|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, 25 tháng 10, 2021
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN Bài 11. ĐỐI DIỆN VỚI CHỐNG ĐỐI VÀ PHỈ BÁNG
Dù là Đức
Phật là Phật, là bậc đại phúc đại trí ở đời, nhưng với lẽ tự
nhiên của cuộc sống Ngài vẫn gặp nhiều ganh ghét, chống đối,
phỉ báng. Ấn độ là vùng đất mang đậm màu sắc tín ngưỡng, nói
rõ hơn, là truyền thống lâu đời của Bà la môn giáo mà ngày
nay được biết là Ấn giáo (Hindu). Đặc điểm nầy ở phương diện
nào đó rất tối để tạo điều kiện cho sự hoằng truyền Phật
Pháp như ủng hộ những sa môn không nhà sống bằng hạnh khất
thực hay đời sống du phương của những tu sĩ rày đây mai đó.
Thế nhưng xã hội Ấn xưa cũng như nay có những phản cảm mãnh
liệt đối với giáo pháp của Đức Phật ở nhiều mặt như không
xem sự thờ phụng thần linh là cốt tuỷ của tín lý hoặc xem
những nghi lễ rườm rà là giới cấm thủ. Nói một cách thực tế
thì nhiều tu sĩ ngoại đạo cảm nhận sự lan toả rộng lớn của
Phật pháp là đe doạ đến quyền lợi và danh tiếng của họ. Chỉ
riêng điều nầy đã tạo nên nhiều sự chống đối, công kích nhắm
thẳng vào Đức Phật. Điểm quan trọng ở đây không phải là tại
sao Đức Phật là bậc đại phúc đức mà gặp nghịch cảnh như vậy
mà điều đáng nói là Ngài đã xử sự thế nào trong những trường
hợp như vậy.
Căm hận Phật vì nghe pháp mà nghĩ là cá nhân bị chỉ trích
Phật pháp
được giảng dạy với mục đích chuyển mê khai ngộ, ly khổ đắc
lạc nên phương diện nào đó là những lời dạy về pháp tánh tự
nhiên nhưng người ta cũng có thể ngộ nhận là nhắm vào cá
nhân.
Nếu nghe pháp chỉ là nghe pháp thì lòng người rộng mở nhưng
nghe pháp mà nghĩ rằng điều được nói là nhắm vào chính mình
thì dễ sanh hiềm hận. Có những để tài Phật pháp mà một người
quen thuộc thì cảm thấy rất bình thường thí dụ nói về phiền
não của tâm, bất tịnh của thân, vô thường của cuộc sống… Thế
nhưng với một số người nào đó thì những điều nầy “đụng chạm”
tới cá nhân và suy diễn xa hơn tạo nên những oan kết trong
lòng.
Hình 45
Hai vợ
chồng ông bà la môn Māgandiya thoạt đầu có ý chọn Đức Phật
làm rễ đông sàng nhưng khi nghe Đức Phật nói pháp thì ngộ
đạo nhưng người con gái là bất mãn nghĩ rằng bị khinh miệt.
Vợ chồng bà la môn vốn là người giỏi về phép xem tướng tin
rằng Đức Phật là bậc đại trượng phu xứng hợp với người con
gái kiều diễm của mình. Để khai thị hai người nầy, Đức Phật
đã nói lên một bài kệ về sự giải thoát khổi trói buộc của
dục lạc. Nghe xong cả hai chứng đắc đạo quả. Riêng tiểu thơ
thi chẳng những không lãnh hội mà nghĩ rằng Đức Phật chê bai
sắc đẹp của mình nên nuôi hận trong lòng. Sau nầy cô
Māgandhiyā trở thành quý phi của vua Udena đã thuê những côn
đồ đi theo Đức Phật thoá mạ đủ cách.
Hình 46
Tôn giả
Ananda nóng ruột khi thấy người ta huỷ báng Đức Phật trên
đường khất thực đã thỉnh Bậc Đạo Sư đi nơi khác nhưng Ngài
dạy về bài học nhẫn nại của đời sa môn.
Qua lời dạy của Đức Thế Tôn thì đời tu sĩ vốn nhận nhiều sự
kính trọng thì cũng lắm điều khinh miệt. Sa môn phải như voi
trận chấp nhận lằn tên mũi đạn. Không thể sống đời xuất gia
mà thiếu hạnh nhẫn nại.
Tìm cách triệt hạ Đức Phật vì thấy là quyền lợi bị mất mát
Sự lan rộng
của Phật Pháp trong dân gian đã khiến nhiều ngoại giáo thấy
bị mất mát lợi danh nên tìm cách triệt hạ uy tín của Đức
Phật.
Mặc dù nói đến tỷ giảo tôn giáo là sự cân phân đạo lý nhưng
trên thực tế thì là liên hệ mật thiết đến danh và lợi vốn là
những điều rất thế tục. Kinh điển ghi lại rất nhiều những nỗ
lực của ngoại giáo tìm cách bôi nhọ, chỉ trích, xuyên tạc,
vu khống Đức Phật và chư tăng nhằm giảm bớt sự quy ngưỡng
của quần chúng.
Hình 47
Một nỗ
lực thâm độc của ngoại đạo là dùng một án mạng để vu cáo Đức
Phật và chư tăng.
Để thực hiện
điều nầy họ tìm một nữ tu sĩ ngoại đạo tên Sundarī có nhan
sắc đóng vai một đàn tín đi sớm về khuya chùa Kỳ Viên với
nhiều lễ phầm cúng dường. Sau một thời gian nhóm ngoại đạo
âm thầm tìm những sát thủ giết Sundarī và chôn xác trong hầm
chứa rác của chùa. Sau khi tuyên bố nỗ lực tìm kiếm người
mất tích đã tri hô sự việc tìm thấy thi thể của Sundarī
trong khuôn viên Kỳ Viên Tịnh Xá và mở một chiến dịch phỉ
báng Đức Phật.
Trước những
xôn xao trong ngoài thành Xá Vệ, Đức Phật đã nhập thất bảy
ngày không đi khất thực để sự việc tự sáng tỏ.
Vua Pasenadi cho thám tử đi điều tra khắp nơi cuối cùng bắt
gặp những sát thủ đang tranh giành tiền thưởng trong lúc say
rượu. Nhà vua đã trừng phạt nghiêm minh những kẻ chủ mưu và
những sát thủ. Sau đó đã bắt những kẻ ngoại đạo công bố sự
thật về những gì họ đã vu cáo Đức Phật.
Thấy nhiều người trẻ đi tu nên thù ghét Đức Phật
Một trong
những hiện tượng nổi bật trong quảng đời hoằng hoá của Đức
Phật là nhiều thiện nam tử, thiện nữ nhân phát tâm xuất gia
khiến nhiều gia đình bà la môn căm ghét Đức Phật.
Với sự
thành lập Tăng Đoàn, Đức Thế Tôn đã mở ra một kỷ nguyên mới
về một nếp sống xuất gia tu tập có học tập, có tu trì, có tổ
chức, có quy củ. Điều nầy khiến cho rất nhiều thanh niên nam
nữ nhận ra được lợi lạc thiết thực của đời sống xuất. Chính
vì vậy mà có rất nhiều người trẻ xin phép cha mẹ chọn con
đường thoát tục. Những gia đình có tín tâm rất hoan hỷ có
con em xuất gia theo Phật. Trong lúc những người ngoại đạo
thì căm ghét nghĩ rằng không có Đức Phật thì không có chuyện
người thân bỏ nhà đi tu.
Hình 54
Rất nhiều
trường hợp những bà la môn trực tiếp đến gặp Đức Phật nói
lời thoá mạ vì sự căm phẫn.
Đơn cử trường hợp Akkosaka Bhāradvāja đã dùng nhiều lời hằn
học chưởi mắng Đức Phật chỉ vì không đồng tình với những lời
dạy và sự khuyến khích tu tập của Ngài. Dù là một bậc Đạo sư
được nhiều tầng lớp vua chúa, trí thức kính mộ nhưng Đức
Phật sống rất gần với quần chúng. Ngài đi khất thực nhận
thực phẩm từ mọi tầng lớp. Những người muốn gặp Ngài thường
có thể đến gặp trực tiếp. Họ nêu lên câu hỏi để nghe giải
đáp. Cũng có trường hợp họ bày tỏ thái độ sân si không tiếc
lời.
Tuỳ mỗi
trường hợp Đức Phật ứng xử khi bị công kích nhưng đa phần
Ngài dùng lời nói ôn tồn để cảm hoá.
Trong trường hợp bà la môn Akkosaka Bhāradvāja thoá mạ Ngài
thì Đức Phật lắng nghe với thái độ bình thản rồi dạy rằng kể
huỷ báng người không phẫn nộ giống như tung bụi ngược gió vì
chính bản thân bị thiêu đốt bởi ý nghĩ và ngôn ngữ não hại
của mình. Vị bà la môn chợt tỉnh trước thái độ và lời nói
của Đấng Vô Thượng Điều Ngự.
Khen chê Đức Phật vì thói thường tình thế gian
Đôi khi tán
thán hay chỉ trích chỉ là thói đời vốn thường tình. Đức Phật đôi khi nhắc nhở những đệ tử trên đời nầy không ai
không bị khen chê. Nói cách nào, sống cách nào thì cũng có
người khen kẻ chê. Người có hiểu biết nên có thái độ phải
chăng là không bất chấp cũng chẳng quá nặng lòng. Một khi
chấp nhận sự khen chê vốn thường tình như trời có lúc nắng
lúc mưa thì sẽ bình tâm hơn nhờ vậy có thể nhận định khách
quan.
Một lần Đức
Phật và chư tăng đi hành hoá có hai thầy trò ngoại đạo đi
theo sau với thái độ tương phản: thầy thì chê bai Phật,
Pháp, Tăng trong lúc người học trò thì tán thán.
Mặc dùng
Suppiya và Bramadatta là hai thầy trò nhưng có quan điểm
trái người về Đức Phật.
Người thầy dùng đủ cách để chê bai trong lúc người
học trò thì bày tỏ quan điểm hoàn toàn ngược lại.
Hình 50
Khi nghe
chư tăng bàn thảo về thái độ khen chê tương phản của hai
thầy trò Suppiya thì Đức Phật đã dạy rằng đối với thị phi
cần giữ thái độ bình tâm.
Ngài dạy rằng không phải lời khen nào cũng chánh đáng
và lời chê nào cũng là điều không đáng nghe mà trước hết là
đừng để tâm giao động rồi thẩm định giá trị của những lời
nói ấy. Những chi phối trước khen chê là vấn đề lớn cho
người tu tập nếu không khéo tác ý. Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng |