BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Tư, ngày 12 tháng 10, 2022

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA

CHƯƠNG X. TƯƠNG ƯNG DẠ XOA (S. i, 206).

Bài 3. Kinh Sūciloma (Sūcilomasuttaṃ) -TRỊ BỆNH PHẢI TRỊ TẬN GỐC.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png  

 Thế gian hỗn độn, tâm ý điên đảo. Khó biết đâu là gốc, đâu là ngọn. Không biết căn cội của nỗi khổ đau muôn thuở thì làm sao có thể diệt khổ. Cuộc sống như sự đong đưa từ bên nầy sang bên kia. Hết vui tới khổ, hết ghét tới thương. Rồi hoang mang sợ hải. Đức Phật dạy nên biết rõ nguồn cội rối rắm của tâm ý là ái chấp và ngã chấp. Bám víu theo cái mình thích là ái chấp. Luôn muốn cái tôi phải như thế nầy hay thế khác là ngã chấp. Từ đấy sản sinh bao nhiêu sự vọng động, não phiền. Phải thấy được cội rễ của vấn đề mới có thể đoạn tận khổ đau.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Kinh-Van-1.png

Ekaṃ samayaṃ bhagavā gayāyaṃ viharati ṭaṅkitamañce sūcilomassa yakkhassa bhavane. Tena kho pana samayena kharo ca yakkho sūcilomo ca yakkho bhagavato avidūre atikkamanti. Atha kho kharo yakkho sūcilomaṃ yakkhaṃ etadavoca – ‘‘eso samaṇo’’ti! ‘‘Neso samaṇo, samaṇako eso’’. ‘‘Yāva jānāmi yadi vā so samaṇo yadi vā pana so samaṇako’’ti.

Một thuở Đức Thế Tôn ngự trên tảng đá Ṭakita trú xứ của dạ xoa Sūciloma tại Gayā. Lúc ấy dạ xoa Khara và dạ xoa Sūciloma đi ngang qua Đức Thế Tôn. Dạ xoa Khara nói với dạ xoa Sūciloma:

- “Đó là một sa môn”.

- “ Không phải. Đó là sa môn giả hiệu. Ta sẽ sớm biết đó là một thầy tu thật hay thầy tu giả”.

Atha kho sūcilomo yakkho yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavato kāyaṃ upanāmesi. Atha kho bhagavā kāyaṃ apanāmesi. Atha kho sūcilomo yakkho bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘bhāyasi maṃ samaṇā’’ti? ‘‘Na khvāhaṃ taṃ, āvuso, bhāyāmi; api ca te samphasso pāpako’’ti. ‘‘Pañhaṃ taṃ, samaṇa pucchissāmi. Sace me na byākarissasi, cittaṃ vā te khipissāmi, hadayaṃ vā te phālessāmi, pādesu vā gahetvā pāragaṅgāya [pāraṃ gaṅgāya (ka.)] khipissāmī’’ti. ‘‘Na khvāhaṃ taṃ, āvuso, passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya, yo me cittaṃ vā khipeyya hadayaṃ vā phāleyya pādesu vā gahetvā pāragaṅgāya khipeyya; api ca tvaṃ, āvuso, puccha yadā kaṅkhasī’’ti. Atha kho sūcilomo yakkho bhagavantaṃ gāthāya ajjhabhāsi – ( ) [(atha kho sūcilomo yakkho bhagavantaṃ gāthāya ajjhabhāsi.) (sī.)]

Rồi dạ xoa Sūciloma đi thẳng tới Đức Thế Tôn và nghiêng người về phía Ngài. Đức Thế Tôn nghiêng về phía sau tránh. Dạ xoa Sūciloma nói:

- “Ông sợ ta?!”.

- “Ta không sợ ngươi, chỉ có điều là xúc chạm ngươi là điều gớm ghiếc”.

- “Nầy Sa môn, ta sẽ chất vấn ông. Nếu ông không trả lời được ta sẽ khiến ông nổi điên hay ta sẽ xé toạt trái tim ông hoặc nắm chân ông ném qua bên kia bờ sông Hằng”.

- “ Ta không thấy trên thế gian nầy với chư thiên, ma vương, phạm thiên, các vị sa môn, bà la môn thời nay ai có thể khiến ta nổi điên hay xé toạt trái tim hoặc nắm chân ta ném sang bên kia sông Hằng. Tuy vậy, nếu ngươi muốn thì cứ hỏi”. 

(Dạ xoa):

‘‘Rāgo ca doso ca kutonidānā,
Aratī ratī lomahaṃso kutojā;
Kuto samuṭṭhāya manovitakkā,
Kumārakā dhaṅkamivossajantī’’ti.

Dục, sân từ nhân nào?
Thương, ghét, sợ do đâu?
Suy tầm vì sao có
Như trẻ tung bắt quạ?

(Đức Thế Tôn):

‘‘Rāgo ca doso ca itonidānā,
Aratī ratī lomahaṃso itojā;
Ito samuṭṭhāya manovitakkā,
Kumārakā dhaṅkamivossajanti.

‘‘Snehajā attasambhūtā,
nigrodhasseva khandhajā;
Puthū visattā kāmesu,
māluvāva vitatā vane.

‘‘Ye naṃ pajānanti yatonidānaṃ,
Te naṃ vinodenti suṇohi yakkha;
Te duttaraṃ oghamimaṃ taranti,
Atiṇṇapubbaṃ apunabbhavāyā’’ti.

“Chính đây dục, sân sanh
Do đây thương, ghét, sợ
Từ đây suy tầm khởi
Như trẻ tung bắt quạ

Chính ái tham, ngã chấp
Như cội đa đâm chồi
Bao chấp thủ dục lạc
Như giây leo trong rừng.

“Nghe nầy, hỡi Dạ xoa
Người liễu tri cội nguồn
Họ đoạn trừ gốc ấy
Vượt thác lũ khó vượt
Vốn chưa từng vượt qua
Không còn tái sanh nữa.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thich-van.png

‘‘Rāgo ca doso ca kutonidānā = Dục vọng và sân khởi từ đâu?
Aratī ratī lomahaṃso kutojā = do đâu có sự yêu thích, không bằng lòng, và sợ hãi
Kuto samuṭṭhāya manovitakkā = Từ cái gì khởi sanh những ý nghĩ
Kumārakā dhaṅkamivossajantī’’ti = Như những bé trai chơi trò tung bắt con quạ.
‘‘Rāgo ca doso ca itonidānā = dục vọng và sân phát xuất từ đây
Aratī ratī lomahaṃso itojā = ưa thích, bực bội, sợ hãi sanh ra từ đây
Ito samuṭṭhāya manovitakkā = suy tầm hiện khởi từ đây
Kumārakā dhaṅkamivossajanti = như những bé trai chơi tung bắt con quạ
‘‘Snehajā attasambhūtā = ái chấp và ngã chấp
nigrodhasseva khandhajā = như cội cây đa đâm chồi
Puthū visattā kāmesu = muôn thứ chấp thủ vào dục lạc
māluvāva vitatā vane = như dậy leo māluvā lan rộng trong rừng
‘‘Ye naṃ pajānanti yatonidānaṃ = ai liễu tri nguồn cội
Te naṃ vinodenti suṇohi yakkha = Họ đoạn tận chúng, hỡi Dạ xoa nghe nầy!
Te duttaraṃ oghamimaṃ taranti = Họ vượt giòng thác lũ khó băng ngang
Atiṇṇapubbaṃ apunabbhavāyā’’ti = chưa từng vượt qua và cũng sẽ không sanh tử nữa.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thich-nghia.png

Tên dạ xoa là  Sūciloma có nghĩa là “lông trên người nhọn cứng như cây kim” (như lông nhím). Dạ xoa nầy kiếp trước là một tỳ khưu tu trong giáo pháp của Đức Thế Tôn Kassapa (Ca Diếp) nhưng lúc ấy không có thành tựu gì. Trong thời Đức Phật hiện tại vị nầy sanh làm dạ xoa trú ở gần trục lộ vào Gāya. Đức Thế Tôn quán sát thấy dạ xoa có đủ duyên lành nên Ngài đến khai thị. Sau khi nghe pháp dạ xoa  Sūciloma chứng quả dự lưu. Theo Sớ Giải thì sau khi chứng đạo quả dạ xoa không còn lông cứng nhọn mà biến thành hình tướng của một thiên thần.

Theo Sớ giải, dạ xoa  Sūciloma ban đầu nói với ý rằng nếu là sa môn thật thì không sợ ta, trái lại nếu là sa môn giả sẽ kinh hoảng.

Sớ giải chú thích rằng Đức Thế Tôn nghiêng người ra sau tránh không chạm dạ xoa  Sūciloma không phải vì sợ mà giống như người đi đường tránh đống phẩn dơ. Khi Phật dạy như vậy thì Sūciloma nói những lời đe doạ hung hăng.

Cụm từ Kumārakā dhaṅkamivossajanti < Kumārakā dhaṅkam iv’ossajanti chỉ cho trò chơi của trẻ con cột sợi dây vào chân con quạ rồi tung lên sau đó kéo bắt lại. Đây là dụ ngôn chỉ cho trạng thái tâm sanh khởi chợt đến chợt đi.

Sớ giải nêu lên câu hỏi những suy tư bất thiện sanh khởi từ đâu làm điên đảo tâm ý (pāpavitakkā kuto samuṭṭhāya cittaṃ ossajanti) như tách rời cụm từ manovitakkā (ý và suy nghĩ). Đa số các dịch giả thì xem đó là từ kéo chỉ cho suy tầm, tư duy, hay ý nghĩ.

Chũ itonidānā – nguồn cội chính ở đây – theo Sớ giải chỉ cho tự thể (attabhāva). Tất cả dục vọng, sân tâm, thương ghét, sợ hãi đều có chung gốc rễ là ngã chấp.

Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng

-ooOoo-