|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Sáu, ngày 07, tháng 10, 2022 MÔN HỌC THẮNG PHÁP PHỔ THÔNGTHẮNG PHÁP TẬP YẾU (ABHIDHAMMA SANGAHA)
33. Ekuppāda-nirodhā ca
ekālambana-vatthukā
The fifty-two states associated with consciousness,
which arise and cease together (with consciousness) and which have the same object
and base (as consciousness), are known as “mental factors” (cetasika).
52 trạng thái tương hợp với tâm là những pháp đồng
sanh đồng diệt, đồng cảnh đồng căn được gọi là thuộc tánh. ekālambana-vatthukā = đồng cảnh đồng căn Cetoyuttā = tương ưng với tâm dvipaññāsa dhammā = 52 pháp cetasikā = thuộc tánh của tâm, tâm sở matā = hiểu, biết, thấy
Chú thích
Theo Thắng Pháp Abhidhamma, có thể
nói là kể cả toàn bộ Phật Pháp, tất cả hiện tượng của pháp
hữu vi dù là đơn vị cực vi như mỗi sát na tâm pháp hay sắc
pháp đều là sự kết cấu của nhiều thành tố. Trong trường hợp
tâm thức thì sự kế cấu nầy đôi khi rất khó hiểu mặc dù hoàn
toàn tương hợp với những gì khoa học trình bày ngày nay.
Giáo trình nầy gọi là thuộc tánh
của tâm để chỉ cho những thành tố có mặt trong mỗi sát na
tâm tạo nên tính cách đặc thù. Những thành tố nầy dễ bị hiểu lầm
như là thứ tâm riêng biệt như tham, sân, tín, niệm, tàm,
quý…Trong Phật học thuộc hệ Hán ngữ citta được dịch là “tâm
vương” trong lúc cetasika được dịch là
“tâm sở” được hiểu như một triều đình mà trong đó vua
là chủ vị và các cận thần là phụ thuộc. Ý nghĩa nầy giống
với hệ Pàli nhưng ở đây không dùng vì người ta có thể hiểu
tâm vương, tâm sở là hai thứ tâm. Ngài Tịnh Sự dịch cetasika
là sở hữu tâm cũng mang ý nghĩa là thuộc tánh của tâm nhưng
trong tiếng Việt ngày nay sở hữu thường được hiểu là “làm
chủ” cái gì đó nên trong giáo trình nầy chọn chữ thuộc tánh.
Trong cách định nghĩa thuộc tánh
thì Thắng Pháp nêu những đặc điểm: đồng sanh, đồng diệt,
đồng nương một căn, đồng biết một cảnh.
Điều nầy có nghĩa là tâm và thuộc tánh đồng hiện hữu
trong mỗi sát na. Nói cách khác tất cả tâm đều có bốn danh
uẩn là thọ, tưởng, hành, thức (thức uẩn là tâm; thọ, tưởng,
hành là thuộc tánh). Điểm thú vị là trong một cái biết có
nhiều cái biết cùng lúc như cái biết của thức, cái biết của
tưởng, cái biết của trí tuy đặc tính có khác lại có thể đồng
sanh trong một sát na nhận thức.
Có tất cả là 52 thuộc tánh của
tâm được chia thành ba nhóm. Nhóm đầu là nhóm tợ tha, với đặc tính là khi đi với tâm
thiện thì là thiện; đi với bất thiện trở thành bất thiện.
Nhóm thứ hai là nhóm bất thiện chỉ có trong những tâm bất
thiện. Nhóm thứ ba là nhóm tịnh hảo chỉ có trong những thứ
tâm tốt đẹp.
Sự gặp gỡ và phân ngã rẽ giữa
Kinh Tạng và Thắng Pháp Tạng.
Nói về tâm (citta) và những thuộc tánh (cetasika) không
phải chỉ có trong Thắng Pháp Tạng mà Kinh Tạng cũng đề cập
rất nhiều. Trong ngũ uẩn, thức uẩn là tâm còn thọ uẩn, tưởng
uẩn, hành uẩn là những thuộc tánh (cetasika). Điểm nầy rất
cần lưu ý vì nhiều người quan niệm rằng Thắng Pháp dạy những
gì rất xa lạ so với Kinh Tạng. Nói như vậy không có nghĩa là
hoàn toàn giống nhau. Đọc Kinh Tạng thường người ta có cảm
tưởng thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn sanh khởi và
tồn tại độc lập trong lúc Thắng Pháp dạy tâm và các thuộc
tánh đồng sanh, đồng điệt, đồng nương một căn, đồng biết một
cảnh. Hoàn toàn không có sự mâu thuẩn chỉ do hai cách trình
bày nên có có khác biệt.
Hai cách nói vĩ mô (micro) và quy
mô (macro) cần được nhận rõ ở đây.
Như đã nói trong Phật Pháp dù là
Kinh Tạng hay Thắng Pháp Tạng có sự khác biệt giữa cách nói
đại loại hay quy mô (macro) và vĩ mô (micro). Theo cách nói
đại loại thì núi non thuộc địa đại, sông hồ thuộc thuỷ đại…
nhưng trong cách nói vĩ mô thì một hạt vi trần có đủ bốn
đại. Sẽ rất khó hiểu nếu cố gắng tưởng tượng tại sao trong
một sát na mà có những thành tố như xúc, thọ, tưởng, tư...
Pháp sư Giác Chánh dùng thí dụ như một chút nước canh trên
đầu đủa vẫn chứa đủ những hợp chất của nồi canh. Người học
cần dùng nhiều thí dụ để hiểu điều nầy. Theo cách nói vĩ mô
thì những ý nghĩa tín, niệm, tàm, quý… có mặt trong tất cả
tâm tịnh hảo và không nên hiểu những điều đó như cách hiểu
bình thường.
Những khái niệm tốt xấu, thiện ác
cần được hiểu một cách khác hơn thường thức.
Thắng Pháp dùng chữ tịnh hảo –
sobhana - chỉ cho cái đẹp. Tất cả tâm thiện đều là tịnh hảo
nhưng tịnh hảo không nhất thiết là tâm thiện. Thiện
ác theo thường thức, đặc biệt là tôn giáo, có những điểm
khác với Thắng Pháp khi nói về các thuộc tánh. Ăn năn hối
hận sau khi làm điều ác được xem là thiện chí nhưng hối quá
là thuộc tánh bất thiện. Có những thứ là trung tánh nhưng
khi tu luyện trở thành chi thiền nhưng tầm, tứ, hỷ, lạc,
định. Nên “học với tâm thái hồn nhiên” hơn là đem những định
kiến khi đào sâu vào các thuộc tánh.
Sự phân nhóm những thuộc tánh cho
chúng ta biết nhiều những khía cạnh của tâm lý.
Có thể nói một trong những lợi ích
lớn nhất của việc học Thắng Pháp là tính cách phân nhóm của
các thuộc tánh. Thí dụ thuộc tánh tà kiến thuộc tham phần
(thông thường người ta có thể hiểu tà kiến là si mê) hay
thuộc tánh tư (cetana) có mặt trong tất cả tâm. Hiểu rõ
những điều nầy cho chúng ta cái nhìn tinh tế hơn khi học
Kinh Tạng hay Phật Pháp nói chung.
Sự kết hợp giữa tâm và các thuộc
tánh cho chúng ta biết nhiều điểm tế nhị về tâm thức.Một điểm khác rất thú vị và lợi ích
khi học về các thuộc tánh của tâm là sự kết hợp giữa tâm và
thuộc tánh. Như trường hợp tại sao thuộc tánh si có mặt
trong tất cả tâm bất thiện. Hoặc có những thuộc tánh cùng là
“trung tánh” nhưng chia ra hai nhóm “biến hành” và “biệt
cảnh”. Những tương hợp tạo nên những khía cạnh sống động khi
nói về tâm thức.
Những từ vựng trong phần nầy phải
được hiểu là “thuật ngữ” hay danh từ chuyên môn. Thắng Pháp có cả “rừng thuật ngữ”
Điều nầy tự nhiên bắt buộc phải xài nhiều từ Hán Việt. Vấn
đề là trong chữ Hán có cách hiểu khác biệt giữa từ vựng cổ
văn và kim văn. Lấy thí dụ chữ tác ý có thể hiểu là chủ tâm
tạo tác mà cũng có ý nghĩa là tập chú (focus). Ý nghĩa đầu
có thể dùng để dịch chữ cetanà (tác ý tạo nghiệp),
ý nghĩa sau có thể dùng để dịch chữ manasikàra hay
tập chú đối với cảnh như khi nói về thuộc tánh biến hành.
Một thí dụ khác là chữ phóng dật. Phóng dật có thể hiểu là
sự buông thả, giãi đãi mà cũng có nghĩa là giao động. Hai
nhà dịch thuật tinh thông Hán Việt là HT Thích Minh Châu và
HT Tịnh Sự đôi khi có sự trái ngược trong cách dịch do vấn
đề nầy.
Tỳ kheo Giác Đẳng I. Giới thiệu về tính năng mới của Room Level DELUXE - Hi-Fi Audio & Multichannel (Up to 3 Speakers at once)
-
Hi-Fi là
từ viết tắt của “high fidelity”, có nghĩa là độ chân
thực cao. Khi nói “âm thanh Hi-Fi” tức
là âm thanh có độ chân thực cao, sống động, không bị méo âm
hoặc bị lẫn tạp âm và gần như không có gì khác so với âm
thanh gốc.
-
Multichannel (cho phép người dùng có thể kết nối nhiều kênh âm thanh
cùng lúc ‘Room Level DELUXE cho phép sử dụng 3 kênh âm
thanh cùng lúc’
Minh hoạ về Multichannel
II.Quy tắc chung khi sử dụng Multichannel:
-
TT Giác Đẳng
với vai trò điều hợp sẽ bật micro để điều hợp thảo luận và TT Tuệ Siêu – TT
Tuệ Quyền – TT Pháp Tân – TT Pháp Đăng – Sư Nguyên Thông sẽ
đảm trách vai trò là người trả lời và chư vị khi được thỉnh
mời thì trực tiếp bật micro để người điều hợp biết là mình
có thể tham gia mà không cần phải gửi text trên Room. Khi
câu thảo luận được nêu ra hoàn tất thì chư vị có thể bắt đầu
trả lời luôn mà không cần phải chờ đợi như trước.
(Những ngày qua TT Tuệ Siêu đã sử dụng rất quen thuộc
tính năng nầy).
-
Các MC có
thể cầm micro liên tục khi dẫn chương trình cho đến khi đọc
nội dung bài học mà không cần phải tắt micro.
-
Ví dụ: TT
Tuệ Siêu là vị dẫn nhập cho chương trình mỗi ngày và với
Multichannel thì khi nghe lời thỉnh mời TT Tuệ Siêu sẽ chủ
động bật micro mà không cần chờ MC
‘hỏi Ngài có nghe âm thanh rõ không
or phải cho biết tín hiệu’.
-
Các MC là
“admin @ (A)” hoan hỷ lưu ý vì có thể cầm 3 micro cùng lúc
nên phải để ý những người tham gia nếu thấy có tín hiệu cầm
micro thì dùng chức năng (hạn chế
or bỏ qua thành viên). |