|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Chủ Nhật, ngày 31 tháng 10, 2021 MÔN HỌC THẮNG PHÁP ABHIDHAMMAChương IV. TOÁT YẾU SẮC PHÁP (Rūpasaṅgaha(tiếp theo). Phần 2 Bài 33. Phân loại sắc pháp (Rūpavibhāgo)
Phần phân loại
sắc pháp được Ngài Anuruddha liệt kê trong quyển
Abhidhammasangaha là một sưu tập tìm thấy đó đây trong Thắng
Pháp Tạng. Sau nầy trong Giáo Trình Siêu Lý Học Ngài
Saddhammajotika có nêu chi tiết hơn với nhiều chú thích.
Sự phân chia sắc
pháp thành từng nhóm - giống như sự phân chia các loại tâm -
rất cần thiết để trình bày trong những phần khác sau nầy như
diễn trình sắc pháp hay duyên hệ. Người học cần thuộc lòng
để khi nói tới có thể nắm vững chi pháp. Sắc Pháp thường
được đề cập theo nhóm.
Phần A. Sắc pháp
một loại (Ekavidhaṃ) là cách nói chung về sắc pháp chứ không
phải là phân loại tuy vậy cũng được liệt kê ở đây. Đây là
cách trình bày như pháp số truyền thống.
Có một số chi
tiết trong sự phân loại cần được lưu ý qua các câu thảo luận
của từng phần.
A. Sắc pháp một loại (Ekavidhaṃ)
Tất cả sắc pháp đều gọi là vô nhân (ahetukaṃ) vì sắc pháp không có nhân
tương ưng.
Tất cả sắc pháp đều gọi là hữu duyên (sappaccayaṃ) vì sắc pháp do duyên trợ
sanh.
Tất cả sắc pháp đều gọi là cảnh lậu (sāsavaṃ) vì sắc pháp là cảnh của
nhiều lậu hoặc.
Tất cả sắc pháp đều gọi là hữu vi (saṅkhataṃ) vì sắc pháp còn bị tạo tác
bởi bốn sở sanh là nghiệp, tâm, quí tiết và vật thực.
Tất cả sắc pháp đều gọi là hiệp thế (lokiyaṃ) vì sắc pháp thuộc phạm trù
luân hồi, thuộc về đời.
Tất cả cả sắc pháp đều gọi là dục giới (kāmāvacaraṃ) vì sắc pháp là đối tượng
của dục ái.
Tất cả sắc pháp đều gọi là vô cảnh (anārammaṇaṃ) vì sắc pháp là vô tri,
không biết cảnh.
Tất cả sắc pháp đều gọi là phi ưng trừ (appahātabbaṃ) vì sắc pháp không phải
phiền não, không đáng bị thánh đạo sát trừ.
Thảo luận 1. Tại sao nói “Tất cả cả sắc pháp đều gọi là dục
giới (kāmāvacaraṃ)” vậy sắc thuộc sắc giới (rūpāvacaraṃ) thì
sao?
Thảo luận 2. Có
một số thực vật dường như có “cảm tính” như biết vươn cao
khi chen chúc trong rừng; biết nghiêng theo thế huyền nhai
khi gần dòng nước; virus biết thích nghi và biến thể theo
vaccine; hay thậm chí phản ứng theo âm nhạc, thổ nhưỡng …
thì có nên nói sắc pháp hoàn toàn vô tri?
B. Sắc pháp hai loại (Ekavidhaṃ)
· Sắc pháp hai loại thứ nhất
là sắc nội phần (ajjhattikarūpaṃ) và sắc ngoại phần (bāhirarūpaṃ).
1. Sắc nội phần là sắc cơ quan
bắt cảnh, gồm 5 sắc thanh triệt hay thần kinh.
2. Sắc ngoại phần là sắc
không phải cơ quan bắt cảnh, gồm 23 sắc ngoài 5 sắc thần
kinh.
·
Sắc pháp hai loại thứ hai là sắc vật (vatthurūpaṃ) và sắc phi vật (avatthurūpaṃ).
1. Sắc vật là sắc làm trú căn của tâm và tâm sở, có 6 sắc
là 5 sắc thần kinh và sắc ý vật.
2. Sắc
phi
vật là sắc không phải trú căn của tâm pháp, gồm 22 sắc ngoài
ra 6 vật.
·
Sắc pháp hai loại thứ ba là sắc môn (dvārarūpaṃ) và sắc phi môn (advārarūpaṃ).
1. Sắc môn là sắc như cửa ngõ cho tâm nương sanh và nghiệp tác
thành. Gồm 7 thứ sắc là 5 sắc thần kinh (cửa sanh lộ tâm ngũ
môn), 2 sắc biểu tri (cửa sanh thân nghiệp và khẩu nghiệp).
2. Sắc phi môn là sắc pháp không thành cửa ngõ cho tâm
sanh và nghiệp sanh. Gồm 21 sắc ngoài 7 sắc môn.
·
Sắc pháp hai loại thứ tư là sắc quyền (indriyarūpaṃ) và sắc phi quyền
(anindriyarūpaṃ).
1. Sắc quyền là sắc cai quản sự thấy, sự nghe …v.v…
có 8 thứ sắc là 5 sắc thần kinh, 2 sắc tính, 1 sắc mạng.
2. Sắc phi quyền là sắc không có chức năng cai quản. Gồm
20 sắc ngoài 8 sắc quyền.
·
Sắc pháp hai loại thứ năm là sắc thô (oḷārikarūpaṃ) và sắc tế (sukhumarūpaṃ).
1. Sắc thô là sắc hiện bày rõ. Gồm 12 thứ sắc là 5 sắc
thần kinh và 7 sắc cảnh giới (sắc, thinh, khí, vị, xúc
đất_lửa_gió).
2. Sắc tế là sắc không hiện bày rõ. Gồm 16 thứ sắc ngoài
12 sắc thô.
·
Sắc pháp hai loại thứ sáu là sắc cận (santike
rūpaṃ) và sắc viễn (dūre rūpaṃ)
1. Sắc cận là sắc gần, dễ biết. Chính là 12 sắc thô.
2. Sắc viễn là sắc xa, khó biết. Chính là 16 sắc tế.
·
Sắc pháp hai loại thứ bảy là sắc hữu đối chiếu (sappaṭigharūpaṃ) và sắc vô đối chiếu
(appaṭigharūpaṃ).
1. Sắc hữu đối chiếu là sắc đối chiếu nhau như thần kinh nhãn
đối chiếu cảnh sắc …v.v… Chính là 12 sắc thô (5 sắc
thần kinh và 7 sắc cảnh giới).
2. Sắc vô đối chiếu là sắc không đối chiếu với nhau. Chính
là 16 sắc tế.
·
Sắc pháp hai loại thứ tám là sắc thủ (upādinnarūpaṃ) và sắc phi thủ (anupādinnarūpaṃ).
1. Sắc thủ là sắc được nghiệp thủ tạo thành, tức là sắc sanh từ
nghiệp bất thiện và thiện hiệp thế. Gồm 18 thứ sắc nghiệp (8
sắc bất ly, 5 sắc thần kinh, 2 sắc tính, sắc ý vật, sắc mạng
quyền, sắc giao giới).
2. Sắc phi thủ là sắc không do nghiệp thủ tạo thành, tức
là sắc tâm, sắc quí tiết và sắc vật thực tạo.
·
Sắc pháp hai loại thứ chín là sắc hữu kiến (sanidassanarūpaṃ) và sắc vô kiến
(anidassanarūpaṃ).
1. Sắc hữu kiến là sắc thấy được bằng mắt, đó là sắc cảnh sắc hay
sắc xứ (rūpāyatanaṃ).
2. Sắc vô kiến là sắc không thấy được bằng mắt. Gồm 27 sắc ngoài
cảnh sắc.
·
Sắc pháp hai loại thứ mười là sắc bắt cảnh (gocaraggāhakarūpaṃ) và sắc không bắt cảnh
(agocaraggāhakarūpaṃ).
1. Sắc bắt cảnh là sắc có vai trò thu bắt cảnh ngũ (sắc, thinh
…v.v…). Đây là 5 sắc thần kinh. Nhưng thần kinh nhãn
sắc thần kinh nhĩ là sắc bắt cảnh không chạm (asampattavasena); Còn 3 sắc thần kinh tỷ,
thần kinh thiệt và thần kinh thân là những sắc bắt cảnh có
chạm (sampattavasena).
2. Sắc không bắt cảnh là sắc không có chức năng thu bắt
cảnh ngũ. Đây là 23 sắc ngoài ra 5 thần kinh.
·
Sắc pháp hai loại thứ mười một là sắc bất ly
(avinibbhogarūpaṃ) và sắc khả ly
(vinibbhogarūpaṃ).
1. Sắc bất ly là sắc sanh chung nhau, không thể tách rời nhau.
Có 8 thứ sắc bất ly là màu, mùi, vị, dưỡng tố và 4 sắc đại
hiển.
2. Sắc khả ly là sắc sanh riêng lẻ, có thể tách rời nhau.
Ngoài 8 sắc bất ly, 20 sắc còn lại gọi là sắc khả ly.
Thảo luận 3. Theo Thắng Pháp thì phải chăng có những thứ vật
chất sanh khởi và tồn tại hoàn toàn độc lập với nghiệp chúng
sanh hay không liên hệ gì tới tâm thức (như quan niệm nhất
thế pháp duy tâm tạo)?
Thảo luận 4. Ngày nay hình ảnh và âm thanh được số hoá và
gởi đi rất xa để được nhận biết (như sinh hoạt trong paltalk
chẳng hạn). Hiện tượng âm thanh và hình ảnh nầy có thể hiểu
giống như cảnh sắc, cảnh thinh trong Thắng Pháp truyền thống
chăng? Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Tuệ Siêu @@@@@I. Giới thiệu về tính năng mới của Room Level DELUXE - Hi-Fi Audio & Multichannel (Up to 3 Speakers at once)
-
Hi-Fi là
từ viết tắt của “high fidelity”, có nghĩa là độ chân
thực cao. Khi nói “âm thanh Hi-Fi” tức
là âm thanh có độ chân thực cao, sống động, không bị méo âm
hoặc bị lẫn tạp âm và gần như không có gì khác so với âm
thanh gốc.
-
Multichannel (cho phép người dùng có thể kết nối nhiều kênh âm thanh
cùng lúc ‘Room Level DELUXE cho phép sử dụng 3 kênh âm
thanh cùng lúc’
Minh hoạ về Multichannel
II.Quy tắc chung khi sử dụng Multichannel:
-
TT Giác Đẳng
với vai trò điều hợp sẽ bật micro để điều hợp thảo luận và TT Tuệ Siêu – TT
Tuệ Quyền – TT Pháp Tân – TT Pháp Đăng – Sư Nguyên Thông sẽ
đảm trách vai trò là người trả lời và chư vị khi được thỉnh
mời thì trực tiếp bật micro để người điều hợp biết là mình
có thể tham gia mà không cần phải gửi text trên Room. Khi
câu thảo luận được nêu ra hoàn tất thì chư vị có thể bắt đầu
trả lời luôn mà không cần phải chờ đợi như trước.
(Những ngày qua TT Tuệ Siêu đã sử dụng rất quen thuộc
tính năng nầy).
-
Các MC có
thể cầm micro liên tục khi dẫn chương trình cho đến khi đọc
nội dung bài học mà không cần phải tắt micro.
-
Ví dụ: TT
Tuệ Siêu là vị dẫn nhập cho chương trình mỗi ngày và với
Multichannel thì khi nghe lời thỉnh mời TT Tuệ Siêu sẽ chủ
động bật micro mà không cần chờ MC
‘hỏi Ngài có nghe âm thanh rõ không
or phải cho biết tín hiệu’.
-
Các MC là
“admin @ (A)” hoan hỷ lưu ý vì có thể cầm 3 micro cùng lúc
nên phải để ý những người tham gia nếu thấy có tín hiệu cầm
micro thì dùng chức năng (hạn chế
or bỏ qua thành viên). |