BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Hai, 24 tháng 10, 2022

MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN

PHẦN II-PHẬT PHÁP

Bài 32. DUYÊN SINH-Thủ Duyên Hữu (upādānapaccayā bhavo)

Tổng quan

Duyên sinh là một trong phần quan trọng của Phật Pháp. Đây cũng là một trong những điểm khó hiểu vì những liên hệ chằng chịt. Rất nhiều đoạn kinh nói về duyên sinh nhưng người mới đọc thoáng qua không nhận ra. Một người có niềm tin chân chánh ở Tam Bảo phải có hiểu biết tương đối về duyên sinh. Một vị Phật trong đêm thành đạo cũng thắp sáng tuệ giác quán chiếu duyên sinh.

Duyên sinh, hay duyên khởi, là giáo nghĩa về nguyên nhân, động thái, và tác động của vạn hữu. Hầu hết tôn giáo đưa ra lập thuyết Sáng Tạo Chủ để nói về một đấng quyền năng tối cao tạo ra tất cả hiện hữu. Tin vào một tạo hoá duy nhất tạo ra tất cả thuộc về bản năng, hiểu những tương quan phức tạp của đời sống đòi hỏi lý trí nhận thức.

Giáo lý duyên sinh không phải chỉ nói về nguồn gốc tập khởi mà còn nói về những dịch chuyển, tương tác trong hiện tại, và tác động tạo nên hệ quả ở tương lai. Nói cách khác trong duyên sinh không có sự an bài, định mệnh mà là một dòng hiện hữu sinh động ở bất cứ thời điểm nào. Phật Pháp không dạy rằng đời sống hiện tại là một thành phẩm của quá khứ mà mọi thứ đã được lập trình sẳn với tên gọi tiền định.

Giáo lý duyên sinh nêu rõ cái gì có thể và không có thể trong nỗ lực chuyển hoá cuộc sống. Không có một nhân tố quyết định tất cả, ngược lại, sự tồn tại của mỗi cá thể không thể bị huỷ diệt bởi mãnh lực ngoại tại nào. Người học Phật cần đặc biệt lưu ý trong giáo lý duyên khởi chứa đựng những trọng điểm mà người tu tập có thể chuyển hoá thân tâm.

Với định lý “do có cái nầy nên có cái kia”, sự hiểu biết về duyên sinh tạo nên cái nhìn rất khác biệt với phản ứng vui buồn chỉ y cứ trên một điểm. Thí dụ có một chiếc xe mới không phải chỉ có hưởng thụ chuyện có xe mà còn phải chấp nhận những phiền luỵ khi có một chiếc xe.

Một đặc điểm của duyên sinh là trình bày rõ giáo lý vô ngã. Câu Phật ngôn quán chiếu “cái nầy không phải là ta, không phải là của ta, không phải là tự ngã của ta” chỉ thật sự tỏ rõ khi hiểu theo định luật duyên khởi. Trên cả hai phương diện pháp học và pháp hành thì điểm nầy đều quan trọng.

Thập nhị nhân duyên hay mười hai duyên khởi là nội dung chính của duyên sinh.

Bài học ngày 22 tháng 8, 2022

Một đặc điểm khi tìm hiểu về giáo lý duyên khởi là không nên “đóng khung” những khái niệm. Thập nhị nhân duyên có thể hiểu theo nhiều chiều kích và phạm trù khác nhau. Do điểm nầy nên chú ý về cách trình bày.

Một cách ngắn gọn thì duyên khởi có nghĩa là “cái nầy có thì cái kia có” như trường hợp trong cõi dục giới thì có năm cảnh sắc, thinh, khí, vị, xúc; có năm dục trưởng dưỡng thì có năm pháp cái là tham dục, sân độc, hôn thuỵ, trạo hối, nghi hoặc; có năm pháp cái thì tâm không an định nếu không tu tập chỉ tịnh. Đây là một thí dụ về sự liên đới nếu nhìn theo thập nhị nhân duyên vẫn có thể được nhưng là những “mảng rời rạc”.

Thập nhị nhân duyên có thể hiều theo cách đại loại (marco) là sự hiện hữu rõ nét có thể nhận diện ngay trong cuộc sống hằng ngày thí dụ thấy ai có món gì rất đẹp nên sanh tâm thích thú rồi cố gắng tìm cách để có được được. Quá trình đó có thể nhận diện từ xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ và thủ duyên hữu.

Thập nhị nhân duyên cũng có thể hiểu theo cách vĩ mô (micro), một cách tinh xác nhất nếu y cứ theo Thắng Pháp Abhidhamma. Ở đây thập nhị nhân duyên có thể nói về sự tương tác giữa các sát na trong một diễn trình tâm thức. Điều nầy tương tự như chúng ta nói trái chuối là loại trái cây có nhiều dinh dưỡng như cách nói chung chung (marcro) nhưng chỉ có sự phân định chuẩn xác thì mới hiểu tại sao chuối có nhiều potassium rất cần cho sức khoẻ mà rất hại cho người bị bệnh đường huyết.

Thập nhị nhân duyên cũng có thể hiểu theo “tam sinh”: đời trước, đời nầy, và đời sau trong tiến trình sanh tử.  Theo cách nầy thì vô minh, hành thuộc kiếp trước. Thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu thuộc đời nầy. Sanh, lão tử thuộc đời sau. Đây là cách trình bày rộng rãi nhất về tiến trình luân hồi cho chúng ta có cái nhìn đại quan về sự hiện hữu của chúng sanh.

Với những điểm trên thì cách trình bày nào cũng có vẻ như phiến diện. Giống như mô tả về một toà lâu đài theo du khách, theo người cư trú, theo kiến trúc sư đều đúng nhưng không giống nhau. Phải rất cởi mở và hiểu đang nói ở phạm trù nào mới không có sự phản bác đối với những dị biệt.

Những trình bày về mười hai nhân duyên trong bài nầy cố gắng bắt đầu từ định nghĩa của mỗi duyên sanh, sự liên đới giữa mấu chốt nầy sang mấu chốt khác và nói theo cách gần gũi dễ hiểu nhất. Nếu cần đi xa hơn, như giảng theo Thắng Pháp, thì xem như là phần phụ chú.  Nên nhớ đây là đề tài rất tế nhị và khó trình bày trong Phật học.

Bài học ngày 29 tháng 8, 2022:

Vô Minh Duyên Hành (avijjā paccayā sankhārā)

Vô minh - avijjā - được định nghĩa là không rõ biết. Sự không rõ biết được đề cập với nhiều phương diện mà hai điểm chính là không phân biệt được khổ đau, hạnh phúc; và không rõ nơi xuất phát và điểm đến. Sự không rõ biết là bản chất mà từ đó tạo nên những hiện tượng tưởng là không liên hệ. Phải thấy được vô minh không đơn giản chỉ là sự không sáng suốt mà còn là một động lực mãnh liệt chi phối tất cả sở hành.

Khi nói vô minh là không phân biệt được khổ đau và hạnh phúc thì theo ngôn ngữ Phật học là sự không nhận rõ cái gì sự khổ, nhân sanh khổ, sự diệt khổ và con đường đưa đến diệt khổ. Thí dụ như một người mới khởi nghiệp với quan niệm rằng mình khổ vì không có tiền và giải pháp là vay tiền mượn nợ để trang trãi những chi tiêu. Cái nhìn đó không giúp giải quyết được  vấn đề mà tạo nên nhiều hệ luỵ khác. Không biết rõ vấn đề là gì thì không thể đưa ra giải pháp.

Khi nói vô minh là không rõ nơi xuất phát và điểm đến có nghĩa là không biết rõ quá khứ, tương lai và tương quan quá khứ với tương lai (Pubbanta, aparanta, pubbantāparanta). Do sự tự nhiên không biết từ đâu đến và sẽ đi về đâu cũng như sự liên hệ chằng chịt giữa điểm nầy và mấu chốt kia nên gây ra vô số quyết định sai lầm. Có thể thí dụ như một người làm một hành trình mà điểm xuất phát và điểm đến đều không biết thì đúng là “lênh đênh giữa trùng khơi”

Nói đến vô minh thì bản chất là không thật sự thấy biết mà hiện tượng là thái độ sầu, bi, khổ, ưu, ai. Thí dụ như chúng ta rất khổ khi một người thân vĩnh viễn ra đi. Nếu thật sự hiểu về sự vô thường thì sẽ không có bi luỵ như vậy. Sự mong mõi hay bám víu khác với thực tướng các pháp khiến chúng ta khổ.

Sự không rõ biết của vô minh không đơn thuần là “không biết thì nằm đắp chiếu” mà là một động lực mãnh liệt đằng sau tất cả sở hành. Có thể thí dụ như một người năng động khi không có một nhận thức cái gì nên làm do vậy lăng xăng làm cái nầy cái kia. Thoạt nhìn có vẻ như tích cực cho cuộc sống kỳ thật chỉ là biểu hiện của sự không biết rõ cái gì nên làm.

Hành – sankhārā - được định nghĩa là sự tạo tác trong mọi hình thái. Những tạo tác sai lầm, muốn vui mà chuốc khổ, gọi là phi phúc hành (apuññābhisaṅkhāra), . Những tạo tác tương đối chính xác hơn, muốn vui mà biết đúng cách tạo niềm vui, gọi là phúc hành (puññābhisaṅkhāra), . Những tạo tác vượt lên trên những hạn cuộc vui khổ thông thường (…) gọi là bất động hành (āneñjābhisaṅkhāra).. Dù ở phạm trù nào trong ba điều vừa kể đều bị chi phối bởi vô minh. Cũng có thể hiểu theo cách thông thường hành chỉ cho tất cả tạo tác của thân, ngữ, ý trong đời sống hằng ngày.

Vô Minh Duyên Hành (avijjā paccayā sankhārā) được hiểu theo nhiều phạm trù nhưng một cái đại lược nghĩa là chính do sự mù mở là động lực khiến tạo nên tất cả sở hành trong cuộc sống. Động thái nầy có thể hiểu như câu “điếc hay ngóng, ngọng hay nói”. Sự thiếu hiểu biết về những bí ẩn của cuộc sống khiến chúng sanh hành động và từ đó tạo nên vô số hệ quả. Có thể nêu là một số trường hợp: niềm tin là thiên đàng là nơi hạnh phúc nhất, niềm tin là giết những chúng sanh mang lại hạnh phúc; niềm tin là tự tử là chấm dứt tất cả khổ đau; niềm tin là sanh về cảnh giới nào đó sẽ vui hưởng vĩnh hằng; niềm tin là tế tự dẫn đến cảnh giới an lạc; niềm tin là sự giải thoát đích thực đến từ khổ hạnh ép xác; niềm tin là chết là hết; niềm tin là bây giờ mình thế nào kiếp sau cũng linh hồn như vậy… tất cả niềm tin nầy tạo nên nếp sống và sở hành. Đó là tại sao chính vô minh duyên cho hành.

Bài học ngày 05 tháng 09, 2022:

Hành Duyên Thức (saṇkhārapaccayā viññāṇaṃ)

Đây là một trong những mấu chốt có nhiều cách giải thích khác biệt trong duyên sinh. Mặc dù trên căn bản có sự đồng thuận là trọn đề tài duyên khởi phải được hiểu theo nhiều phạm trù: tam sinh hoặc ngay trong hiện kiếp; quy mô hoặc vĩ mô; Kinh tạng hay Thắng Pháp Tạng tuy nhiên có những tranh luận và giải thích khác biệt giữa các học giả nổi tiếng. Đơn cử là ngài Buddhaghosa trong Thanh Tịnh Đạo thì nghiêng về cái giải thích theo “ba đời” trong lúc ngài Buddhadasa thì nhấn mạnh cách hiểu duyên khởi trong kiếp hiện tại. Ngài Payutto thì dung hợp. Sự trình bày ở đây không mang tánh biên khảo mà là cố gắng để trình bày theo cách dễ hiểu.

Trước hết “hành (saṇkhāra)” phải được hiểu theo cả hai phương diện hiện tượng và bản chất. Trên phương diện hiện tượng là hành vi tạo tác của thân, ngữ, ý. Trên phương diện bản chất thì hành  là chủ tâm tạo tác  (cetanā).  Có thể nói hành ở đây đồng nghĩa với nghiệp (kamma). Tuy nhiên nếu xem hành hoàn toàn đồng nghĩa với nghiệp thì chỉ hiểu “hành duyên thức” theo một phương diện. Đây là điều phải hết cẩn thận.

Trong cách hiểu “hành duyên thức” nghĩa là hành động tạo tâm quả dị thục (vipāka) nghĩa là chính những tạo tác kết thành thức tái sanh (paṭisandhi viññāṇa). Đây là mối nối giữa hai đời. Nói chi tiết hơn theo Thắng Pháp Abhidhamma thì 12 tâm bất thiện và 17 tâm thiện tạo nên 19 tâm quả làm việc tục sinh. Nhưng Thắng Pháp cũng giải thích là thức trong duyên khởi bao gồm cả 32 tâm quả (…). Đi xa hơn có thể nói tiềm thức (bhavaṅga) đóng vai trò chi phối quan trọng trong cuộc sống. Tiềm thức được xác lập bởi thức tái sanh. Thức tái sanh là kết quả của nghiệp thiện và bất thiện của những kiếp quá khứ.

Trong cách hiểu khác, “hành duyên thức” nghĩa là chủ tâm hành động tạo nên nhận thức chủ quan trong cuộc sống. Ngài Payutto đưa ra thí dụ: cũng là miếng đất trống nhưng có sự khác biệt trong cái nhìn của trẻ em thích chơi đùa, nhà đầu tư tìm cơ hội ra vốn, nhà nông thường nghĩ tới loại đất nào thích hợp cho hoa mầu, nhà xây dựng nghĩ tới việc quy hoạch xây cất.  Nói theo thuật ngữ Phật học thì nếu giải thích theo phương diện nầy thì hành uẩn có ảnh hưởng lớn đối với thọ uẩn, tưởng uẩn và thức uẩn. Sự liên đới nầy không nhất thiết là tác nhân và quả dị thục. Cũng nên nói thêm là Thắng Pháp Abhidhamma nói về sự tương quan nầy qua duyên hệ (paccaya) chứ không nêu rõ trong bảng liệt kê về pháp là quả, pháp là nhân, pháp không là nhân mà cũng chẳng là quả. Nên hiểu cái nhìn chủ quan có mặt trong cả tâm thiện, tâm bất thiện và tâm quả. Những giác quan như thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác không đơn thuần là sự nhận biết cảnh tốt hay cảnh xấu mà con mang đặc tính chủ quan do nghiệp tạo (…)

Hai cách giải thích trên tạo nên hai ngã rẽ trong cách giải thích thập nhị nhân duyên. Một là giải mười hai nhân duyên theo “ba sinh” là đời trước, đời nầy và đời sau. Hai là toàn bộ mười hai nhân duyên được giải thích trong kiếp hiện tại, thậm chí trong khoảnh khắc ngắn ngủi. Nên nhớ là Đức Phật giảng pháp theo cả hai cách như Phật ngôn:  Này trưởng thôn, nếu Ta giảng cho ông về nguồn gốc của khổ và sự diệt khổ dựa vào sự kiện trong quá khứ, nói rằng: “Trong quá khứ nó như vậy”, có thể ông sẽ khởi lên hoang mang và nghi ngờ. Và nếu Ta giảng cho ông về nguồn gốc của khổ và sự diệt khổ dựa vào sự kiện trong tương lai, nói rằng: “Trong tương lai nó sẽ như vậy”, có thể ông sẽ khởi lên hoang mang và nghi ngờ. Này trưởng thôn, thay vào đó, khi Ta đang ngồi đây, và ông đang ngồi ở đó, Ta sẽ giảng cho ông nghe về nguồn gốc của khổ và con đường diệt khổ. Hãy lắng nghe và chú tâm thật kỹ, Ta sẽ nói. (Tương Ưng BK IV, phần số XI: Bhagandha-Hatthaha, tr. 512-517) (bản dịch của HT Thích Minh Châu). Nói như vậy không có nghĩa là Đức Phật chỉ dạy rằng sự tồn tại của chúng sanh chỉ có một kiếp nầy.

Bài học ngày 12.9.2022

Thức Duyên Danh Sắc (nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṃ)

Thức duyên danh sắc là phần khó hiểu nhất trong giáo lý duyên khởi. (Cũng có thể nói phần tiếp theo là “danh sắc duyên lục nhập” cũng có phần khó hiều gần như vậy). Danh sắc trong ý nghĩa đại lược là tâm pháp và sắc pháp. Nói cách khác là thân và tâm.  Những ý nghĩa chồng lấn của từ vựng có thể làm rối trí. Để hiểu phần nầy cần nhìn chi tiết qua cả hai phương diện đại loại và vĩ mô. Cách giải thích theo Thắng Pháp Tạng cũng có những chi tiết rất khác biệt với Kinh Tạng. Bốn trường hợp sau đây là bốn cách hiểu về thức duyên danh sắc nên tìm hiểu một cách kiên nhẫn và khách quan.

Ý nghĩa thứ nhất, thức duyên danh sắc có nghĩa là trạng thái tâm có tác động nhất định đối vối thân tâm. Điều nầy có nghĩa là tâm tác động tâm mà cũng tác động thân. Thí dụ một người có tâm hận thù thì chính lòng hiềm hận chi phối nội tâm và sắc diện cũng như sức khoẻ. Điều nầy tương tự như cách nói của người đời: “tướng tự tâm sinh” . Tác động nầy mang tính trực tiếp và luôn xẩy ra trong đời sống hằng ngày con người. Theo Thắng Pháp thì sắc trong ý nghĩa nầy thuộc về “sắc tâm”

Ý nghĩa thứ hai, thức duyên danh sắc nghĩa là thức tái sanh tạo nên chủng loại và do chủng loại tạo nên các căn (danh sắc duyên lục nhập). Điều nầy có nghĩa là thức tái sanh có mãnh lực định hình tâm lý và sinh lý của một chủng loại chúng sanh từ đó tạo nên những giác quan. Như trường hợp thức tái sanh của loài chó tạo nên những đặc tính về tâm pháp và sắc pháp rồi từ đó cấu thành các giác quan như thị giác, thính giác… khác biệt với những chủng loại khác. Theo Thắng Pháp thì sắc trong ý nghĩa nầy thuộc về “sắc nghiệp”.

Ý nghĩa thứ ba, thức duyên danh sắc là một hiện tượng đồng sanh mà thức uẩn làm chủ vị. Điều nầy cần hiểu rõ theo Thắng Pháp Abhidhamma. Nói về sự hiện hữu của chúng sanh thì thức uẩn là chính và ba uẩn thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn là sự gắn kết bất khả phân – và sắc pháp hay xác thân cũng liên hệ với thức uẩn. Từ ý nghĩa nầy những nhà dịch thuật Trung Hoa thời xưa gọi thức uẩn là “tâm vương”; thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn là “tâm sở”. Thí dụ như khi nói về một vương triều thì phải nói đến vị vua là chính nhưng không thể không nói đến triều thần. Có một liên hệ bất khả phân nhưng giữa các thành tố đồng sanh thì thức uẩn đóng vai trò chủ yếu. Có thể hiều nôm na như thành ngữ “rau nào thì sâu nấy”. Theo Thắng Pháp sự liên hệ nầy không còn là “nghiệp duyên” hay “quả duyên” mà là “đồng sanh duyên”.

Ý nghĩa thứ tư, thức duyên danh sắc được hiểu một cách phổ quát là “tâm dẫn đầu các pháp”. Các pháp ở đây là các hiện tượng tâm lý và vật lý (danh và sắc). Với cách hiểu nầy thì thức là “niệm thiện” hay “niệm ác” ở mỗi chúng sanh từ đó tạo nên hành động tốt xấu dẫn đến vui khổ. Cách hiểu nầy rất giống như hai kệ ngôn đầu tiên trong kinh Pháp Cú nhưng hầu như không tìm thấy trong các bản Sớ giải truyền thống và có phần thiếu tinh xác mặc dù tương đối dễ hiểu.

Mặc dù trong duyên sinh nầy danh sắc có nghĩa là hai hiện tượng tâm lý và vật lý nhưng mấu chốt nầy không nhất thiết luôn luôn có cả hai danh và sắc. Chúng sanh trong cõi vô tưởng chỉ có sắc mà không có danh. Ngược lại chúng sanh trong cõi vô sắc chỉ có danh mà không có sắc. Dù là ở những cõi đó chỉ có mộ trong hai nhưng vẫn được đề cập trong cả hai mấu chốt thức duyên danh sắc và danh sắc duyên lục nhập (….)

Nên lưu ý khi nói về mười hai nhân duyên không thể giảng riêng lẻ từng chi phần mà phải giảng theo cách “liền mạch”. Nói cách khác, tuy rằng có tương tự về ý nghĩa nhưng phải đơn cử rõ ràng để thấy tại sao pháp nầy tạo thành do pháp kia và tại sao tạo hệ quả để sanh khởi pháp kế tiếp. Nếu không như vậy thì sẽ hiểu sai giáo lý duyên khởi.

Bài học ngày 19.9.2022

Danh sắc duyên lục nhập (nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṃ)

Lục nhập nghĩa là sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý căn làm cơ sở cho sáu giác quan. Cuộc sống theo Phật Pháp là sự hoạt động của sáu giác quan. Sáu căn tuy luôn có nhưng vẫn có hai trạng thái hoạt động và không hoạt động. Giống như trong Anh ngữ nói về máy móc thì có hai “chế độ” ON và STANDBY. Theo Thắng Pháp thì không thể có hai tâm sanh trong một lần. Điều nầy có nghĩa là những tâm nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức.. không thể đồng hiện hữu một lần mà mỗi khoảnh khắc chỉ có một thứ tâm. Khi những tâm nầy sanh khởi thì các căn phải được kích hoạt. Sự xen lẫn thường quá nhanh nhiều khi tạo ra cảm giác là cùng lúc nhãn thức, nhĩ thức đồng sanh khởi như khi xem chương trình văn nghệ hay đang ăn với sự thưởng thức thức hương và vị…

Đây là mắt xích trong duyên sinh mà chữ “paccaya – duyên” cần phần rõ trong hai tính cách là “tạo nên” và “tác động”. Nên hiểu tương quan dây chuyền của cả hai mấu chốt “thức duyên danh sắc” và “danh sắc duyên lục nhập” để có thể hiểu rõ cả hai cách giải thích của phần nầy. Thắng Pháp Abhidhammma cũng có cách giải chữ “duyên” theo cách đồng sanh thí dụ thức là thức uẩn; danh (trong danh sắc) là ba uẩn còn lại thức thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn. Vấn đề là nếu đồng sanh thì sao có thể gọi là tạo nên hay trợ giúp? Điều nầy được giải thích qua “duyên hệ” (…)

Trong ý nghĩa “tạo nên” thức duyên danh sắc có nghĩa thức tái sanh tạo nên chủng loại của thân tâm. Như trường hợp danh sắc của chư thiên khác với loài người, và từ danh dắc, cấu thành các căn. Danh sắc, hay chủng loại sai biệt, thì các căn sai biệt. Cũng là nhãn căn nhưng nhãn căn của chư thiên không giống loài người, nhãn căn loài người không giống loài chó… Bản Sớ Giải của Thắng Pháp Tập Yếu nêu lên trường hợp sự hình thành các căn đối với loài thai sanh là trường hợp đặc trưng của danh sắc duyên lục nhập. Tất nhiên trường hợp hoá sanh thì cần hiểu khác. Trong cách hiểu nầy thì danh sắc duyên lục nhập xầy ra vào thời điểm khởi đầu kiếp sống.

Trong ý nghĩa “tác động” thức duyên danh sắc là những trạng thái tâm thức tác động cả hai tâm lý và sinh lý chúng sanh. Khi tâm, sinh lý được tác động thì các căn cũng hoạt động theo chiều hướng tương xứng. Thí dụ hình ảnh “cơn mưa chiều chủ nhật” nhưng đối với một nhà thơ, một người buôn bán, một người đang thất tình sự cảm nhận có khác biệt mà dù sắc tướng, âm thanh cũng giống nhau. Thắng Pháp Abhidhamma nêu lên một yếu tố khiến các giác quan như thị giác, thính giác, khứu giác… sanh khời là “sự chú ý đối với cảnh” nói cách khác không có sự chú ý thì các căn không hoạt động. Mà sự chú ý là một trong những biểu hiện của thức và danh sắc. Trong cách hiểu nầy thì “danh sắc duyên lục nhập” xẩy ra hằng ngày trong cuộc sống mỗi khi các giác quan hoạt động.

Ở mắt xích nầy của giáo lý duyên khởi nên nhắc lại là có hai cách giải thích về duyên khởi một là theo “tam sinh” (hay ba đời quá khứ, hiện tại, tương lai); hai là cách hiểu về sự tác động tâm, sinh lý ngay trong hiện tại với đủ cả 12 mắt xích. Cả Kinh Tạng và Thắng Pháp Tạng đều giải thích mười hai duyên sinh theo cả hai cách. Không nên có thái độ là lựa chọn một cách giải thích nầy để phú nhận cách giải thích kia.

Bài học ngày 25.9.2022

Lục nhập duyên xúc (saḷāyatanapaccayā phasso)

Xúc là sự giao thoa giữa căn, cảnh, và thức. Đây là điểm tương tác giữa các căn và cảnh qua các căn. Qua ngôn ngữ thì tiến trình như rất chậm kỳ thực thì xúc hiện khởi ở mức độ cực vi. Thí dụ như một người thợ sửa máy móc giải thích về sự hoạt động của các mạch điện qua cách tương tác giữa các linh kiện thoạt nghe thì xẩy ra thứ lớp nhưng thực tế tất cả chỉ diễn ra trong một tích tắc.

Lục nhập duyên xúc có nghĩa là các căn như mắt, tai, mũi, lưỡi…. vốn có những tánh cách quyết định đối với sự bắt cảnh, cảm thụ cảnh, và tương tác với cảnh. Điều nầy từng được đơn cử trước đây là các căn (lục nhập) của chư thiên, loài người, loài vật .. không giống nhau, do vậy, sự thấy, nghe, ngửi, nếm.. cũng khác biệt mặc dù cùng là cảnh.  Xúc được hiểu là hoạt động của các giác quan mà lục nhập được hiểu là “cơ địa” của mỗi chúng sanh.

Chữ “duyên” trong “lục nhập duyên xúc” có nghĩa là sự chi phối tạo nên tính cách hay hạn cuộc. Thí dụ cùng một món ăn nhưng sự nếm trãi của sanh loại nầy khác với sanh loại kia. Nói cách khác cái ngon hay không ngon hoặc thích hợp hay không thích hợp không hoàn toàn ở cảnh mà còn ở các căn. Mặc dù các căn luôn luôn có nhưng sự “kích hoạt” các căn tuỳ thuộc rất nhiều bởi những yếu tố khác. Cùng có mặt trong một da tiệc nhưng cái thấy, các nghe, cái nếm có khác biệt giữa người nầy với người kia.

Các căn tạo nên tánh cách chủ quan nhưng không phải chủ quan do cái nhìn mà còn do nghiệp và thói quen chi phối. Thí dụ như có những động vật chỉ ăn cỏ thì không thể ăn thịt, hay ngược lại, điều nầy không nằm ở sự chủ quan qua cái nhìn mà do chủng loại vốn tạo nên bởi nghiệp quá khứ (….). Người ta thường nói về thái phản ứng đôi với cảnh theo cách chủ quan nhưng sự bắt cảnh, tìm cảnh, cảm thụ cảnh cũng mang tính chủ quan. Chủ quan ở đây là nằm ở hạn cuộc các căn. Điều nầy giải thích tại sao trong Thắng Pháp Abhidhamma nói về cảnh tốt hay xấu (quả thiện hay quả bất thiện) đối với năm cảnh sắc, thinh, khí, vị, xúc vốn quyết định ngay từ sát na “ngũ song thức” chứ không ở những sát na “xử lý -javana”

Sự bắt cảnh không hẳn là thụ động khi cảnh xuất hiện mà còn do nghiệp, do thói quen, do nhu cầu, do khuynh hướng. Điều nầy có thể hiểu qua thí dụ một khu rừng đối với một nhà nghiên cứu sinh vật, một người thích ngắm chim muông, một người tu thiền thì những thấy, nghe … mang cả hai tánh thụ động và năng động.

Những đặc điểm của các căn như mắt tinh, tai thính.. thường nói lên đặc tính của các căn hơn là khả năng chú ý. Ngay cả trong kinh cũng đề cập một người có phước khi lưỡi nếm vị thì vị giác tinh tế hơn người bình thường. Dĩ nhiên sự hoạt động của các căn cũng tuỳ thuộc nhiều yếu tố khác như mắt thấy cảnh sắc rõ ràng một phần nhờ vào ánh sáng mờ hay tỏ nhưng cũng tùy thuộc rất nhiều vào con mắt (nhãn căn)

Bài học ngày 3.10.2022

Xúc duyên Thọ (phassapaccayā vedanā)

Thọ - vedanā - chỉ cho cảm thọ khổ, lạc, xả. Thọ là một đề tài lớn trong Phật học. Đây là một thuật ngữ dễ lẫn lộn trên cả hai phương diện văn và nghĩa. Những học giả Trung Hoa thời xưa dịch chữ vedanā là thọ trong ý nghĩa cảm nhận. Đây làn sự cảm nhận sơ khởi chứ không phải là cảm xúc phản ứng đối với cảnh. Sớ Giải Thắng Pháp - (Atthasālinī, I, phần IV, chương I,  trang 109) đưa ra thí dụ thọ giống như người chuyên nếm thực phẩm cho nhà vua. Người nếm không phải là hưởng thụ. Trong Anh ngữ người ta thường dùng chữ feeling để dịch vedanā nhưng đó là cách dịch dễ hiểu mà lại thường gây ngộ nhận. Một số những dịch giả uy tín hôm nay dùng cụm từ bare affective quality of an experience (sự trải nghiệm đơn thuần ban đầu) để giải thích chữ nầy. Phản ứng thương, ghét, bình thảnh đối với cảnh thuộc về hành uẩn trong lúc cảm nhận sơ bộ thuộc về thọ uẩn.

Nên lưu ý các mắt xích: thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ trong thập nhị nhân duyên là quả của nghiệp. Nói cách khác những cảm thọ ở đây không thuộc về ý chí. Ngay cả các bậc hoàn toàn giải thoát trong thời gian hữu dư niết bàn vẫn có những cảm thọ nầy. Trong phạm trù vĩ mô thì cảm thọ là khía cạnh “bị động” của tâm đối với cảnh. Giống nhưng màn hình cảm biến của điện thoại thông minh một khi còn hoạt động thì còn có những hiệu ứng khi chạm vào. Trạng thái gần nhất đối với vô dư niết bàn mà một bậc A la hán chứng nghiệm là nhập diệt thọ tưởng định (…).

Trong một thí dụ tương đối gần thì cảm thọ giống như vết thương không băng bó nên rất nhạy cảm. Vết thương có thể rát buốt khi bị chạm vào, cũng có thể dễ chịu vì được gãi đả ngứa, mà cũng có thể chai lì vì kéo dài. Phải hiểu thí dụ nầy mới lãnh hội câu trả lời của Tôn giả Sāriputta khi có người hỏi có hạnh phúc nào không có cảm thọ thì Ngài dạy rằng: “không cảm thọ là chân hạnh phúc”.  Không nên hiểu thọ xả là một thứ bản lãnh bình đạm trước mọi tình huống. Bản lãnh đó có thọ xả. Nhưng thọ xả thường không phải là bản lãnh đó.

Xúc duyên thọ có nghĩa là khi căn, cảnh, thức giao thoa thì cảm thọ sanh khởi. Giống như một du khách đến vùng đất lạ. Vì có mặt ở một nơi lạ lẫm tạo nên cảm giác. Không thể có xúc mà không có thọ. Nên đặc biệt lưu ý điểm nầy: theo Thắng Pháp thì tất cả tâm đều có hai thuộc tánh xúc và thọ đồng sanh và đồng diệt. Xúc trong thập nhị nhân duyên là “sự trạng cọ xát giữa căn, cảnh, và thức”  chứ không phải một thuộc tánh (tâm sở) xúc làm phần hành của một bộ phận của tâm đối với cảnh. Thọ cũng phải hiểu trong phạm trù khác với thuộc tánh thọ có mặt trong tất cả tâm.

Bài học ngày 10 tháng 10, 2022

Thọ Duyên Ái (vedanāpaccayā taṇhā)

Ái (taṇhā) là sự khao khát. Tất cả khát khao chỉ có thể đáp ứng nhất thời nhưng không bao giờ thoả mãn hoàn toàn. Có ba thứ ái. Dục ái (kāma-taṇhā): Là sự khao khát đối với năm cảnh dục (sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc lạc). Hữu ái (bhavataṇhā): là sự khao khát trở thành một trạng thái nào đó hay một cá thể tồn tại như muốn trở thành một triệu phú, một người hùng, một vị thiên… đây là khát vọng liên hệ tới bản ngã hằng hữu hay thường kiến. Phi hữu ái (vibhavataṇhā): là sự khao khát trốn thoát trạng thái hay sự hiện hữu không vừa lòng. Trong hình thức thô thiển nhất của vô hữu ái là biểu hiện buồn chán, tự ti, cô đơn, muốn tự huỷ. Hình thức tế nhị hơn là chấp thủ đoạn kiến.

Thọ duyên ái là cảm thọ khổ, lạc, xả tạo nên khao khát. Khi cảm thọ dễ chịu, vừa lòng thì ưa thích và mong muốn có thêm. Khi cảm thọ khó chịu, trái ý nghịch lòng thì khao khát được thay đổi, được thay thế bằng cái gì thoải mái hơn. Khi cảm thọ xả thì tạo thì có thể tạo nên trạng tháng tự mãn, hững hờ. Thọ xả cũng có thể là là trạng thái hạnh phúc tinh tế có thể dẫn đến ái chấp và khát vọng xa hơn. Như vậy là cả ba cảm thọ khổ, lạc, xả đều là tác động để tạo ra ái.

Mắt xích thọ duyên ái là một tiêu biểu rõ nét của ý nghĩa quả nghiệp tạo nên phiền não trong ba luân chuyển: nghiệp, quả, phiền não. Khi quả nghiệp sanh khởi (thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ) thì chúng sanh gần như ở thế bị động vì không làm chủ được cái gì xẩy ra và sự cảm nhận đối với thế giới khách quan cũng vậy.

Tự sự cảm nhận đối với cảnh sanh ra ái là thời điểm mà ý chí tu tập và tuệ giác có thể can thiệp. Hoặc phản ứng theo bản năng cố hữu “thọ duyên ái”. Hoặc thắp sáng tuệ giác để không khao khát có cái vừa lòng trong tương lai mà bực bội với các không vừa lòng. Ý chí tu tập nầy không đơn giản chỉ bằng sự suy nghĩ mà có được. Khát vọng khi cảm thọ sanh khởi là tập tánh lâu đời vốn ăn sâu trong tâm thức của chúng sanh.

Ái dục và vô minh là hai lực đẩy lớn trong vòng sinh hoá của chúng sanh. Ái dục thể hiện ở hình thức thô thiển nhưng nóng lòng ham muốn thế nầy thế kia. Ái dục cũng có thể hiện khởi với hình thức tế nhị như thích cái gì đối lập với sự nông nỗi bồng bột. Thí dụ một người ưa chuộng sự giản dị bình đạm không có nghĩa là không khát vọng.

Bài học ngày 10 tháng 10, 2022

Ái Duyên Thủ (taṇhāpaccayā upādānaṃ)

Thủ upādāna – là bám víu, dính mắc, chấp th đối với những gì thích hoặc không thích. Sự chấp thủ nầy tạo nên sự lượng định đối với các pháp mà bản thân ưa thích hay kỳ vọng. Thủ là động lực đủ mạnh để tạo nên hành động hay nghiệp. Mấu chốt nầy cần phải hiểu và nhận diện đối với người tu tập. 

Ái duyên thủ là sự ưa thích tăng mạnh tạo nên bám víu. Do quá ưa thích nên không thể buông xả và từ đấy tạo nên phản ứng nhất định nào đó đối với cảnh. Khi một người quá thích thú cái gì, t mình cột bản thân vào đó, gắn liền với cái đó. Cái gì liên hệ tới cái đó được xem là tốt. Ngược lại cái gì trái ngược với cái mình thích thì xem là xấu và tự cảm thấy như bị tấn công, xúc phạm, đụng chạm bởi cái mình không thích.

Biểu hiện của thủ được nhận diện qua bốn hiện tượng:

a.    Dục thủ hay bám víu vào những gì cảnh tượng ưa thích (kāma)

b.    Kiến thủ là sự bám víu vào quan điểm hay cái nhìn (diṭṭhi)

c.     Giới cấm thủ là sự bám víu vào giáo điều hay tập tục (sīlabbata) với kỳ vọng sẽ đạt được điều gì đó.

d.    Ngã chấp thủ là sự gán ghép quan niệm về “tôi” hay “của tôi” đối với sự truy cầu hoặc bảo vệ cái gì đó…

Thông thường sự ưa thích (ái) và dính mắc (chấp thủ) được xem là một nhưng kỳ thật là hai trạng thái khác biệt. Khi chiêm nghiệm kỹ thì ba thứ ái (dục ái, hữu ái, phi hữu ái) là giai đoạn trước rồi tứ thủ (dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã chấp thủ) là giai đoạn sau. Tác động của ái duyên thủ có thể là quãng thời giai dài mà cũng có thể trong khoảnh khắc. Thí dụ nhận ra một món đồ ưa thích có thể trả ngay một giá cao để mua về hay trãi qua một thời gian dài mới mua.

Trong ngôn ngữ bình thường ái có thể xem là hiện tượng và thủ có thể xem là bản chất. Thí dụ một người do ưa thích một chính đảng (ái) nên nhiệt liệt ủng hộ một ứng cử viên thuộc chánh đảng đó (thủ). Tuy vậy trong giáo lý duyên khởi thì khái niệm bản chất và hiện tượng thường không chuẩn xác (…) mà chỉ nên nói do có cái nầy nên có cái kia.

Sự liên hệ giữa ái và thủ mở ra một cơ hội cho người tu tập can thiệp vào lực đẩy tự nhiên của cuộc sống. Có thể hành giả vẫn ưa thích (hay không ưa thích) với những gì đang trãi nghiệm nhưng có thể dừng lại không đi xa hơn trở thành “thủ” nhờ vào sự tu tập của giới, định, tuệ.

Phải học cả hai mắt xích “ái duyên thủ” và “thủ duyên hữu” thì mới nhận ra tính cách riêng biệt và ảnh hưởng to lớn của thủ trong đời sống hằng ngày. Và cũng từ đó thấy rằng động lực sâu xa của hành vi tạo tác (nghiệp) không phải hoàn toàn do hoàn cảnh bên ngoài mà là từ phiền não nội tại. Cả bốn thủ là dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã chấp thủ đều là phiền não ở mỗi chúng sanh. Do điểm nầy nên mỗi chúng sanh phải chịu trách nhiệm về hành động tạo tác của mình.

Bài học ngày 24.10.2022

Thủ Duyên Hữu (upādānapaccayā bhavo)

Hữu là sự tồn tại theo ý nghĩa tạo và bị tạo. Thuật ngữ bhava thường được dịch là “hữu” trong Hán Việt mang nhiều ý nghĩa cần được phân định. Trong Anh ngữ người ta thường dịch là “một trạng thái tồn tại (particular state of existence) hoặc giả là “cấu trình tạo thành (becoming)” thí dụ  danh từ “học sinh” không phải chỉ cho một cá nhân cố định mà là một người đang được học, được đào tạo. Nói cách khác là hữu là sự hiện hữu với quá trình hình thành từng phút từng giờ. Quá trình đó bao gồm nghiệp hữu (kammabhava) và sanh hữu (uppatti-bhava). Nghiệp hữu chỉ cho hành vi tạo tác. Sanh hữu chỉ cho tất cả cuộc sống tác động bởi hành động tạo tác. Thí dụ những hành động ăn trộm, buôn bán là nghiệp hữu. Từ những hành động nầy tạo nên lối sống, cách sống tương thích với hành động gọi là sanh hữu.

Thủ duyên hữu là chính do sự chấp thủ dẫn đến hành động tạo tác và những hệ quả liên quan. Cuộc sống là mà quá trình tồn tại sinh động của tạo tác. Ngay cả vì lý do gì đó lựa chọn lối sống thụ động biếng nhác không làm gì thì cũng là một sự tồn tại có nhân quả. Sự hiện hữu của của chúng sanh không “hằng hữu” mà là “hằng chuyển”. Nói cách khác là do y cứ hay chấp thủ vào cái gì đó khiến hành động và lăn trôi theo bao nhiêu tác động lớn nhỏ, trực tiếp hay gián tiếp. Có thể hiểu như những người di dân đến vùng đất mới. Mỗi người đều có hoàn cảnh riêng. Mỗi bối cảnh sống bắt nguồn tự sự lựa chọn để rồi tạo lập cuộc sống. Không có sự tồn tại đứng yên nguyên trạng. Không có sự tồn tại nào nằm ngoài sự tạo tác và hệ quả của sự tạo tác. Để tạo tác chúng sanh dựa trên quan niệm rất riêng gọi là chấp thủ.

Cũng như trường hợp “vô minh duyên hành” khi nói đến “thủ duyên hữu” thì nên hiểu là những hành động tạo tác dù hiền thiện, nhân lành, nghiệp tốt đều bắt nguồn từ “chấp thủ”. Mặc dù “thủ” bao gồm dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã chấp thủ nhưng “hữu” thì có tốt, có xấu. Chúng sanh tạo nghiệp lành do động lực từ “sự phán quyết” cái nầy là tốt, quả kia là quả lành, cuộc sống thế nọ là đáng sống…Tác động của thủ đối với hữu nên được hiểu từ mức độ rất thô thiển đến rất tế nhị nhưng quan hệ giữa “vô minh duyên hành”. Thí dụ như Tôn giả Ananda từng phát nguyện thành một thị giả của Phật toàn giác. Trên phương diện thiện ác thì đó là ước muốn tốt, hành động tốt, quả trỗ tốt. Nhưng trên phương diện tế nhị thì khi muốn “trở thành người thế nầy hay thế kia” vẫn là chấp thủ. Chư vị a la hán không chấp thủ nên mọi sở hành đều không là nghiệp.

“Hữu” còn mang ý nghĩa “chính hành vi tạo tác khiến người thấp hèn hay cao quý”. Hành động tạo tác hay nghiệp không phải chỉ tạo quả đời sau mà đóng vai trò “định hình” ngay trong cuộc sống nầy. Cũng sanh làm người nhưng chọn nghề nghiệp hay sở thích săn bắn hoặc theo đuổi con đường nghệ thuật văn hoá tạo nên hai con người khác biệt. Nhiều người nghĩ rằng chỉ có nghiệp từ kiếp trước tạo ra con người hiện tại. Kỳ thật là sự hỗn hợp pha trộn giữa quả nghiệp quá khứ và nhân tạo kiếp nầy. Sở hành trong cuộc sống tạo nên muôn vàn hình thái hiện hữu.

Quan niệm, sự lựa chọn hay “thủ” có thể tạo nên ngã rẽ cuộc cuộc sống. Thí dụ do muốn trở thành “người tốt” nên quyết tâm thọ trì ngũ giới hay tu bát quan trai. Một giai đoạn mới của cuộc sống bắt đầu. Đó là giai đoạn không sống bằng tập tính mà sống với ý chí vô hại, ý chí tu tập. Toàn bộ tiến trình tạo nên sự chuyển hoá trong cuộc sống. Tất nhiên là sự chuyển hoá có cái tốt hơn, có cái xấu hơn. Đây cũng là những mấu chốt nói lên khả năng can thiệp của ý chí trong giáo lý thập nhị duyên khởi.

Phần tiếp theo:  Hữu duyên Sanh

Biên soạn: Tỳ kheo Giác Đẳng

-ooOoo-