|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, ngày 28 tháng 10, 2021 MÔN HỌC THẮNG PHÁP ABHIDHAMMAChương IV. TOÁT YẾU SẮC PHÁP (Rūpasaṅgaha)_PHẦN I.Liệt kê sắc pháp (Rūpasamuddeso) (tiếp theo) Bài 33. THẢO LUẬN VỀ SẮC Y SINH
Tổng quát: Sắc y sinh (Upādāyarūpa)
là những sắc pháp sanh do
nương bốn nguyên tố (đất, nước, lửa, gió), như các đồ trang sức được làm từ kim loại quý vậy.
Sắc y sinh gồm 24 thứ
phân thành 10 nhóm:
(1)
Sắc thanh triệt 5 thứ. (2) Sắc cảnh giới 4 hoặc 7
thứ. (3) Sắc tính 2 thứ. (4) Sắc tâm cơ 1 thứ. (5) Sắc mạng
1 thứ. (6) Sắc vật thực 1 thứ. (7) Sắc giao giới 1 thứ. (8)
Sắc biểu tri 2 thứ. (9) Sắc linh hoạt 3 thứ. (10) Sắc tướng
trạng 4 thứ.
Thảo luận. Có nên phân biệt sắc pháp thuộc sinh vật có sự sống và
vật chất không thuộc sinh vật?
Nhóm I.
Sắc thanh triệt (pasādarūpa) hay còn gọi là sắc thần kinh là
những sắc tinh tuý của bốn đại thu bắt ngoại cảnh. Đây là
những giác quan của loài sinh vật. Có 5 thứ sắc thanh triệt:
Nhãn thanh triệt hay thần
kinh nhãn (cakkhupasāda)
chính là nhãn giác quan (thị
giác) nhãn vật, trú căn của nhãn thức, cơ quan bắt cảnh sắc.
Có đặc tính là tính chất tứ đại nhạy cảm với cảnh sắc (rūpābhighātārahabhūtappasādalakkhaṇaṃ), có chức năng là thu bắt
cảnh sắc (rūpesu
āviñchanarasaṃ),
có biểu hiện là thành chỗ
nương cho nhãn thức (cakkhuviññāṇassa ādhārabhāvapaccupaṭṭhānaṃ), có nhân gần là sắc nghiệp
tứ đại từ nhân duyên thích thấy (daṭṭhukāmatānidānakammajabhūtapadaṭṭhānaṃ).
Nhĩ thanh triệt hay thần
kinh nhĩ (sotapasāda)
chính là nhĩ giác quan (thính
giác), nhĩ vật, trú căn của nhĩ thức, cơ quan bắt cảnh
thinh. Có đặc tính là tính chất tứ đại nhạy cảm với âm thanh
(saddābhighātārahabhūtappasādalakkhaṇaṃ). Có chức năng là thu bắt
cảnh thinh (saddesu
āviñchananarasaṃ). Có biểu hiện là thành chỗ nương cho nhĩ thức (sotaviññāṇassa ādhārabhāvapaccupaṭṭhānaṃ). Có biểu hiện thành chỗ
nương cho nhĩ thức (sotaviññāṇassa ādhāranhāvapaccupaṭṭhānaṃ). Có nhân gần là sắc nghiệp
tứ đại từ nhân duyên thích nghe (sotukāmatānidānakammajabhūtapadaṭṭhānaṃ).
Tỷ thanh triệt hay thần
kinh tỷ (ghānapasāda) chính là tỷ giác quan (khứu
giác), tỷ vật, trú căn của tỷ thức, cơ quan bắt cảnh khí. Có
đặc tính là tính chất tứ đại nhạy cảm với mùi hơi (gandhābhighātārahabhūtappasādalakkhaṇaṃ). Có chức năng là thu bắt
cảnh khí (gandhesu
āviñchanarasaṃ).
Có biểu hiện là thành chỗ
nương cho tỷ thức (ghānaviññāṇassa ādhārabhāvapaccupaṭṭhānaṃ). Có nhân gần là sắc nghiệp
tứ đại từ nhân duyên thích ngửi (ghāyitukāmatānidānakammajabhūtapadaṭṭhānaṃ).
Thiệt thanh triệt hay thần
kinh thiệt (jvhāpasāda)
chính là thiệt giác quan (vị giác), thiệt vật, trú căn của
thiệt thức, cơ quan bắt cảnh vị. Có đặc tính là tính chất tứ
đại nhạy cảm với vị chất (rasābhighātārahabhūtappasādalakkhaṇaṃ). Có chức năng là thu bắt
cảnh vị (Rasesu
āviñchanarasaṃ). Có biểu hiện là chỗ nương
cho thiệt thức (jivhāviññāṇassa ādhārabhāvapaccupaṭṭhānaṃ).
Có nhân gần là sắc nghiệp
tứ đại từ nhân duyên thích nếm (sāyitukāmatānidānakammajabhūtapadaṭṭhānaṃ).
Thân thanh triệt hay thần
kinh thân (kāyapasāda)
chính là thân giác quan (xúc giác), thân vật, trú căn của thân
thức, cơ quan bắt cảnh xúc. Có đặc tính là tính chất tứ đại
nhạy cảm với sự xúc chạm (phoṭṭhabbābhighātārahabhūtappasādalakkhaṇaṃ). Có chức năng là thu bắt
cảnh xức (phoṭṭhabbesu
āviñchanarasaṃ).
Có biểu hiện là thành chỗ
nương cho thân thức (kāyaviññaṇassa ādhārabhāvapaccupatthānaṃ).
Có nhân gần là sắc nghiệp
tứ đại từ nhân duyên thích đụng (phusitukāmatānidānakammajabhūtapadaṭṭhānaṃ).
Thảo luận. Chữ thanh triệt mang nghĩa là trong suốt để dịch chữ
pasāda. Chữ “thần kinh” có nên được dùng để sáng nghĩa hơn
chăng?
Nhóm II.
Sắc cảnh giới (gocararūpa
hay visayarūpa). Gocara nghĩa đen là cánh đồng cỏ, nơi mà trâu bò lui tới
(gāvo carantī 'ti gocaraṃ);
nghĩa bóng là
“cảnh giới”, phạm vi là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân tiếp xúc.
Gocara
và visaya có nghĩa giống nhau và đều chỉ cho
ārammaṇa
(cảnh).
Sắc cảnh
giới có 5 thứ, trong đó 4 cảnh thuộc sắc y sinh: cảnh sắc,
cảnh thinh, cảnh khí, cảnh vị và cảnh xúc thuộc sắc đại
hiển.
Cảnh sắc
(rūpārammaṇa)
là các hình
thể màu sắc mắt thấy được, bị nhãn thức biết. Có đặc tính là
đối chiếu với thần kinh nhãn (cakkhupaṭihananalakkhaṇaṃ).
Có chức năng làm đối tượng cho nhãn thức (cakkhuviññāṇassa
visayabhāvarasaṃ). Có biểu hiện là thành cảnh của tâm ấy (tasseva gocarapaccupaṭṭhānaṃ).
Có nhân gần
là bốn đại hiển (catumahābhūtapadaṭṭhānaṃ).
Cảnh
thinh (saddārammaṇa)
là các tiếng
âm thanh mà tai nghe được, bị nhĩ thức biết. Có đặc tính là
đối chiếu với thần kinh nhĩ (sotapaṭihananalakkhaṇaṃ).
Có chức năng
làm đối tượng cho nhãn thức (sotaviññāṇassa
visayabhāvarasaṃ). Có biểu hiện là thành cảnh của tâm ấy (tasseva gocarapaccupaṭṭhānaṃ).
Có nhân gần
là bốn đại hiển (catumahābhūtapadaṭṭhānaṃ).
Cảnh khí
(gandhārammaṇa)
là các hơi
mùi mà mũi ngửi được, bị tỷ thức biết. Có đặc tính là đối
chiếu với thần kinh tỷ (ghānapaṭihananalakkhaṇaṃ). Có chức năng làm đối tượng cho tỷ thức (ghānaviññāṇassa
visayabhāvarasaṃ). Có biểu hiện là thành cảnh của tâm ấy
(tasseva gocarapaccupaṭṭhānaṃ).
Có nhân gần
là bốn đại hiển (catumahābhūtapadaṭṭhānaṃ).
Cảnh vị
(rasārammaṇa)
là các vị
mặn ngọt …v.v… mà lưỡi nếm được, bị thiệt thức biết.
Có đặc tính là đối chiếu với thần kinh thiệt (jivhāpaṭihananalakkhaṇaṃ).
Có chức năng
làm đối tượng cho thiệt thức (jivhāviññāṇassa
visayabhāvarasaṃ). Có biểu hiện là thành cảnh của tâm ấy (tasseva gocarapaccupaṭṭhānaṃ).
Có nhân gần
là bốn đại hiển (catumahābhūtapadaṭṭhānaṃ).
Cảnh xúc
(phoṭṭhabbārammaṇa)
thuộc ba sắc đại
hiển: đất (tính cứng hay mềm), lửa (tính nóng hay lạnh), gió
(tính căn hay dùn), trạng thái cứng, mềm, nóng, lạnh, căn,
dùn mà thân chạm được, bị thân thức biết. Có đặc tính là đối
chiếu với thần kinh thân (kāyapaṭihananalakkhaṇaṃ).
Có chức năng
làm đối tượng cho thân thức (kāyaviññāṇassa
visayabhāvarasaṃ). Có biểu hiện là thành cảnh của tâm ấy (tasseva
paccupaṭṭhānaṃ). Có nhân gần là bốn đại hiển (catumahābhūtapadaṭṭhānaṃ).
Nếu kể 24 sắc y
sinh thì sắc cảnh giới chỉ có 4, không kể cảnh xúc vì cảnh
xúc là 3 trong bốn sắc đại hiển đã được liệt kê rồi. Ở đây
chi nói ra cho đủ 5 đối tượng giác quan.
Thảo luận. Ánh sáng là hiện tượng vật chất được nói nhiều trong
môn vật lý ngày nay như trong môn quang học. Thắng Pháp nói
gì về ánh sáng?
Nhóm III. Sắc tính (bhāvarūpa)
là thứ sắc
nghiệp biểu hiện giới tính của nam nữ, đực cái, trống mái,
phân biệt theo bốn khía cạnh là liṅga
(căn_tức là bộ phận sinh dục), nimitta (tướng_tức
là hình dạng tiêu biểu), kutta (nết_tức là tánh thói
cư xử),
ākappa
(hành vi_tức là
cách sinh hoạt). Sắc tính có 2 thứ: nữ quyền (ithindriya)
và nam quyền (purisindriya).
Sắc nữ quyền (ithindriya) là sắc nghiệp biểu hiện
giới tính của nữ, giống cái, giống mái. Sắc nữ quyền có đặc
tính là trạng thái nữ (itthibhāvalakkhanaṃ),
có chức năng
là biểu thị nữ tính (itthī 'ti
pakāsanarasaṃ).
Có biểu hiện là thành nhân tố cho căn nữ, tướng nữ, hành vi
nữ (itthiliṅganimittakuttākappānaṃ
kāraṇabhāvapaccupaṭṭhānaṃ). Có nhân gần là sắc nghiệp tứ đại (kammajabhūtapadaṭṭhānaṃ).
Sắc Nam quyền (purisindriya) là sắc nghiệp biểu hiện
giới tính của nam, giống đực trống. Sắc nam quyền có đặc
tính là trạng thái nam (purisabhāvalakkhanaṃ).
Có chức năng
là biểu thị nam tính tính (puriso 'ti pakāsanarasaṃ).
Có biểu hiện
là thành nhân tố cho căn nam, tướng nam, nết nam, hành vi
nam (purisaliṅganimittakuttākappānaṃ
kāraṇabhāvapaccupaṭṭhānaṃ). Có nhân gần là sắc nghiệp tứ đại (kammajabhūtapadaṭṭhānaṃ).
Thảo luận: Có chăng trường hợp cả hai sắc giới tính cùng hiện hữu
ở một người?
Nhóm IV.
Sắc tâm cơ (hadayarūpa)
là sắc ý vật (hadayavatthu). Mặc dù, chữ hadaya,
nghĩa tự điển là “trái tim” (tâm cơ) và “hadayarūpa” dịch là sắc tái tim, sắc tâm cơ; Nhưng chữ “hadaya” còn
có nghĩa khác là “tâm”, như trong bộ Dhammasaṅganī,
dùng một loạt từ
để giải thích Tâm: “Yaṃ tasmiṃ samaye cittaṃ mano
mānasaṃ hadayaṃ paṇḍaraṃ … cittaṃ hoti,
cái gì là tâm, ý, tư tưởng, tâm tạng, bạch tịnh … có trong
khi ấy, đây gọi là “tâm”. Hadayavatthu (ý vật) chỉ là
cơ sở vật lý cho tâm trú sanh, trú căn của ý giới và ý thức
giới; cũng như cakkhuvatthu (nhãn vật) là trú căn của
nhãn thức giới …v.v…
Lại nữa, trong bộ paṭṭhāna
khi trình bày sáu trú căn (vatthu)
trợ cho bảy
tâm giới bằng vật tiền
sanh duyên, đến trú căn thứ sáu, đức Phật không nói là trái
tim mà Ngài chỉ nói: “… Yaṃ
rūpaṃ nissāya manodhātu ca manoviññānadhātu ca vattanti, taṃ
rūpaṃ manodhātuyā ca manoviñnnāṇadhātuyā ca
taṃsampayuttakānañca dhammānaṃ purejātapaccayena paccayo _
Ý giới và ý thức giới sinh diễn nương vào sắc nào thì sắc ấy
(yaṃ
rūpaṃ nissāya … taṃ rūpaṃ) trợ cho ý giới và ý thức giới, cùng các pháp tương ưng, bằng
tiền sanh duyên”.
Do đó, từ hadayavatthu (ý vật) mà cho rằng là “sắc
trái tim” có lẽ dựa theo cổ thư upanishad thời xưa.
Và có chỗ cho là “não bộ” thì đó là ý kiến của các nhà khoa
học hiện đại.
Sắc ý vật có đặc tính là chỗ nương của ý giới và ý thức giới (Manodhātumanoviññāṇadhātūnaṃ
nissayalakkhaṇaṃ). Có chức năng là làm điểm tựa cho hai tâm giới ấy (tāsaññeva
dhātūnaṃ ādhāraṇarasaṃ).
Có biểu hiện là thành căn cứ (ubbahanapaccupaṭṭhānaṃ).
Có nhân gần là
sắc nghiệp
tứ đại (kammajabhūtapadaṭṭhānaṃ).
Thảo luận: Chữ hadaya trong Phạm ngữ có phải luôn luôn là trái
tim? Sắc ý vật có thật sự cần thiết làm chỗ nương cho ý giới
và ý thức giới?
Nhóm V.
Sắc mạng (jīvitarūpa)
là mạng quyền (jīvitindriya). Các sắc nghiệp được sống còn là nhờ sắc nầy. Sắc mạng quyền
có đặc tính là bảo trì các sắc nghiệp đồng sanh (sahajātarūpānupālanalakkhaṇaṃ).
Có chức năng là làm cho các sắc nghiệp ấy tồn tại (tesaṃ
pavattanarasaṃ).
Có biểu hiện là giữ lại các sắc nghiệp ấy (tesaññevaṭhapanapaccupaṭṭhānaṃ).
Có nhân gần là sắc tứ đại cần phải bảo dưỡng (yāpayitabbabhūtapadaṭṭhānaṃ).
Thảo luận: Sắc mạng có được xem là có mặt trong tất cả sự tồn tại
của vật chất hay chỉ ở thân xác chúng sanh có sự sống?
Nhóm VI.
Sắc vật thực (āhārarūpa)
là
dưỡng tố (oja) từ đoàn thực (kabaliṅkārāhāra).
Sắc vật thực có
đặc tính là chất bổ (ojalakkhaṇo).
Có chức năng
là nuôi các sắc (rūpāharaṇaraso).
Có biểu hiện là thân được trợ lực (kāyupatthambhanapaccupaṭṭhāno).
Có nhân gần
là một thân căn cần được nuôi dưỡng
(āharitabbavatthupadaṭṭhāno).
Thảo luận. Khí ô xy (oxygen) được xem là một chất liệu quan trọng
của sự sống của các sinh vật trong khoa học ngày nay. Như
vậy ô xy có thể được xem là một trong những dưỡng tố chăng?
Nhóm VII. Sắc giao giới (paricchedarūpa)
là
sắc hư không, hư không giới (ākāsadhātu).
Sắc hư không
đây có nghĩa là khoảng trống, kẽ hở giữa các sắc pháp. Sắc
hư không chính là sắc giao giới vì đặc tính của nó là giới
hạn cho mỗi bọn sắc (rūpaparicchedalakkhaṇā).
Hư không giới có chức năng là biểu thị ranh giới của bọn sắc
(rūpapariyantappakāsanarasā).
Có biểu hiện là sắc pháp tiếp giáp (rūpamariyādāpaccupaṭṭhānā).Có nhân gần là sắc được phân cách (paricchinnarūpapadaṭṭhānā).
Thảo luận: Sắc giao giới nên hiểu là một thứ sắc hay chỉ là
khoảng không giữa các đơn vị vật chất? Sư tương quan giữa
sắc giao giới và sắc pháp khác có giống khái niệm hiện tượng
và bản chất theo cách nói thường thức?
Nhóm VIII. Sắc biểu tri (viññattirūpa)
là sắc do tâm
sanh (cittajarūpa),
biểu đạt bằng cử chỉ và lời nói làm cho người khác hiểu ý
mình. Sắc biểu tri có 2 thứ là thân biểu tri và khẩu biểu
tri.
Thân biểu
tri (kāyaviññatti)
là sắc biểu
đạt cho hiểu bằng cử chỉ thân. Tất cả thân hành (kāyasamācāra)
có dụng ý hay
không dụng ý cũng đều gọi là Thân biểu tri. Như cử chỉ gật
đầu đồng ý, lắc đầu không đồng ý …v.v… gọi là thân
hành có dụng ý; Oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi, đánh đồng xa
…v.v… gọi là thân hành không dụng ý. Thân biểu tri có
dụng ý là thân hành “làm cho người khác hiểu” (viññāpetī
'ti viññatti); Thân biểu tri không dụng ý, gọi là thân hành “được người khác
hiểu” (viññāyatī 'ti viññatti).
Thân biểu tri có đặc tính là làm cho hiểu (viññāpanalakkhaṇā).
Có nhiệm vụ là biểu đạt ý tưởng (adhippāyapakāsanarasā).
Có biểu hiện
là nhân tạo sự chuyển động của thân (kāyavipphandanahetubhāvapaccupaṭṭhānā).
Có nhân gần
là chất gió do tâm sanh (cittasamuṭṭhānavāyodhātupadaṭṭhānā).
Khẩu
biểu tri
(vācīviññatti)
là sắc tâm biểu đạt cho hiểu bằng âm thanh miệng; cũng có
hai cách khẩu biểu tri: khẩu hành (vacīsamācāra)
có dụng ý và
khẩu hành không dụng ý. Khẩu hành có dụng ý là nói cho người
khác hiểu ý, như đàm thoại, phát biểu …v.v… gọi là
viññāpetī
'ti viññatti
(biểu tri làm cho hiểu).
Khẩu hành không dụng ý như: đọc, tụng, ca hát, ngân nga
…v.v… gọi là viññāyatī
'ti viññatti (biểu tri được người khác hiểu). Khẩu biểu tri cũng có
đặc tính là làm cho hiểu (viññāpanalakkhaṇā).
Có nhiệm vụ là biểu đạt ý tưởng (adhippāyapakāsanarasā).
Có biểu hiện
là nhân tạo khẩu thinh (vacīghosasahetubhāvapaccupaṭṭhānā).
Có nhân gần
là chất đất do tâm sanh (cittasamuṭṭhānapathavīdhātupadaṭṭhānā).
Thảo luận: Cười, khóc, ngáp, ho, nhảy mũi có kể là thân biểu tri
hay khẩu biểu tri?
Nhóm
IX.
Sắc linh hoạt (vikārarūpa).
Gọi là “linh hoạt” vì đặc tính làm cho các sắc thực tính
được uyển chuyển, thích hợp, đặc biệt. Chiết tự
vikāro “viseso ākāro” ti,
nên cũng còn
gọi là “sắc đặc biệt”. Sắc linh hoạt có 3 thứ là khinh (lahutā),
nhu (mudutā),
thích sự
(kammaññatā).
Khinh tánh
(lahutā)
là trạng thái
nhẹ nhàng của sắc thực tính. Khinh tánh có đặc tính là không
chậm chập (adandhatālakkhaṇā).
Có nhiệm vụ là dẹp bỏ tình trạng nặng nề. của sắc pháp (rūpānaṃ
garubhāvavinodanarasā). Có biểu hiện là hoạt động lẹ làng (lahuparivattitāpaccupaṭṭhānā)
vì có sắc nhẹ
mới tạo ra khinh tánh của bọn sắc (rūpassa
lahutā).
Nhu tánh
(mudutā)
là trạng thái mềm mại của sắc thực tính. Nhu tánh có đặc
tính là không thô cứng (athaddhatālakkhaṇā).
Có nhiệm vụ là tiêu trừ trình trạng cứng ngắt của sắc pháp
(rūpānaṃ
thaddhabhāvavinodanarasā). Có biểu
hiện là không đối chọi với mọi hoạt động (sabbakiriyāsu
avirodhitāpaccupaṭṭhānā).
Có nhân gần là sắc mềm (mudurūpapadaṭṭhānā)
vì
có sắc mềm mới tạo ra
nhu tánh của bọn sắc (rūpassa
mudutā).
Thích tánh
(kammaññatā)
là trạng thái
tương thích của sắc thực tính. Thích tánh có đặc tính là
cách thích hợp trong hoạt động của thân (sarīrakiriyānukūlakammaññabhāvalakkhaṇā).
Có
nhiệm vụ là tiêu trừ tính không tương thích (akammaññatāvinodanarasā).
Có biểu hiện
là tính không yếu ớt (adubbalabhāvapaccupaṭṭhānā).
Có nhân gần là sắc thích hợp (kammaññarūpapadaṭṭhānā)
vì có sắc
tương thích mới tạo ra thích tánh của bọn sắc (rūpassa
kammaññatā).
Thảo luận. Ngoài bầu khí quyển không có có sức hút của trái đất
(hay các tinh cầu) thì không có trọng lượng như vậy sự nặng
nhẹ có nên xem là một thứ sắc đặc biệt?
Nhóm X. Sắc tướng trạng (lakkhaṇarūpa)
là
những đặc tướng, đặc tánh, hiện trạng của các sắc để nhận
định “đây là khởi sanh, đây là diễn biến, đây là già cũ, đây
là sự biến mất”
… Sắc tướng trạng chỉ là tình trạng của sắc thực tính, sắc
tướng trạng không phải là pháp thực tính. Có 4 hiện trạng
sắc: sinh (upacaya), diễn (santati), dị (jāratā),
diệt (aniccatā).
Sinh (upacaya) là sự bắt đầu xuất hiện của bọn sắc. Thuật ngữ upacaya
nghĩa là khởi sự chất chứa (ādito cayo),
nên có chỗ dịch là sắc tích tập. Một bọn sắc sống còn kéo
dài 17 sát na, mỗi sát na là 3 sát na tiểu sanh_trụ_diệt,
như vậy tuổi thọ của một bọn sắc là 51 sát na tiểu (= 17 sát
na đại); Bọn sắc bắt đầu khởi lên vào sát na tiểu thứ 1 gọi
là sinh (hay tích tập); diễn tiến từ sát na tiểu thứ 2 đến
sát na tiểu thứ 50 gọi là sắc diễn (hay kế thừa); Trong giai
đoạn diễn tiến là hiện tượng sắc già (hay lão mại) tức là
sắc dị; Đến sát na tiểu thứ 51 bọn sắc hoại mất gọi là sắc
diệt (hay vô thường). Đặc tính của sắc sinh là sắc sơ sanh
(ācayalakkhaṇo).
Nhiệm vụ là làm cho sắc pháp nỗi dậy trước tiên
(pubbantato
rūpānaṃ ummujjāpanaraso). Có biểu hiện là tình trạng hoàn thành (paripuṇṇabhāvapaccupaṭṭhāno).
Có nhân gần là
sắc tập khởi (upacitarūpapadaṭṭhāno).
Diễn
(santati) hay
còn gọi là tiến, thừa kế …v.v… là hiện tượng tiếp
diễn của sắc sau khi khởi sanh, là giai đoạn từ sát na tiểu
thứ hai đến sát na tiểu thứ 50. Đặc tính của sắc diễn là
tiếp tục sanh (pavattilakkhaṇā).
Nhiệm vụ là kế
tục (anuppabandhanarasā).
Biểu hiện là
không gián đoạn (anupacchedapaccupaṭṭhānā).
Nhân gần là có
sắc nối tiếp nhau (anuppabandhakarūpapadaṭṭhānā).
Dị (jaratā)
hay lão mại, là
tình trạng già nua của sắc. Sắc diễn tiến càng lúc càng già
cỗi để đến điểm diệt mất, trong giai đoạn diễn tiến của sắc
đã có hiện tượng già theo mỗi sát na. Sắc dị có đặc tính là
sự chín muồi của sắc pháp (rūpaparipākalakkhaṇā).
Nhiệm vụ là dẫn đến (upanayanarasā).
Có biểu hiện là mất tính cách mới mẻ (navabhāvāpagamapaccupaṭṭhānā).
Nhân gần là sắc
đang hao mòn (paripaccamārarūpapadaṭṭhānā).
Diệt
(aniccatā)
hay vô thường
tánh, là tình trạng hư hoại của sắc pháp, vào thời điểm sát
na tiểu thứ 51 bọn sắc đã đủ tuổi nên diệt đi. Đặc tính của
sắc diệt là tan rã (paribhedalakkhaṇā).
Nhiệm vụ là chìm
xuống (saṃsīdanarasā).
Biểu hiện là
hoại diệt (khayavayapaccupaṭṭhānā).
Nhân gần là sắc
đang tiêu hoại (paribhijjamānarūpapadaṭṭhānā).
Thảo luận: Có chăng một thứ sắc tạo nên sự lão hoá hay lão hoá
chỉ là biến đổi tự nhiên của sắc?
Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Tuệ Siêu @@@@@I. Giới thiệu về tính năng mới của Room Level DELUXE - Hi-Fi Audio & Multichannel (Up to 3 Speakers at once)
-
Hi-Fi là
từ viết tắt của “high fidelity”, có nghĩa là độ chân
thực cao. Khi nói “âm thanh Hi-Fi” tức
là âm thanh có độ chân thực cao, sống động, không bị méo âm
hoặc bị lẫn tạp âm và gần như không có gì khác so với âm
thanh gốc.
-
Multichannel (cho phép người dùng có thể kết nối nhiều kênh âm thanh
cùng lúc ‘Room Level DELUXE cho phép sử dụng 3 kênh âm
thanh cùng lúc’
Minh hoạ về Multichannel
II.Quy tắc chung khi sử dụng Multichannel:
-
TT Giác Đẳng
với vai trò điều hợp sẽ bật micro để điều hợp thảo luận và TT Tuệ Siêu – TT
Tuệ Quyền – TT Pháp Tân – TT Pháp Đăng – Sư Nguyên Thông sẽ
đảm trách vai trò là người trả lời và chư vị khi được thỉnh
mời thì trực tiếp bật micro để người điều hợp biết là mình
có thể tham gia mà không cần phải gửi text trên Room. Khi
câu thảo luận được nêu ra hoàn tất thì chư vị có thể bắt đầu
trả lời luôn mà không cần phải chờ đợi như trước.
(Những ngày qua TT Tuệ Siêu đã sử dụng rất quen thuộc
tính năng nầy).
-
Các MC có
thể cầm micro liên tục khi dẫn chương trình cho đến khi đọc
nội dung bài học mà không cần phải tắt micro.
-
Ví dụ: TT
Tuệ Siêu là vị dẫn nhập cho chương trình mỗi ngày và với
Multichannel thì khi nghe lời thỉnh mời TT Tuệ Siêu sẽ chủ
động bật micro mà không cần chờ MC
‘hỏi Ngài có nghe âm thanh rõ không
or phải cho biết tín hiệu’.
-
Các MC là
“admin @ (A)” hoan hỷ lưu ý vì có thể cầm 3 micro cùng lúc
nên phải để ý những người tham gia nếu thấy có tín hiệu cầm
micro thì dùng chức năng (hạn chế
or bỏ qua thành viên). |