|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 04 tháng 10, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG IX. TƯƠNG ƯNG RỪNG (S. i, 203).
Bài
13. Kinh Các Căn Phóng Túng (Pākatindriyasuttaṃ)
-ĐÃ Ở RỪNG KHÔNG NÊN RỪNG RÚ.
Chọn lựa trú xứ ở rừng vắng chỉ thật sự lợi lạc cho đời sa
môn nếu sinh hoạt hằng ngày có sự thúc liễm thân tâm. Trong
ngôn ngữ cô đọng nhất mô tả về sự tu tập đó là phòng hộ các
căn. Không thu thúc sáu căn thì dẫn đến thất niệm, giao
động, và lối sống bất xứng. Thời buổi nào, ngay cả khi Đức
Phật trụ thế, vẫn có nhiều cá nhân trong Tăng chúng sống
buông thả dù đã từ bỏ gia đình ngay cả dù đã chọn lựa nếp
sống ẩn tu trong rừng. Những trồi sụt trong cuộc tu là bản
chất tự nhiên của chúng sanh. Thật may mắn cho những ai có
được sự nhắc nhở, có được bạn lành, và có được sự cảnh tỉnh
trong những lúc cần nhất.
Ekaṃ samayaṃ sambahulā bhikkhū kosalesu viharanti
aññatarasmiṃ vanasaṇḍe uddhatā unnaḷā capalā mukharā
vikiṇṇavācā muṭṭhassatino asampajānā asamāhitā
vibbhantacittā pākatindriyā. Atha kho yā tasmiṃ vanasaṇḍe
adhivatthā devatā tesaṃ bhikkhūnaṃ anukampikā atthakāmā te
bhikkhū saṃvejetukāmā yena te bhikkhū tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā te bhikkhū gāthāhi ajjhabhāsi –
Một thuở có nhiều tỳ khưu
trú tại một khu rừng
trong xứ Kosala. Những
vị nầy phóng túng, kiêu mạn, ồn ào, lắm lời, thất niệm,
không định tĩnh, giao động, không phòng hộ các căn.
Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng trắc ẩn với các vị tỳ khưu,
muốn cảnh tỉnh và mang lại lợi lạc cho chư vị ấy liền đi
đến, nói lên kệ ngôn: Anicchā piṇḍamesanā, anicchā sayanāsanaṃ; Loke aniccataṃ ñatvā, dukkhassantaṃ akaṃsu te. ‘‘Dupposaṃ katvā attānaṃ, gāme gāmaṇikā viya; Bhutvā bhutvā nipajjanti, parāgāresu mucchitā. ‘‘Saṅghassa añjaliṃ katvā, idhekacce vadāmahaṃ; Apaviddhā anāthā te, yathā petā tatheva te. ‘‘Ye kho pamattā viharanti, te me sandhāya bhāsitaṃ; Ye appamattā viharanti, namo tesaṃ karomaha’’nti.
Xưa Tăng Chúng an lạc
Biết thế gian vô thường
Cuộc sống khó cung phụng
Con chỉ nói vài vị
Các tỳ khưu ấy bừng tỉnh khi được vị thiên nhắc nhở.
bhikkhū gotamasāvakā = chư tỳ khưu đệ tử Đức Gotama Anicchā piṇḍamesanā = đi khất thực mà tham cầu anicchā sayanāsanaṃ = sử dụng trú xứ mà không tham cầu Loke aniccataṃ ñatvā =biết được sự vô thường ở thế gian dukkhassantaṃ akaṃsu te = Họ tu đoạn khổ đau ‘‘Dupposaṃ katvā attānaṃ = biến mình thành người khó nuôi gāme gāmaṇikā viya = giống như hương cả trong làng Bhutvā bhutvā nipajjanti = ăn, lại ăn, rồi nằm parāgāresu mucchitā = hành xử vô ý thức ở nhà người khác ‘‘Saṅghassa añjaliṃ katvā = chấp tay đảnh lễ Tăng chúng idhekacce vadāmahaṃ = con chỉ nói một số vị ở đây Apaviddhā anāthā te = những vị không phòng hộ, tự đào thải yathā petā tatheva te = sống như người đã chết ‘‘Ye kho pamattā viharanti = Với những vị sống buông thả te me sandhāya bhāsitaṃ = con muốn nói về những vị ấy Ye appamattā viharanti = đối với những vị sống tinh cần namo tesaṃ karomaha’’nti = con chí thành đảnh lễ
Không phòng hộ các căn là ý chính trong sự mô tả về lối sống
thiếu tu tập của chư vị tỳ khưu. Phòng hộ các căn không chỉ
là sự tu tập mà còn là một trong bốn thanh tịnh giới mà chư
vị xuất gia đệ tử Phật tuân thủ. Mặc dù thu thúc thanh tịnh
giới không đi vào từng chi tiết nhưng một vị tỳ khưu đúng
nghĩa phải hiều sự ứng dụng trong cuộc sống thế nào.
Vị thiên trong bài kinh nầy dù có những lời cảnh tỉnh có
tính cách “trung ngôn nghịch nhĩ” nhưng vẫn giữ sự tôn kính
đối với Tăng bảo nói chung. Đây là cung cách tế nhị mà những
cư sĩ với tinh thần xây dựng nhắc nhở hàng xuất gia khi cần
thiết.
Câu parāgāresu mucchitā -
hành xử vô ý thức ở nhà người khác – ám chỉ khi các vị tỳ
khưu nầy tới nhà những cư sĩ thiếu chánh niệm, quên bản thân
là những sa môn.
Trong một số bài kinh, như bài kinh nầy hay một bài kinh
khác trong Trung Bộ do nhị vị thượng thủ thinh văn thuyết
giảng, thì những vị sống ở rừng không nhất thiết là luôn tốt
đẹp hơn những vị sống trong các tu viện. Không nên lấy hình
thức làm chuẩn mực mà phải xem thực chất thế nào. Trong tâm
ở đây là nếp sinh hoạt có ý thức phòng hộ các căn.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |