|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Chủ Nhật , 16 tháng 10, 2022 MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ V. PHẨM NGƯỜI NGU (Bālavagga)_Kệ số 14 và 15 (dhp 73, 74)
Duyên sự: Hai
bài kệ nầy được đức Phật thuyết khi Ngài trú tại chùa
Jetavana gần thành Sāvatthi, do câu chuyện của Trưởng lão
Sudhamma trụ trì ngôi chùa của gia chủ Citta ở thị trấn
Macchikāsaṇḍa. Gia
chủ Citta ở Macchikāsaṇḍa là một cận sự nam trước đắc quả dự
lưu nhờ nghe tôn giả Mahānāma thuyết pháp, ông Citta đã kiến
tạo ngôi chùa Ambātakavana cúng dường đến tôn giả Mahānāma
với đoàn tăng chúng, và thỉnh Trưởng lão Sudhamma người ở
Macchikāsaṇḍa làm trụ trì.
Thời gian sau, hai vị thượng thủ thinh văn đã đi đến
Macchikāsaṇḍa, thuyết pháp tế độ gia chủ Citta đắc quả A na
hàm. Gia chủ đã cung thỉnh nhị vị thượng thủ thinh văn về
nhà cúng dường vật thực, sau đó mới đến chùa thỉnh sư trụ
trì Sudhamma đến nhà. Bị
thỉnh sau các vị khách tăng nên sư trụ trì tự ái từ chối lời
mời. Nhưng sáng hôm sau, sư trụ trì cũng ghé nhà gia chủ
Citta để nói những lời châm biếm rồi bỏ chùa ra đi. Sư
trụ trì Sudhamma đi đến Jetavana thành Sāvatthi đảnh lễ đức
Phật và kể lại sự tình. Đức Phật đã khuyên sư trụ trì ấy nên
xin lỗi gia chủ Citta vì ông ta là vị thánh cư sĩ.
Trưởng lão Sudhamma miễn cưỡng trở về chùa xin lỗi gia chủ
Citta, thấy thái độ của Trưởng lão không thật lòng nên gia
chủ Citta không chấp nhận.
Trưởng lão Sudhamma bỏ đi đến Sāvatthi và bạch với đức Phật
sự việc. Đức Thế Tôn biết tâm của Trưởng lão Sudhamma còn
kiêu mạn tự ái nên Ngài đã nhắc nhở rồi truyền dạy một vị tỳ
kheo cùng đi với Trưởng lão Sudhamma trở về Macchikāsaṇḍa
một lần nữa để xin lỗi gia chủ Citta. Ngài cũng dạy thêm
rằng: hễ là bậc sa môn thì không nên nghĩ là Chùa của ta,
trú xứ của ta, thiện nam tín nữ của ta, vì như vậy làm cho
dục mạn tăng trưởng, rồi Thế Tôn nói lên hai bài kệ:
“Asantaṃ bhāvanamiccheyya … icchā māno ca vaḍḍhati”.
Trưởng lão Sudhamma nghe lời giáo huấn nầy, cùng với vị tỳ
kheo sứ giả trở về xin lỗi ông cận sự nam và được tha thứ.
Vài ngày sau, Trưởng lão Sudhamma suy nghiệm lời giáo huấn
của bậc đạo sư, đã đắc quả A la hán với tuệ phân tích.
Chánh văn:
(dhp 73) purekkhārañca bhikkhusu āvāsesu issariyaṃ pūjā parakulesu ca.
(dhp 74) gihī pabbajitā ubho mamevātivasā assu kiccākiccesu kismici iti bālassa saṅkappo icchā māno ca vaḍḍhati.
Thích văn: bhāvanamiccheyya [hợp âm bhāvanaṃ iccheyya] bhāvanaṃ [đối cách số ít của danh từ trung tính bhāvana] danh xưng, danh hiệu = sambhāvanaṃ (chú giải). iccheyya [động từ khả năng cách ngôi III số ít (căn is + a)] ước muốn, mong ước. purekkhārañca [hợp âm purekkhāraṃ ca] purekkhāraṃ [đối cách số ít của danh từ nam tính purekkhāra (pure + kara)] sự ăn trên ngồi trước, sự trân trọng, sự nể kính. bhikkhusu [bhikkhūsu định sở cách số nhiều của danh từ nam tính bhikkhu] trong hàng tỳ kheo, giữa các tỳ kheo. āvāsesu [định sở cách số nhiều của danh từ nam tính āvāsa] trong các chỗ ở, tại các tự viện. issariyaṃ [đối cách số ít của danh từ trung tính issariya] quyền hành, quyền hạn, thẩm quyền. pūjaṃ [đối cách số nhiều của danh từ nữ tính pūjā] sự cúng dường, sự kính lễ. parakulesu [định sở cách số nhiều của hợp thể danh từ trung tính parakula (para + kula)] ở các gia đình kia, tại những gia đình nọ. mameva [hợp âm mama eva] mama [sở thuộc cách số ít của nhân xưng đại từ amha] của ta, của tôi “mameva” của chính tôi. kataṃ [đối cách số ít trung tính của quá khứ phân từ kata (căn kar + ta)] đã được làm, việc đã làm. maññantu [động từ mệnh lệnh cách ngôi III số nhiều (căn man + ya)] họ hãy biết, hãy để họ biết. gihī [chủ cách số nhiều của danh từ nam tính gihī] tục gia, cư sĩ, những người tại gia. pabbajitā [chủ cách số nhiều của danh từ nam tính pabbajita] các tu sĩ, những người xuất gia. ubho [chủ cách số nhiều của đại từ ubha] cả hai. mamevātivasā [hợp âm mama eva ativasā] ativasā [chủ cách số nhiều của danh từ nam tính ativasa] sự kiểm soát, sự cai quản. assu [động từ khả năng cách ngôi III số nhiều (căn as)] phải có, có thể là. kiccākiccesu [định sở cách số nhiều của hợp thể danh từ trung tính kiccākicca (kicca + akicca)] trong mọi việc lớn nhỏ, trong các phận sự hay không phải phận sự. kismici [định sở cách cách số ít của phiếm chỉ đại từ kaci] trong bất cứ điều gì, trong mỗi việc nào. iti [bất biến từ] như thế, như vậy. bālassa [sở thuộc cách số ít của danh từ nam tính bāla] của kẻ ngu. saṅkappo [chủ cách số ít của danh từ nam tính saṅkappa] ý nghĩ, tư duy, sự suy nghĩ. icchā [chủ cách số ít của danh từ nữ tính icchā] dục, sự tham muốn. māno [chủ cách số ít của danh từ nam tính māna] mạn, kiêu mạn. vaḍḍhati [động từ tiến hành cách ngôi III số ít (căn vaḍḍh + a)] tăng trưởng, lớn mạnh.
Việt văn: (pc
73) muốn ngồi trước tỳ kheo muốn quyền trong tự viện muốn nhà nhà lễ kính.
(dhp
74) hãy biết việc ta làm trong mọi việc lớn nhỏ phải theo mệnh lệnh ta người ngu nghĩ như vậy dục và mạn tăng trưởng.
Chuyển văn:
Asantaṃ bhāvanaṃ iccheyya bhikkhūsu purekkhārañca āvāsesu ca
issariyaṃ parakusesu pūjā ca, gihī pabbajitā ubho mama eva
kataṃ maññantu kismici kiccākiccesu mama eva ativasā assu
iti bālassa saṅkappo icchā māno ca vaḍḍhati. Ưa
muốn danh hiệu không tương xứng, muốn ngồi trên trước giữa
các tỳ kheo, muốn quyền hạn trong tự viện, muốn được lễ kính
tại các tư gia, nghĩ rằng “cả hai hàng tại gia và xuất gia
hãy biết chỉ có ta làm, trong bất cứ công việc lớn nhỏ đều
phải theo mệnh lệnh của ta”, đó là ý nghĩ của kẻ ngu, sự
tham vọng và kiêu mạn của nó tăng trưởng.
Lý giải: Vị
tỳ kheo ngu dốt thường có những mong muốn xấu xa: -
Muốn danh không tương xứng (Asantaṃ sambhāvanaṃ icchati)
tức là vị ấy không có niềm tin lại muốn quần chúng xưng tụng
“ta là người có niềm tin”; vị ấy sống không giới hạnh, muốn
được khen tụng là người có giới; Vị ấy ít học lại muốn được
khen tụng là bậc đa văn ..v.v.. Đây gọi là muốn
danh không tương xứng. -
Muốn ngồi trước tỳ kheo (purekkhārañca bhikkhūsu
icchati) tức là đi đâu cũng muốn dẫn đầu các tỳ kheo;
Ngồi đâu cũng muốn ngồi chỗ trên trước các vị tỳ kheo; ở
trong chùa thì muốn lúc nào các tỳ kheo cũng vây quanh và
hỏi han mình … Đó gọi là muốn ngồi trước tỳ kheo. -
Muốn quyền trong tự viện (Āvāsesu issariyaṃ icchati)
tức là ở tại chùa hay tịnh xá hay chỗ cư ngụ thuộc về Tăng,
vị ấy dành quyền hạn sắp xếp chỗ ở cho các vị tỳ kheo theo ý
của mình, ưa vị nào thì sắp xếp chỗ ở nơi thuận tiện tốt
đẹp, không ưa vị nào thì chỉ định cho chỗ ở phía sau, hẻo
lánh, tù túng ..v.v.. Đây gọi là muốn quyền trong
tự viện. -
Muốn nhà nhà lễ kính (parakulesu pūjaṃ icchati) là
vị ấy muốn tại những gia đình cư sĩ khác, không phải nhà cha
mẹ hay nhà của quyến thuộc, chỉ có mình là được cúng dường
tứ sự, những vị khác không được. Đó gọi là ước muốn nhà nhà
lễ kính.
Ngoài những ước muốn xấu xa như thế, kẻ ngu luôn có ý nghĩ
là: -
Trong chùa, người xuất gia hay người tại gia, mong rằng họ
hãy biết do chính ta đã làm mọi công việc, do ta quán xuyến. -
Hoặc nghĩ, mỗi việc lớn hay nhỏ gì trong chùa cũng phải theo
sự điều hành của ta, theo mệnh lệnh của ta. Đó
là ý nghĩ của kẻ ngu muội. Một vị tỳ kheo ngu muội như thế
thì tham vọng càng tăng trưởng, và sự ngạo mạn cũng tăng
trưởng. @@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/
-ooOoo- /span> |