|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 01 tháng 10, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG IX. TƯƠNG ƯNG RỪNG (S. i, 202).
Bài
12. Kinh Giữa Trưa (Majjhanhikasuttaṃ)
-CÔ LIÊU HAY TỊCH LẶNG?.
Sự im lặng
thường là quan ải của cuộc sống. Người ta thường có cái nhìn
rất khác biệt đối với cô tịch: đằng sau đó có thể trống vắng
mênh mông đáng sợ mà cũng có thể là cảnh giới của an nhiên
bất động. Cảnh tượng thâm u lặng tiếng của rừng già nhiệt
đới vào buổi trưa tạo nên sự trầm lắng đến rợn người. Đối
với người tu thiền thì đó là bối cảnh thích hợp để nhất
hướng nội tại. Cuộc sống thường được hiểu là sự tương tác
sinh động giữa tâm thức và ngoại cảnh. An hưởng sự tịch lặng
không phải là điều thường tìm thấy đối với phần đông chúng
sanh.
Ekaṃ samayaṃ aññataro bhikkhu kosalesu viharati aññatarasmiṃ
vanasaṇḍe. Atha kho tasmiṃ vanasaṇḍe adhivatthā devatā yena
so bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā tassa bhikkhuno
santike imaṃ gāthaṃ abhāsi
Một thuở có vị tỳ khưu trú tại một khu rừng trong xứ Kosala.
Bấy giờ một vị thiên trong khu rừng đi đến vị tỳ khưu nói
lên kệ ngôn:
‘‘Ṭhite majjhanhike kāle, sannisīvesu pakkhisu; Chim muông đều thinh lặng Âm ngân của đại ngàn Bất chợt lòng hốt hoảng
(Vị tỳ khưu):
‘‘Ṭhite majjhanhike kāle, sannisīvesu pakkhisu; Chim muông đều thinh lặng Âm ngân của đại ngàn Cõi lòng nghe hân hoan
sannisīvesu pakkhisu = chim muông đều im lặng Saṇateva brahāraññaṃ = rừng già với tiếng thâm u taṃ bhayaṃ paṭibhāti maṃ = nỗi sợ hãi chợt đến sā rati paṭibhāti ma’’nti = niềm hân hoan hiện rõ
Bài kinh nầy có nội dung trùng với Kinh Tiếng Động Rừng Sâu
(Saṇamānasuttaṃ) CHƯƠNG 1. TƯƠNG ƯNG CHƯ THIÊN, PHẨM VƯỜN
HOAN HỶ (S.i,7) Theo bản Sớ Giải của
Kinh Saṇamānasuttaṃ thì trong sự tịch lặng của rừng
sâu giữa trưa, vị thiên cảm thấy cô quạnh muốn có người đàm
luận. Kệ ngôn của vị thiên chỉ là cách gợi chuyện. Lời đáp
của vị tỳ khưu phát xuất từ tâm hân hoan khi thiền định giữa
sự yên ả của núi rừng sau khi đi khất thực và thọ trai. Chữ sannisīvesu không tìm thấy bất cứ nơi nào khác trong kinh
điển. Theo bản sớ giải của Kinh Saṇamānasuttaṃ
thì chữ sannisīvesu có nghĩa là sannisinnesu là sự im
lặng. Bản hậu sớ giải thì nói thêm là do sự nóng bức giữa
trưa nên muông thú mệt mỏi im lặng (parissamavinodanatthaṃ
sabbaso sannisīdantesu; kārassa hi va kāraṃ katvā
niddeso) Chữ sanạteva có nhiều cách giải thích phức tạp.
Theo Sớ Giải thì sanạteva hợp thể các chữ
sanạ+te+iva với lời giải thích là “khi tạo ra một âm thanh
thì vang xa” (sanạti viya mahāviravaṃ viya muccati). Hậu
sớ giải thì cho là “sanạte va” có nghĩa là âm thanh thâm u
của đại ngàn.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |