|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Chủ Nhật, 09 tháng 10, 2022 MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ V. PHẨM NGƯỜI NGU (Bālavagga)_Kệ số 12 (dhp 71)
Duyên sự:
Bài kệ nầy đức Phật thuyết khi Ngài trú tại Veḷuvana
gần
thành
Rājagaha,
nhân Tôn giả Mahāmoggallāna
thuật lại ngạ quỉ rắn mà tôn giả đã thấy.
Tôn giả Mahāmoggallāna
và tôn giả Lakkhaṇa
cùng
nhau từ núi Gijjakūṭa
xuống
khất thực trong thành Rājagaha.
Trong khi đang
trên núi đi xuống, tôn giả Mahāmoggallāna
với thiên nhãn đã nhìn thấy một ngạ quỉ có hình thù như con
rắn, tôn giả mỉm cười? Thấy thế tôn giả Lakkhaṇa
hỏi ngài do nhân gì mỉm cười? tôn giả Mahāmoggallāna
trả lời rằng khi nào trước mặt đức Thế Tôn, sẽ nói.
Hai vị tôn giả sau khi vào thành Rājagaha
khất
thực xong trở ra ghé qua chùa Veḷuvana
đảnh
lễ đức Thế Tôn.
Ngồi xuống một bên, trước mặt Thế Tôn, tôn giả Lakkhaṇa
nhắc lại tôn giả Mahāmoggallāna
nguyên do mỉm cười khi từ trên núi đi xuống.
Tôn giả nói, lúc ấy tôi nhìn thấy một ngạ quỉ mình rắn đang
di chuyển với lửa cháy từ đầu tới đuôi. Nghe vậy đức Thế Tôn
bảo Ngài đã thấy ngạ quỉ ấy từ lâu rồi nhưng không nói ra vì
không có người thứ hai chứng kiến, nay đã có Mahāmoggallāna
thấy rồi, ta sẽ giải thích tiền nghiệp của
ngạ quỉ rắn ấy cho chúng tỳ kheo nghe.
Thuở quá khứ nhằm thời không có Phật toàn giác, chỉ có chư
Phật Độc Giác. Có một vị Độc Giác thường vào làng khất thực,
dân làng rủ nhau dựng lên ngôi thảo am dâng đến vị Độc Giác
để Ngài an cư mùa mưa.
Ngôi thảo am ở tại bờ sông gần thành Bārāṇasī,
dân
chúng sáng chiều thường đến thảo am để cúng dường bông hoa
đến vị Độc Giác, để đi đến thảo am, họ phải đi qua đám ruộng
của người nông dân nọ, và do vậy ruộng lúa của ông ta bị dẫm
đập.
Người
nông dân không ngăn cản được mới nãy sanh ý đốt bỏ ngôi thảo
am của vị Độc Giác vì cho rằng bởi có ngôi thảo am nầy dân
chúng mới lui tới.
Chờ lúc vị Độc Giác đi vào thành khất thực, người nông dân
ấy đã châm lửa đốt cháy rụi ngôi thảo am của Ngài. Đức Độc
Giác về thảo am thấy bị đốt rụi, Ngài rời đi nơi khác.
Người nông dân do tạo ác nghiệp đó nên sau khi mệnh chung đã
sanh vào địa ngục Avīci
rất
lâu, quả dư sót mới sanh làm ngạ quỉ rắn nầy.
Đức Phật giảng giải tiền nghiệp ngạ quỉ rắn xong, Ngài dạy
thêm: Ác nghiệp cũng như sữa vắt ra không đông ngay mà phải
chờ thời gian. Ác nghiệp đốt cháy ngầm theo kẻ ngu như lửa
dưới lớp tro tàn. Rồi Ngài nói lên bài kệ: “Na hi pāpaṃ
kataṃ kammaṃ … Bhasmacchanno’va pāvako”.
Dứt bài kệ có nhiều vị tỳ kheo chứng thánh quả.
Chánh văn:
(dhp
71) sajju khīraṃ ’va muccati ḍahantaṃ bālamanveti bhasmacchanno ’va pāvako.
Thích văn: hi [bất biến từ] bởi lẻ, bởi vì; tất nhiên. pāpaṃ [chủ cách số ít trung tính của tính từ pāpa] xấu xa, ác quấy. kataṃ [chủ cách số ít trung tính của quá khứ phân từ kata (căn kar + ta)] đã được làm, đã được tạo. kammaṃ [chủ cách số ít của danh từ trung tính kamma] nghiệp, việc làm, hành vi. sajju [trạng từ] ngay liền, lập tức. khīraṃ [chủ cách số ít của danh từ trung tính khīra] sữa. muccati [động từ thụ động thể ngôi III số ít (căn muc + ya)] được phóng thích, được lắng đọng, đông lại. ḍahantaṃ [hợp âm dahaṃ taṃ] dahaṃ chủ cách số ít trung tính của hiện tại phân từ dahanta (căn ḍah + anta)] nung nấu, thiêu đốt. taṃ [đối cách số ít nam tính của chỉ thị đại từ ta] ấy, nó, người ấy. bālamanveti [hợp âm bālaṃ anveti] bālaṃ [đối cách số ít của danh từ nam tính bāla] kẻ ngu, người ngu. anveti [động từ hiện tại ngôi III số ít (anu +căn i + a)] đi theo, theo sau. bhasmacchanno [chủ cách số ít nam tính của hợp thể danh từ bhasmacchanna (bhasma + acchanna_qkpt của acchādeti) được phủ tro, được ấp ủ dưới tro tàn. pāvako [chủ cách số ít của danh từ nam tính pāvaka] lửa ngún.
Việt
văn:
(pc 71) như sữa, không trổ liền cháy ngầm theo kẻ ngu như lửa ngún dưới tro.
Chuyển văn:
Khīraṃ iva kataṃ pāpaṃ kammaṃ sajju na hi muccati,
bhasmacchanno pāvako iva ḍahaṃ taṃ bālaṃ anveti.
Như
sữa mới vắt, ác nghiệp vừa tạo tất nhiên không trổ quả liền.
Cháy ngầm theo kẻ ngu ấy như lửa ngún dưới lớp tro.
Lý giải:
Tuy rằng có hiện báo nghiệp (diṭṭhadhammavedanīyakamma)
tức là nghiệp trổ quả ngay kiếp hiện tại sau khi làm xong,
nhưng cũng có nhiều trường hợp vô hiệu hiện báo nghiệp
(ahosikamma).
Hiện báo ác nghiệp hiếm có xảy ra, bởi nếu thường có ác
nghiệp quả báo nhãn tiền thì chúng sanh đã biết sợ mà tránh
làm ác rồi.
Có nhiều kẻ làm ác vẫn sống ung dung, đó là vì ác nghiệp
chưa chín muồi liền.
Nghiệp ác cháy ngầm như lửa ngún dưới lớp tro tàn, để khi
họp đủ điều kiện như cỏ rác khô phủ lên và gió thổi thì bốc
cháy thành lửa ngọn. Cũng thế, ác nghiệp mà chúng sanh đã
tạo rồi khi cận tử sẽ trỗi dậy ám ảnh để rồi sau khi chết
quả ác dẫn đi tái sanh cõi khổ. Đây gọi là sanh báo ác
nghiệp.
Vẫn chưa hết, ác nghiệp ấy âm ỉ cháy ngầm theo chúng sanh,
dù thoát khỏi cõi địa ngục nhưng quả dư sót trổ sanh khiến
họ khổ tiếp tục trong cảnh giới ngạ quỉ, hoặc cầm thú, hoặc
sanh lại làm người nó cũng cảm thọ khổ đau bất hạnh. Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Tuệ Siêu. @@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/
-ooOoo- /span> |