|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, 20 tháng 10, 2022 MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ V. PHẨM NGƯỜI NGU (Bālavagga)_Kệ số 16 (dhp 75)
Duyên sự: Bài
kệ nầy đức Phật thuyết khi Ngài trú ở Jetavana thành
Sāvatthi, nhân câu chuyện của sa di Tissa. Sa
di Tissa là con của một gia đình đàn tín hộ độ tôn giả
Sāriputta, ở thành Rājagaha. Tôn
giả Sāriputta đã tế độ Sa di Tissa lúc bảy tuổi. Sa di Tissa
xuất gia ở chùa, hằng ngày cha mẹ, bà con, và các bạn nhỏ đi
đến chùa thăm chơi và cho thật nhiều lợi lộc. Sa
di Tissa nhận thấy lợi lộc và quyến thuộc sẽ làm trở ngại sự
tu tiến nên đã xin phép thầy tế độ để đi xa khỏi quê nhà mà
hành thiền, Tôn giả Sāriputta cho phép đệ tử đi và dạy cho
đề mục tu quán. Sa
di Tissa đi đến một ngôi làng ở miền rừng núi. Tại đấy Sa di
Tissa sống viễn ly trong núi rừng chỉ vào làng khất thực vào
buổi sáng thôi. Nhập hạ đến tháng thứ ba thì Sa di chứng quả
A la hán cùng với tuệ phân tích. Mãn
hạ, Tôn giả Sāriputta cùng chư tăng đi đến địa phương ấy để
thăm vị Sa di đệ tử để dắt về thành Rājagaha. Nhưng Sa di
Tissa đảnh lễ xin phép thầy cho ở lại chốn núi rừng. Cũng vì
vậy mà vị Sa di nầy có biệt danh là Vanavāsītissa (Tissa Ẩn
Lâm). Chư
tăng quay về Sāvatthi, vào buổi chiều các vị tỳ kheo hội họp
trong giảng đường đã bàn luận về Sa di Tissa, trẻ nhỏ mà
sống ẩn dật nơi rừng núi hoang vắng tội nghiệp. Đức
Phật đến giảng đường nghe câu chuyện giữa các tỳ kheo, Ngài
dạy rằng: đường danh lợi là khác, đường níp bàn là khác, vị
đệ tử Phật biết rõ hai lối đi khác nhau thì bỏ lợi lộc để
sống viễn ly chứng ngộ níp bàn. Rồi đức Phật đã nói lên bài
kệ: “Aññā hi lābhūpanisā … vivekamanubrūhaye”. Dứt
pháp thoại, có nhiều tỳ kheo chứng thánh quả.
Chánh văn:
(dhp 75) aññā nibbānagāminī evametaṃ abhiññāya bhikkhu buddhassa sāvako sakkāraṃ n’ābhinandeyya vivekamanubrūhaye.
Thích văn: hi [bất biến từ] tất nhiên, thật vậy, bởi lẽ. lābhūpanisā [chủ cách số ít của hợp từ nữ tính labhūpanisā (lābha + upanisā)] duyên trợ sanh lợi đắc, phương cách có lợi lộc, duyên thế lợi. nibbānagāminī [chủ cách số ít của hợp từ nữ tính nibbānagāminī (nibbāna + gāminī)] đường dẫn đến níp bàn. evametaṃ [hợp âm evaṃ etaṃ] evaṃ [trạng từ] như vậy, như thế. etaṃ [đối cách số ít nữ tính của chỉ thị đại từ eta] điều đó, lẽ đó. abhiññāya [bất biến quá khứ phân từ (abhi + ñā + ya)] sau khi biết rõ, khi đã hiểu được. bhikkhu [chủ cách số ít của danh từ nam tính bhikkhu] vị tỳ kheo, vị tỳ khưu. buddhassa [sở thuộc cách số ít của danh từ nam tính buddha] của đức Phật, của đấng Giác ngộ. sāvako [chủ cách số ít của danh từ nam tính sāvaka] người đệ tử, người học trò. sakkāraṃ [đối cách số ít của danh từ nam tính sakkāra] sự kính lễ; lễ phẩm. n’ābhinandeyya [hợp âm na abhinandeyya] na [phủ định từ] không, chẳng. abhinandeyya [động từ khả năng cách ngôi III số ít (abhi + căn nand + eyya)] nên vui thích, nên hoan hỷ. “Nābhinandeyya” không nên vui thích, không nên hoan hỷ. vivekamanubrūhaye [hợp âm vivekaṃ anubrūhaye] vivekaṃ [đối cách số ít của danh từ nam tính viveka] sự tách biệt, sự viễn ly, sự ẩn dật. anubrūhaye [động từ khả năng cách ngôi III số ít (anu + căn brūh + aya + e)] nên phát triển, nên trau giồi, nên thực hiện.
Việt văn:
(pc
75) đường níp bàn là khác khi biết rõ như vậy tỳ kheo đệ tử Phật chớ ưa thích lễ lộc nên tu tập viễn ly.
Chuyển văn:
Lābhūpanisā aññā hi, nibbānagāminī aññā hi, buddhassa sāvako
bhikkhu evaṃ etaṃ abhiññāya sakkāraṃ na abhinandeyya vivekaṃ
anubrūhaye.
Duyên sanh lợi lộc là khác, nhân đến níp bàn là khác, vị tỳ
kheo đệ tử của đức Phật sau khi biết rõ điều khác biệt như
thế, không nên ham thích lễ phẩm, phải tu hạnh viễn ly.
Lý giải: Hai
lối đi, một đàng dẫn đến lợi đắc thế gian, một đàng dẫn đến
níp bàn giải thoát. Khác biệt nhau: -
Vị xuất gia tầm cầu lợi lộc sẽ có lối sống hư hỏng, tà mạng,
để rồi phải bị thối đoạ vào khổ cảnh. -
Vị xuất gia từ bỏ lợi lộc, hướng cầu giải thoát, đắc chứng
níp bàn, sẽ có lối sống chân chánh, được hiện tại lạc trú và
hưởng vị tịch tịnh chấm dứt khổ đau. -
Một đệ tử của bậc Chánh giác phải từ bỏ, không ưa thích lợi
đắc cung kính. Nên tu tập hạnh viễn ly.
Trước hết phải sống thân viễn ly (kāyaviveka) tức
là thích ẩn dật nơi thanh vắng như núi rừng, lánh xa hội
chúng. Thân viễn ly chưa đủ, phải có tâm viễn ly
(cittaviveka) tức là tâm lìa bỏ năm triền cái: tham
dục, sân hận, dã dượi, phóng dật và hoài nghi. Khi thân tâm
viễn ly phát triển thiền định_thiền tuệ chứng đạo quả níp
bàn, như vậy sẽ đạt đến sanh y viễn ly (upadhiviveka)
là xuất ly các hành, chấm dứt luân hồi sanh tử.
Dứt Phẩm thứ năm
Phẩm người ngu @@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/
-ooOoo- /span> |