắc là 4 sắc đại hiển, 5 sắc thanh triệt, 4 sắc
cảnh giới, 2 sắc tính, 1 sắc tâm cơ, 1 sắc mạng, 1 sắc vật
thực, gọi là sắc thành (nipphanarūpa),
sắc
thực tính
(sabhāvarūpa),
sắc thực tướng (salakkhanarūpa),
sắc hữu hoại (rūparūpa),
sắc
thẩm sát (sammasanarūpa).
Mười
sắc còn lại gọi là sắc phi thành …v.v…
Gọi là sắc thành (nipphanarūpa)
vì 18 thứ sắc như đất, nước …v.v… là sắc thành tựu do
nghiệp sanh (kammaja), do tâm sanh (cittaja),
do quí tiết sanh (utuja), do vật thực sanh (āhāraja).
Gọi
là sắc thực tính
(sabhāvarūpa)
vì 18 sắc ấy có bản thể thật, bản thể riêng biệt.
Gọi là sắc thực tướng (salakkhanarūpa)
vì 18 sắc ấy thực sự bị tam tướng vô thường (anicca),
khổ (dukkha), vô ngã (anatta) chi phối.
Gọi là sắc hữu hoại (rūparūpa)
vì 18 sắc ấy có tính chất biến hoại bởi yếu tố xung khắc như
thời tiết nóng lạnh …v.v…
Gọi là sắc thẩm sát (sammasanarūpa)
vì 18 sắc nầy trở thành đối tượng cho tuệ thẩm sát tu quán.
Mười thứ sắc là một sắc giao giới, 2 sắc biểu tri, 3 sắc
linh hoạt, 4 sắc tướng trạng, gọi là sắc phi thành
(anipphannarūpa)
vì
chúng không phải chính thức do nghiệp, tâm, quí tiết, vật
thực tạo thành; Gọi là sắc phi thực tính (asabhāvarūpa)
vì
chúng không phải là bản thể thật; Gọi là sắc phi thực tướng
(asalakkhaṇarūpa)
vì
chúng không thật sự bị chi phối bởi tam tướng; Gọi là sắc
phi hữu hoại (arūparūpa)
vì
chúng không thật sự bị biến hoại do yếu tố thời tiết khắc
nghiệt…; Gọi là sắc phi thẩm sát (asammasanarūpa)
vì
chúng không là đối tượng của tuệ minh sát.
Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Tuệ Siêu @@@@@I. Giới thiệu về tính năng mới của Room Level DELUXE - Hi-Fi Audio & Multichannel (Up to 3 Speakers at once)
-
Hi-Fi là
từ viết tắt của “high fidelity”, có nghĩa là độ chân
thực cao. Khi nói “âm thanh Hi-Fi” tức
là âm thanh có độ chân thực cao, sống động, không bị méo âm
hoặc bị lẫn tạp âm và gần như không có gì khác so với âm
thanh gốc.
-
Multichannel (cho phép người dùng có thể kết nối nhiều kênh âm thanh
cùng lúc ‘Room Level DELUXE cho phép sử dụng 3 kênh âm
thanh cùng lúc’
Minh hoạ về Multichannel
II.Quy tắc chung khi sử dụng Multichannel:
-
TT Giác Đẳng
với vai trò điều hợp sẽ bật micro để điều hợp thảo luận và TT Tuệ Siêu – TT
Tuệ Quyền – TT Pháp Tân – TT Pháp Đăng – Sư Nguyên Thông sẽ
đảm trách vai trò là người trả lời và chư vị khi được thỉnh
mời thì trực tiếp bật micro để người điều hợp biết là mình
có thể tham gia mà không cần phải gửi text trên Room. Khi
câu thảo luận được nêu ra hoàn tất thì chư vị có thể bắt đầu
trả lời luôn mà không cần phải chờ đợi như trước.
(Những ngày qua TT Tuệ Siêu đã sử dụng rất quen thuộc
tính năng nầy).
-
Các MC có
thể cầm micro liên tục khi dẫn chương trình cho đến khi đọc
nội dung bài học mà không cần phải tắt micro.
-
Ví dụ: TT
Tuệ Siêu là vị dẫn nhập cho chương trình mỗi ngày và với
Multichannel thì khi nghe lời thỉnh mời TT Tuệ Siêu sẽ chủ
động bật micro mà không cần chờ MC
‘hỏi Ngài có nghe âm thanh rõ không
or phải cho biết tín hiệu’.
-
Các MC là
“admin @ (A)” hoan hỷ lưu ý vì có thể cầm 3 micro cùng lúc
nên phải để ý những người tham gia nếu thấy có tín hiệu cầm
micro thì dùng chức năng (hạn chế
or bỏ qua thành viên). |