|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 05 tháng 10, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG IX. TƯƠNG ƯNG RỪNG (S. i, 204).
Bài
14. Kinh Kẻ Trộm Mùi Hương (Gandhatthenasuttaṃ)
-ĐỐI TRỊ TẤT ĐÀN.
Trên lý thuyết
và quan niệm thông thường có những sự việc mới nghe như cỏn
con, không có gì quan trọng. Tuy vậy trong thực tế ứng dụng
thì có những điểm nhỏ mà không nhỏ. Không phải vì cố tình
“chuyện bé xé to” mà vì sự cải thiện rất cần thiết trong quá
trình trị liệu hoặc giáo dục. Phương cách nầy là cách chỉnh
sửa tương thích mà cổ nhân gọi là đối trị tất đàn. Gọi một
người ngửi hương sen trong hồ là kẻ trộm hương là điều dường
như quá đáng. Xem một việc kém tao nhã là lỗi lớn thì có vẻ
khó tính. Được thỉnh cầu nhắc nhở thì thẳng thừng từ chối
xem ra chẳng chút nể tình. Phải đọc kỹ toàn bộ câu chuyện vì
sao người cảnh tỉnh có những lời “nặng tay” như vậy mới hiểu
được đằng sau đó là một tấm lòng. Sự chuyển hoá bằng giáo
dục đòi hỏi cảm nhận tinh tế cả đôi bên người xây dựng và
người thụ huấn.
Ekaṃ samayaṃ aññataro bhikkhu kosalesu viharati aññatarasmiṃ
vanasaṇḍe. Tena kho pana samayena so bhikkhu pacchābhattaṃ
piṇḍapātapaṭikkanto pokkharaṇiṃ ogāhetvā padumaṃ
upasiṅghati. Atha kho yā tasmiṃ vanasaṇḍe adhivatthā devatā
tassa bhikkhuno anukampikā atthakāmā taṃ bhikkhuṃ
saṃvejetukāmā yena so bhikkhu tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā
taṃ bhikkhuṃ gāthāya ajjhabhāsi –
Một thuở có vị tỳ khưu
trú tại một khu rừng
trong xứ Kosala. Bấy giờ vị tỳ khưu sau khi khất thực
và thọ trai xuống một hồ nước và ngửi hương thơm đoá sen
hồng.
Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng trắc ẩn với vị tỳ khưu, muốn
cảnh tỉnh và mang lại lợi lạc cho chư vị ấy liền đi đến, nói
lên kệ ngôn:
‘‘Yametaṃ vārijaṃ pupphaṃ, adinnaṃ upasiṅghasi; Vốn không được tặng biếu Là chi phần trộm đạo Ngài là kẻ trộm hương
(Vị tỳ khưu): Atha kena nu vaṇṇena, gandhatthenoti vuccati. ‘‘Yvāyaṃ bhisāni khanati, puṇḍarīkāni bhañjati; Evaṃ ākiṇṇakammanto, kasmā eso na vuccatī’’ti.
Không lấy, không phá hại
Có người đào củ sen
(Vị Thiên): Tasmiṃ me vacanaṃ natthi, tvañcārahāmi vattave. ‘‘Anaṅgaṇassa posassa, niccaṃ sucigavesino; Vālaggamattaṃ pāpassa, abbhāmattaṃva khāyatī’’ti.
Với những người thô thiển
Với một người thanh cao
(Vị tỳ khưu):
‘‘Addhā maṃ yakkha jānāsi, atho me anukampasi; Lân mẫn đối với tôi Xin chỉ dạy thêm nữa Khi thấy điều như vậy
(Vị Thiên):
‘‘Neva taṃ upajīvāma, napi te bhatakāmhase; Không là người phục dịch Tỳ khưu, nên tự biết Đâu là đường tịnh lạc
Atha kho so bhikkhu tāya devatāya saṃvejito saṃvegamāpādīti.
Vị tỳ khưu ấy bừng tỉnh khi được vị thiên nhắc nhở.
Ekaṅgametaṃ theyyānaṃ = đây là chi phần của sự trộm cắp gandhatthenosi mārisā’’ti = Ngài là người trộm mùi hương, thưa Hiền giả ‘‘Na harāmi na bhañjāmi = tôi không lấy, cũng không gây tổn hại ārā siṅghāmi vārijaṃ = tôi ngửi hoa sen từ xa Atha kena nu vaṇṇena gandhatthenoti vuccati = cớ gì người gọi tôi là kẻ trộm mùi hương? ‘‘Yvāyaṃ bhisāni khanati = người đào củ sen puṇḍarīkāni bhañjati = người huỷ hoại hoa sen Evaṃ ākiṇṇakammanto = những hành động thô thiển như vậy kasmā eso na vuccatī’’ti = sao không nói với người ấy? ‘‘Ākiṇṇaluddo puriso = đối với người hung dữ võ biền dhāticelaṃva makkhito = nhơ nhuốc như vải lau dùng bởi người điều dưỡng Tasmiṃ me vacanaṃ natthi = tôi không có gì để nói với người ấy tvañcārahāmi vattave = nhưng chính là Ngài thì tôi nên nói ‘‘Anaṅgaṇassa posassa = với người vốn thanh cao niccaṃ sucigavesino = luôn tầm cầu thanh tịnh Vālaggamattaṃ pāpassa = dù điều sai quấy chỉ bằng cọng tóc abbhāmattaṃva khāyatī’’ti = thì cũng lớn tựa như đám mây ‘‘Addhā maṃ yakkha jānāsi = Hỡi Dạ xoa, người quả thật hiểu tôi atho me anukampasi = và có lòng lân mẫn với tôi Punapi yakkha vajjāsi = Hỡi thiên thần hãy chỉ dạy nữa yadā passasi edisa’’nti = khi người thấy những sở hành như vậy ‘‘Neva taṃ upajīvāma = chúng tôi không sống nhờ Ngài napi te bhatakāmhase = cũng không phải người phục dịch của Ngài Tvameva bhikkhu jāneyya = Hỡi tỳ khưu, ngài nên tự biết yena gaccheyya suggati’’nti = con đường nào đến cảnh giới an lạc
Theo Sớ Giải thì vị thiên nữ trong kinh nầy biết được vị tỳ
khưu đã học thiền án từ Đức Phật sau đó vào rừng để dốc lòng
tu tập. Khi thấy vị tỳ khưu ngửi mùi hương của hoa sen thì
thiên nữ lo là vị nầy nhiễm trần cảnh không thích hợp cho sự
tu tập nên hiện ra nhắc nhở. Theo Sớ Giải thì khi vị tỳ khưu cảm kích lời cảnh tỉnh của
thiên nữ thì vị nầy khởi lên sự mong mỏi sẽ được nhắc nhở
như vậy trong tương lai. Thiên nữ nghĩ rằng điều nầy có thể
khiến vị tỳ khưu ỷ lại nên từ chối. Có câu chuyện trong Kinh Bổn Sanh số 392 (III 307-10) với nội
dung tương tự với bài kinh nầy mà vị tỳ khưu trong câu
chuyện là tiền thân của Đức Phật. Chữ yakkha thường được âm là dạ xoa và cũng thường được hiểu
là quỹ dữ (và lại xấu xí). Thật ra trong Phạm ngữ từ vựng
nầy chỉ cho những loài hoá sanh có uy lực kể cả thiên chủ Đế
Thích. Nên trong bản dịch dùng chữ “thiên thần” Hai từ vựng ākiṇṇakammanto, ākiṇṇaluddo hơi khó dịch trong ngữ
cảnh của bài kinh. Sớ giải định nghĩa hai từ nầy
aparisuddhakammanto – không cao khiết – và kakkhalạkammanto
- thiếu tao nhã. Bản dịch nầy chọn chữ “thô thiển” có ý
không phải là điều ác xấu nhưng là điều mà một tao nhân mặc
khách luôn tránh.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |