|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 11 tháng 10, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG X. TƯƠNG ƯNG DẠ XOA (S. i, 206).
Bài
2.Kinh Dạ Xoa Tên Sakka (Sakkanāmasuttaṃ)
-ĐỘ NGƯỜI HAY ĐỘ MÌNH.
Việc hoằng pháp
lợi sanh là trách nhiệm thiêng liêng của người con Phật. Tuy
vậy trong việc thực hiện sứ mạng cao cả nầy vẫn có những
điều phải cẩn trọng. Dĩ nhiên với Đức Phật và chư vị thánh
nhân hoàn toàn giải thoát thì luôn tự tại trong trong hành
trạng độ đời. Với phàm nhân thì không thể không nghĩ tới
những hệ luỵ như sợi dây liên hệ mật thiết giữa cá nhân với
cá nhân hoặc càng thành công thì càng chấp ngã. Không nên
xem thường những vướng vấp nhưng cũng không nên vì sự quá
cẩn trọng mà quay lưng với sự hoằng hoá độ sanh. Sự quân
bình rất tế nhị. Bậc trí là người có thể đi qua những giai
đoạn khó mà vẫn giữ được tinh thần tự giác, giác tha.
Ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate.
Atha kho sakkanāmako yakkho
yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ
gāthāya ajjhabhāsi.
Một thuở Đức Thế Tôn ngự trên đỉnh núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu),
ở
Rājagaha (Vương Xá).
Lúc ấy dạ xoa tên Sakka
đi đến Đức Thế Tôn và nói lên kệ ngôn.
‘‘Sabbaganthappahīnassa, vippamuttassa te sato; Cắt đứt mọi buộc ràng Còn lo dạy người khác Chẳng tốt, hỡi Sa môn.
(Thế Tôn): Na taṃ arahati sappañño, manasā anukampituṃ. ‘‘Manasā ce pasannena, yadaññamanusāsati; Na tena hoti saṃyutto, yānukampā anuddayā’’ti
Sakka, do duyên gì
Bằng tâm tư trong sáng
Samaṇassa na taṃ sādhu = thật không tốt gì cho Ngài, một vị sa môn, yadaññamanusāsasī’’ti = hướng dẫn cho người khác. ‘‘Yena kenaci vaṇṇena = cho dù bất cứ lý do gì saṃvāso sakka jāyati = sự thân thiết khởi sanh, hỡi Sakka Na taṃ arahati sappañño manasā anukampituṃ = bậc trí cũng không giao động trong sự bi mẫn với người ấy. ‘‘Manasā ce pasannena = Với tâm ý trong sáng yadaññamanusāsati = vị ấy giáo hoá kẻ khác Na tena hoti saṃyutto = vị ấy không ràng buộc yānukampā anuddayā’’ti = với từ tâm và bi mẫn
Theo Sớ Giải thì dạ xoa nầy thuộc hội chúng Ma vương
(mārapakkhika yakkha) vốn không muốn Đức Phật thuyết pháp
độ sanh. Ma vương cũng từng có lời chỉ trích Phật tương tự
như trong phẩm Māra.
Chữ
vaṇṇena – dù nguyên nhân hay lý do - được Hậu Sớ Giải chú
thích là dù đối với hàng cư sĩ hay các vị xuất gia
(gahattḥena vā pabbajitena) có vẻ như thiên về đối tượng
giáo hoá. Ở đây nên hiểu tôn ý rõ ràng của Đức Phật trong kệ
ngôn trả lời là bậc trí không vì sự giáo hoá mà vương mang
với bất cứ ai. Nói cách khác là hoằng hoá độ sanh nhưng
không ái nhiễm thế tục. Sự ràng buộc trong việc giáo hoá được giải thích là sự
vướng mắc giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với hội
chúng, giữ bản thân và ngã chấp. Dù thế nào thì việc hoằng
truyền chánh pháp với tâm bi mẫn và trách nhiệm vẫn là việc
nên làm nhưng nếu chưa giác ngộ giải thoát thì phải luôn cẩn
trọng.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |