|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 08 tháng 10, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG X. TƯƠNG ƯNG DẠ XOA (S. i, 206).
Bài
1.Kinh Indaka (Indakasuttaṃ)
-SỰ SỐNG LÀ DÒNG LUÂN CHUYỂN.
Những khái niệm
về ngã, linh hồn, sự sống, sinh mạng thường có những chồng
lấn gây tranh luận. Người ta nghĩ rằng chính sắc thân là
sanh mạng - cũng
là bản ngã -. Vấn đề là nếu nói vậy trong giai đoạn nào đó
của thai bào khi thân thể chưa hình thành đầy đủ thì có ngã
hay không có ngã? Có sinh mạng hay không có sinh mạng? Chư
Phật dạy về duyên sinh: sự hiện hữu của mỗi chúng sanh là
dòng luân chuyển đổi thay trong nhiều dạng thức khác nhau.
Không nên nới một mắt xích nào trong dòng sanh diệt đó đich
thực là sanh mạng hay bản ngã.
Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati
indakūṭe pabbate, indakassa yakkhassa bhavane. Atha kho
indako yakkho yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā
bhagavantaṃ gāthāya ajjhabhāsi –
Một thuở Đức Thế Tôn ngự trên đỉnh núi Indakūṭa, Rājagaha
(Vương Xá).
Lúc ấy dạ xoa Indaka đi đến Đức Thế Tôn và nói lên kệ
ngôn.
‘‘Rūpaṃ na jīvanti vadanti buddhā, kathaṃ nvayaṃ vindatimaṃ
sarīraṃ; Sắc không là sinh mạng Từ đâu có thân nầy? Từ đâu xương, gan..? Làm thế nào sinh mạng Gắn kết với bào thai?
(Thế Tôn): Abbudā jāyate pesi, pesi nibbattatī ghano; Ghanā pasākhā jāyanti, kesā lomā nakhāpi ca. ‘‘Yañcassa bhuñjatī mātā, annaṃ pānañca bhojanaṃ; Tena so tattha yāpeti, mātukucchigato naro’’ti.
Đầu tiên kalala
Tóc, lông, móng hình thành
kathaṃ nvayaṃ vindatimaṃ sarīraṃ = vậy làm thế nào một người có được thân nầy? Kutassa aṭṭhīyakapiṇḍameti = từ đâu mà có xương, gan..? kathaṃ nvayaṃ sajjati gabbharasmi’’nti = Làm sao sự sống gắn kết vào thai bào? ‘‘Paṭhamaṃ kalalaṃ hoti =Trước hết là kalala kalalā hoti abbudaṃ = từ kalala thành abbuda Abbudā jāyate pesi = abbuda tạo thành pesī pesi nibbattatī ghano = từ pesī sanh ghana Ghanā pasākhā jāyanti = ghana hình thành tay chân kesā lomā nakhāpi ca = tóc, lông, móng ‘‘Yañcassa bhuñjatī mātā = những thực phẩm nào người mẹ ăn annaṃ pānañca bhojanaṃ = thức ăn, thức uống nào người mẹ dùng Tena so tattha yāpeti = từ những thứ nầy được nuôi dưỡng mātukucchigato naro’’ti = người trong thai bào của mẹ
Yakkha - thường âm là dạ xoa – có nhiều cách dùng trong Phạm
ngữ. Riêng trong chương nầy chỉ cho một loại phi nhân có
nhiều thần lực sống trên trái đất. Dạ
xoa Indaka sống trên đỉnh Inda. Đôi khi dạ xoa được gọi theo
tên của nơi cư trú mà có khi nơi cư trú gọi theo tên dạ xoa.
Rājagaha (Vương Xá)
chỉ cho một thung lũng bao bọc bởi rặng núi tạo nên pháo đài
thiên nhiên. Tại địa phận nầy có thành Rājagaha (Vương Xá)
với hào lũy xây dựng trong đó có hoàng cung. Chùa Trúc Lâm
(Veluvana) ở Vương Xá nhưng không nằm bên trong thành Vương
Xá.
Theo Sớ Giải thì dạ xoa nầy trong kiếp trước mang kiến chấp
nhân ngã luận (puggalavādī)
mà trong đó có quan niệm rằng ngay thời điểm thụ thai
thì con người đã hình thành đầy đủ dù trong dạng rất nhỏ bé
(ekappahāren’eva satto mātukucchismiṃ nibbattati).
Đức Phật dạy đó là
một quá trình hình thành theo thời gian. Người theo kiến
chấp nhân ngã luận cho rằng sắc thân chính là sinh mạng –
hay bản ngã –
(tương tự như tranh luận ngày nay về thời điểm nào
phá thai không phải là sát nhân)
Những từ vựng Phạm ngữ trong câu trả lời của Đức Phật chỉ
cho nhiều giai đoạn của thai bào. Kalala thuộc thời điểm thụ
thai rất nhỏ bé “như chút dầu còn lại trên đầu lông nhím sau
khi đã rảy bảy lần”; abbuda là một tuần sau khi thụ thai là
chất loãng có chút màu máu; sau abbuda một tuần là pesī có
màu hồng nhạt; sau pesī một tuần gọi là ghana có hình như
dạng một quả trứng gà; sau ghana là thời kỳ hình thành tứ
chi. Nhiều tháng sau đó hình thành tóc, lông, móng..
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |