|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 18 tháng 10, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG X. TƯƠNG ƯNG DẠ XOA (S. i, 208).
Bài
4. Kinh Maṇibhadda (Maṇibhaddasuttaṃ)
-TU CHÁNH NIỆM CŨNG CẦN TU TỪ TÂM.
Chánh niệm dẫn
đến thành tựu tuệ giác thường được xem là “pháp vạn năng”
trong quan niệm của nhiều người trân trọng pháp tu nầy. Đó
cũng là tâm trạng của da xoa Maṇibhadda. Và vị nầy cũng tin
chính chánh niệm hoá giải sân tâm hiềm hận vốn là bản chất
của hầu hết loài da xoa (ở đây chỉ cho hung thần quỹ dữ).
Nhân lời tán thán chánh niệm cùa vị da xoa nầy Đức Phật nhắc
nhở thuốc nào trị bệnh đó. Chánh niệm giúp thắp sáng khả
năng tỉnh thức. Nhưng lòng bi mẫn và từ mẫn phải được nuôi
dưỡng bằng sự huân tu từ bi - đặc biệt là tâm ý hoan hỷ với
tâm ý vô hại (ahiṃsa). Lời huấn thị nầy của Đức Phật cũng
nói lên một sự việc thường xẩy ra đối với những người tu:
mình tốt về điểm nào đó không nên đòi hỏi tất cả mọi người
phải giống vậy; thậm chí có tâm ghét bỏ với người không tu
giống mình. Nên nuôi dưỡng tâm thân thiện hoà ái với tất cả
chúng sanh. Sabbe sattā sukhitā hontu.
Ekaṃ samayaṃ bhagavā magadhesu viharati maṇimālike cetiye
maṇibhaddassa yakkhassa bhavane.
Một thuở Đức Thế Tôn ngự giữa dân chúng xứ Magadha, tại điện
thờ Maṇimālaka, trú xứ của dạ xoa Maṇibhadda.
Atha kho maṇibhaddo yakkho yena bhagavā tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā bhagavato santike imaṃ gāthaṃ abhāsi –
Bấy giờ dạ xoa Maṇibhaddađi đến Đức Thế Tôn và nói lên kệ
ngôn:
‘‘Satīmato sadā bhaddaṃ, satimā sukhamedhati; Chánh niệm tạo an lạc Mỗi ngày một tốt thêm Vị ấy không hiềm hận
(Đức Thế Tôn) Satīmato suve seyyo, verā na parimuccati. ‘‘Yassa sabbamahorattaṃ, ahiṃsāya rato mano; Mettaṃ so sabbabhūtesu, veraṃ tassa na kenacī’’ti.
Chánh niệm luôn luôn tốt
Với người ngày và đêm
satimā sukhamedhati = chánh niệm tăng trưởng sự an lạc Satīmato suve seyyo = với chánh niệm (cuộc sống) mỗi ngày mỗi tốt hơn. verā ca parimuccatī’’ti = vị ấy thoát khỏi mọi hiềm hận ……………. verā na parimuccati = không hẳn thoát khỏi hiềm hận ‘‘Yassa sabbamahorattaṃ = với người mà ngày cũng như đêm ahiṃsāya rato mano = tâm ý vui trong sự vô hại Mettaṃ so sabbabhūtesu = có từ tâm đối với tất cả chúng sanh veraṃ tassa na kenacī’’ti = hiềm hận không có ở vị ấy.
Theo Sớ Giải
sukham edhati trong kệ ngôn có nghĩa là sukhaṃ paṭilabhati
(đạt được an lạc). Cụm
từ “suve seyyo” là cách nói ngắn của thành ngữ
“suve suve seyyo,
niccam eva seyyo (ngày mai rồi ngày mai lại tốt hơn, luôn
luôn tốt hơn). Là một thành ngữ cũng là một câu kinh cầu
nguyện trong dân gian. (Lời kinh nguyện nầy gần giống như
câu “nguyện ngày an lành, đêm an lành. Đêm ngày sáu thời đều
an lành”) Chữ ahiṃsāya – vô hại hay bất hại – theo Sớ giải chỉ cho tâm
bi mẫn ở hai trường hợp: tâm thương xót chúng sanh đau khổ
và thiền chứng với thiền án là “phạm trú” (brahmavihāra
bhāvanā). Chữ “mettaṃso” có hai giải thích. một là
mettaṃ so - người có từ tâm
- hoặc là
cũng mang ý nghĩa tương tự. Hai là mettaṃso là từ kép mettā
+ aṃsa, có nghĩa là koṭṭhāsa ý nói từ tâm là một phần của
bản tính (Mettā aṃso etassā ti mettaṃso). Ngài Bodhi chọn
cách giải thích thứ nhất. Theo Hậu Sớ Giải thì, do tập tánh, chúng sanh có thể sanh tâm ghét bỏ,
hiềm hận với người khác vì không tương đồng sự tu tập của
với mình ngay cả đối tượng là một vị a la hán. Thí dụ trường
hợp vua A Dục ưa thích sự hoằng pháp độ sanh nên khi nghe kể
về Tôn giả Revata, người thường sống độc cư, thì sanh tâm
bất mãn không hoan hỷ. Những người tu thiền quán tứ niệm xứ
cũng cần tu tập tâm từ nếu không có thể sanh tâm ghét bỏ đối
với những ngường không tu tập giống mình. Do vậy dù tu tập
chánh niệm vẫn cần tu tập tâm từ, tâm bi.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |