|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 22 tháng 10, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG X. TƯƠNG ƯNG DẠ XOA (S. i, 209).
Bài
6. Kinh Piyaṅkara (Piyaṅkarasuttaṃ)
-THỨC ĂN TINH THẦN.
Người đói thì cần ăn. Không ăn thì lại đói.
Thế nhưng có những trường hợp sự hoan hỷ
trong tâm khiến thân không cảm giác đói
khát. Điều nầy cho thấy sức mạnh của tâm
lành. Tâm lành được nuôi bằng pháp vị. Pháp
vị có được nhờ khéo lắng nghe suy nghiệm.
Với người hữu duyên thì giá trị của chánh
pháp được lãnh hội nhanh chóng giống như
người biết thưởng thức hoa đẹp thì dù những
đóa hoa dại giữa đồng cỏ hay trong núi rừng
cũng tạo nên niềm hoan hỷ.
Ekaṃ samayaṃ āyasmā anuruddho sāvatthiyaṃ viharati jetavane
anāthapiṇḍikassa ārāme. Tena kho pana samayena āyasmā
anuruddho rattiyā paccūsasamayaṃ paccuṭṭhāya dhammapadāni
bhāsati. Atha kho piyaṅkaramātā yakkhinī puttakaṃ evaṃ
tosesi
Một thuở Tôn giả Anuruddha trú ở Sāvatthi, Jetavana, ngôi
già lam do ông Anāthapiṇḍika dâng cúng. Bấy giờ Tôn giả
Anuruddha thức dậy khi đêm gần tàn và tụng đọc pháp cú. Khi
ấy nữ dạ xoa, mẹ của Piyaṅkara, dỗ cho con nín bằng lời
như sau: Api ca dhammapadaṃ vijāniya, paṭipajjema hitāya no siyā. ‘‘Pāṇesu ca saṃyamāmase, sampajānamusā na bhaṇāmase; Sikkhema susīlyamattano, api muccema pisācayoniyā’’ti.
Con yêu, đừng
làm ồn
Không làm hại
chúng sanh
bhikkhu dhammapadāni bhāsati = Tỳ khưu đang tụng pháp cú Api ca dhammapadaṃ vijāniya = Khi chúng ta hiểu kinh kệ paṭipajjema hitāya no siyā = thực hành được lợi lạc ‘‘Pāṇesu ca saṃyamāmase = chúng ta đừng làm hại chúng sanh nào sampajānamusā na bhaṇāmase = đừng cố ý nói dối Sikkhema susīlyamattano = tu tập trong giới hạnh api muccema pisācayoniyā’’ti = có thể chúng ta sẽ thoát kiếp yêu ma
Piyankara là nên của một tiểu dạ xoa. Tên của dạ xoa mẹ
là Viimāna. Trong lúc đi tìm thực phẩm gần chùa Kỳ
Viên vào lúc gần sáng chợt nghe lời kinh tụng đọc của Tôn
giả Anuruddha. Ý kinh khiến tâm hướng thiện, hướng thượng.
Âm thanh tụng đọc trầm ấm như rót thẳng vào lòng. Lúc ấy
tiểu dạ xoa khóc, nên người mẹ ru êm bằng lời kệ trong bài
kinh. Theo Sớ Giải thì dạ xoa mẹ nghe pháp hoan hỷ nên không
còn đói nhưng dạ xoa con vẫn đói nên kêu khóc.
Tôn giả Anurudda (A na luật hay A nậu đà la) là một trong
những đại đệ tử của Đức Phật là bậc đệ nhất thiên nhãn.
Trước khi xuất gia là một hoàng tử dòng Sakya.
Chữ dhammapada có nghĩa là phương ngôn, pháp cú, con đường
chân lý và một số ý nghĩa khác. Ở đây có hai nghĩa: một là
lời Phật dạy, hai là những huấn thị của Đức Phật trong hình
thức kệ ngôn. Những bài kệ – như trong Kinh Pháp Cú - đặc
biệt rất phổ biến trong văn học truyền khẩu vì dễ nhớ và cô
đọng.
Việc tụng kinh chiều và sáng được ghi nhận là phổ biến từ
thời Đức Phật. Lời kinh là những Phật ngôn. Tụng để nhớ, để
hành trì, và để những loài phi nhân chung quanh được sanh
tâm hoan hỷ, thanh tịnh. Tụng kinh là sự hành trì quen thuộc
từ ngàn xưa trong nếp sống tu tập.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |