|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 19 tháng 10, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG X. TƯƠNG ƯNG DẠ XOA (S. i, 209).
Bài
5. Kinh Sānu (Sānusuttaṃ)
-THƯƠNG CON MUỐN CON KHÔNG CÒN NỊCH ÁI.
Tấm lòng của mẹ
không những vĩ đại mà đôi khi khó đong đo
tất cả chiều kích. Thương con thật nhiều lại
muốn con không vương mang ái chấp thường
tình. Theo dấu chân con qua bao kiếp trầm
luân lại muốn con hướng nẻo xuất thế. Phải
nhận rằng ít có bà mẹ nào muốn xa con nhưng
ở đây lại là một hình ảnh hiếm hoi: Con về
nhà sống với mẹ thì dù sống nhưng xem như đã
chết; con lên đường hành trình cuộc tu tuy
xa mẹ nhưng lại rất gần. Vì dạ xoa là mẹ nên
chỉ mong con được an bình. Vì mẹ dù thương
con nhưng muốn con không vướng luỵ trần gian
nên khuyên con sống đời sa môn không ái
luyến buộc ràng. Mấy ai trong đời hiểu hết
trái tim của mẹ.
Ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane
anāthapiṇḍikassa ārāme. Tena kho pana samayena aññatarissā
upāsikāya sānu nāma putto yakkhena gahito hoti. Atha kho sā
upāsikā paridevamānā tāyaṃ velāyaṃ imā gāthāyo abhāsi –
Thuở ấy Đức Thế Tôn ngự ở Sāvatthi, tại Jetavana (Kỳ Viên),
ngôi già lam do ông Anāthapiṇḍika dâng cúng.
Bấy giờ Sānu, con một nữ cư sĩ bị da xoa nhập. Nữ cư sĩ than
khóc nói lên kệ ngôn: Pāṭihāriyapakkhañca, aṭṭhaṅgasusamāgataṃ. ‘‘Uposathaṃ upavasanti, brahmacariyaṃ caranti ye; Na tehi yakkhā kīḷanti, iti me arahataṃ sutaṃ; Sā dāni ajja passāmi, yakkhā kīḷanti sānunā’’ti.
Được nghe từ
những bậc A la hán
Vào các ngày
mười bốn, mười lăm (Dạ xoa đã nhập vào Sānu)
‘‘Cātuddasiṃ pañcadasiṃ, yā ca pakkhassa aṭṭhamī;
Sānuṃ pabuddhaṃ vajjāsi, yakkhānaṃ vacanaṃ idaṃ;
Những gì Người nghe từ các bậc A la hán là đúng
Vào các ngày mười bốn, mười lăm
Đây là lời của dạ xoa
(Sānu sau khi tỉnh lại):
‘‘Mataṃ vā amma rodanti, yo vā jīvaṃ na dissati; Là khóc vì tử biệt Hoặc khóc vì sanh ly Con còn sống đây mà Mình đang nhìn thấy nhau Sau mẹ rơi lệ sầu?
(Bà mẹ): Yo ca kāme cajitvāna, punarāgacchate idha; Taṃ vāpi putta rodanti, puna jīvaṃ mato hi so. ‘‘Kukkuḷā ubbhato tāta, kukkuḷaṃ patitumicchasi; Narakā ubbhato tāta, narakaṃ patitumicchasi. ‘‘Abhidhāvatha bhaddante, kassa ujjhāpayāmase; Ādittā nīhataṃ bhaṇḍaṃ, puna ḍayhitumicchasī’’ti.
Đúng vậy, hỡi nầy con
Cũng khóc cho người ấy
Con đã thoát địa ngục
yā ca pakkhassa aṭṭhamī = Pāṭihāriyapakkhañca = aṭṭhaṅgasusamāgataṃ = ‘‘Uposathaṃ upavasanti = brahmacariyaṃ caranti ye = Na tehi yakkhā kīḷanti = iti me arahataṃ sutaṃ = Sā dāni ajja passāmi = yakkhā kīḷanti sānunā’’ti = ‘‘Cātuddasiṃ pañcadasiṃ = yā ca pakkhassa aṭṭhamī = Pāṭihāriyapakkhañca = aṭṭhaṅgasusamāgataṃ = Uposathaṃ upavasanti = brahmacariyaṃ caranti ye = ‘‘Na tehi yakkhā kīḷanti = sāhu te arahataṃ sutaṃ = Sānuṃ pabuddhaṃ vajjāsi = yakkhānaṃ vacanaṃ idaṃ = Mākāsi pāpakaṃ kammaṃ = āvi vā yadi vā raho = ‘‘Sace ca pāpakaṃ kammaṃ = karissasi karosi vā = Na te dukkhā pamutyatthi = uppaccāpi palāyato’’ti = ‘‘Mataṃ vā amma rodanti = yo vā jīvaṃ na dissati = Jīvantaṃ amma passantī = kasmā maṃ amma rodasī’’ti = ‘‘Mataṃ vā putta rodanti = yo vā jīvaṃ na dissati = Yo ca kāme cajitvāna = punarāgacchate idha = Taṃ vāpi putta rodanti = puna jīvaṃ mato hi so = ‘‘Kukkuḷā ubbhato tāta = kukkuḷaṃ patitumicchasi = Narakā ubbhato tāta = narakaṃ patitumicchasi = ‘‘Abhidhāvatha bhaddante = kassa ujjhāpayāmase = Ādittā nīhataṃ bhaṇḍaṃ = puna ḍayhitumicchasī’’ti =
Bài
kinh nầy chỉ ghi lại những lời thoại nếu không nghe chi tiết
câu chuyện thì khó hiểu. Sānu là một sa di vào chùa hồi còn
thơ ấu. Lại là một sa di rất ngoan và giỏi. Tới tuổi trưởng
thành (hai mươi tuổi) thì lại bị xáo trộn tinh thần muốn rời
bỏ cuộc tu trở về đời sống cư sĩ. Sānu về nhà mẹ của mình
với trình bày ước muốn về tương lai. Bấy
giờ một dạ xoa, vốn là mẹ của Sānu trong kiếp trước, muốn
khuyên cản Sānu đừng hoàn tục. Da xoa đã nhập vào Sānu mắt
trợn ngược, sùi bọt mép, giãy giụa. Bà mẹ Sānu thấy vậy than
khóc rằng: vốn được nghe những người tu, dù là tu bát quan
trai, thì ma quỷ không bao giờ nhập nhưng hôm nay lại tận
mắt thấy một người tu (sa di giới cao hơn bát quan trai
giới) lại bị ma quỷ nhập. Lúc
ấy dạ xoa, qua thân xác của Sānu, đã nói với bà mẹ là những
gì được nghe vốn không sai. Người tu bát quan trai thì không
bị ma nhập quỷ ám. Nhưng trường hợp nầy là một biệt lệ. Dạ
xoa chỉ muốn nhập vào để cảnh tỉnh Sānu mong là khi Sānu
tình lại bà mẹ hãy chuyển lời: những nghiệp bất thiện lớn
nhỏ, người đời có thấy được hay không thấy đều mang lại đau
khổ. Ý nói về những hệ luỵ của đời sống thế tục. Dạ
xoa xuất ra và Sānu tỉnh dậy. Thấy mẹ đang khóc, sa di Sānu
hỏi: thường thì mẹ khóc con là do sanh ly hoặc tử biệt. Bây
giờ còn thấy nhau cớ gì phải khóc?. Bà
mẹ trả lời Sānu nói đúng. Nhưng với một người đi tu mà hoàn
tục thì kể như đã chết. Vì biết được con muốn rời bỏ đời
sống phạm hạnh nên bà không thể không đau khổ.
Được mẹ khuyên nhắc, sa di
Sānu bỏ ý định hoàn tục trở về chùa Kỳ Viên đảnh lễ Phật.
Với sự khai thị của Đức Điều Ngự, Sadi Sānu chứng thánh quả
và thọ đại giới. Vị nầy cũng trở thành một pháp sư lỗi lạc
với quảng đời dài cho đến 120 tuổi.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |