|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 26 tháng 10, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG X. TƯƠNG ƯNG DẠ XOA (S. i, 210).
Bài
8. Kinh Sudatta (Sudattasuttaṃ)
-TÂM AN VÀ TÂM BẤT AN.
Cuộc sống thường
nằm trong hai trạng thái bình an và bất an.
Cũng có trường hợp chính sự an lành tạo nên
nỗi bất an. Riêng trong câu chuyện nầy, một
người vì lòng tịnh tín cao độ nơi Phật mà tự
thân phát ra ánh sáng. Hiện tượng lạ nên
khiến người nầy hoảng hối. Sau khi lấy lại
bình tỉnh và trở lại với tâm tư hướng về
Phật ánh sáng lại hiện khởi. Niềm tin và nỗi
sợ hãi cứ giằng co nhau. Đến khi gặp Phật
thì lời thỉnh an cũng hỏi về sự bình an: ngủ
có an giấc chăng. Đức Điều Ngự từ ấy trả
lời: không bám víu dục lạc, không tuỳ thuộc
sở y nên cõi lòng thanh thản.
Gia chủ ngộ đạo.
Ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati sītavane. Tena kho
pana samayena anāthapiṇḍiko gahapati rājagahaṃ anuppatto
hoti kenacideva karaṇīyena. Assosi kho anāthapiṇḍiko
gahapati – ‘‘buddho kira loke uppanno’’ti. Tāvadeva ca pana
bhagavantaṃ dassanāya upasaṅkamitukāmo hoti. Athassa
anāthapiṇḍikassa gahapatissa etadahosi – ‘‘akālo kho ajja
bhagavantaṃ dassanāya upasaṅkamituṃ. Sve dānāhaṃ kālena
bhagavantaṃ dassanāya gamissāmī’’ti buddhagatāya satiyā
nipajji. Rattiyā sudaṃ tikkhattuṃ vuṭṭhāsi pabhātanti
maññamāno. Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati yena
sivathikadvāraṃ [sīvathikadvāraṃ (sī. syā. kaṃ. pī.)]
tenupasaṅkami. Amanussā dvāraṃ vivariṃsu. Atha kho
anāthapiṇḍikassa gahapatissa nagaramhā nikkhamantassa āloko
antaradhāyi, andhakāro pāturahosi, bhayaṃ chambhitattaṃ
lomahaṃso udapādi, tatova puna nivattitukāmo ahosi.
Atha kho sivako [sīvako (sī. pī.)] yakkho antarahito
saddamanussāvesi –
Thuở ấy Đức Thế Tôn ngự Rājagaha (Vương Xá), tại rừng Sīta
(Thanh Lương). Bấy giờ gia chủ Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc) đi
đến Rājagaha để làm
vài công việc. Ông ấy được nghe “Đức Phật (Bậc Đại
Giác) đã xuất hiện đời” nên muốn đi bái kiến Đức Thế Tôn
ngay lập tức. Nhưng ông lại nghĩ: “Đây không phải là lúc
thích hợp để diện kiến Đức Phật. Mình sẽ đi để gặp được Đức
Thế Tôn ngày mai”.
Ông nằm xuống với tâm tư hướng về Phật. Trong đêm ông thức
dậy ba lần vì tưởng là trời sáng.
Rồi gia chủ Anāthapiṇḍika rời nhà đi. Ông băng ngang
chỗ tống táng người chết được những phi nhân mở cổng. Sau
khi rời phố xá
ánh sáng chợt tắt rồi hiện ra. Ông hốt hoảng sợ hãi muốn
quay về.
Bấy giờ dạ xoa Sīvaka ẩn hình lên tiếng: Sataṃ kaññāsahassāni, āmukkamaṇikuṇḍalā; Ekassa padavītihārassa, kalaṃ nāgghanti soḷasiṃ. ‘‘Abhikkama gahapati, abhikkama gahapati; Abhikkamanaṃ te seyyo, no paṭikkamana’’nti. Atha kho anāthapiṇḍikassa gahapatissa andhakāro antaradhāyi, āloko pāturahosi, yaṃ ahosi bhayaṃ chambhitattaṃ lomahaṃso, so paṭippassambhi. Hàng trăm ngàn tuấn mã Hàng trăm ngàn thớt voi Hàng trăm ngàn xe ngựa Hàng trăm ngàn thiếu nữ Với trang sức lộng lẫy Không bằng một phần nhỏ Một bước chân đi tới. Gia chủ, hãy đi tới Gia chủ, hãy đi tới Đi tới tốt đẹp hơn Chớ thối chuyển quay bước
Ánh sáng rồi tắt rồi tái hiện nơi gia chủ Anāthapiṇḍika
nhưng nỗi sợ hãi không còn.
Dutiyampi kho anāthapiṇḍikassa gahapatissa āloko
antaradhāyi, andhakāro pāturahosi, bhayaṃ chambhitattaṃ
lomahaṃso udapādi, tatova puna nivattitukāmo ahosi.
Dutiyampi kho sivako yakkho antarahito saddamanussāvesi –
‘‘Sataṃ hatthī sataṃ assā...pe...
Atha kho anāthapiṇḍikassa gahapatissa andhakāro antaradhāyi,
āloko pāturahosi, yaṃ ahosi bhayaṃ chambhitattaṃ lomahaṃso,
so paṭippassambhi.
Lần thứ hai... (như trên)...
Tatiyampi kho anāthapiṇḍikassa gahapatissa āloko
antaradhāyi, andhakāro pāturahosi, bhayaṃ chambhitattaṃ
lomahaṃso udapādi, tatova puna nivattitukāmo ahosi.
Tatiyampi kho sivako yakkho antarahito saddamanussāvesi –
‘‘Sataṃ hatthī sataṃ assā...pe...
Atha kho anāthapiṇḍikassa gahapatissa andhakāro antaradhāyi,
āloko pāturahosi, yaṃ ahosi bhayaṃ chambhitattaṃ lomahaṃso,
so paṭippassambhi.
Lần thứ ba... (như trên)...Ánh sáng rồi tắt rồi tái hiện nơi
gia chủ Anāthapiṇḍika nhưng nỗi sợ hãi không còn.
Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati yena sītavanaṃ yena bhagavā
tenupasaṅkami.
Tena kho pana samayena bhagavā rattiyā paccūsasamayaṃ
paccuṭṭhāya abbhokāse caṅkamati. Addasā kho bhagavā
anāthapiṇḍikaṃ gahapatiṃ dūratova āgacchantaṃ. Disvāna
caṅkamā orohitvā paññatte āsane nisīdi. Nisajja kho bhagavā
anāthapiṇḍikaṃ gahapatiṃ etadavoca – ‘‘ehi sudattā’’ti. Atha
kho anāthapiṇḍiko gahapati, nāmena maṃ bhagavā ālapatīti,
haṭṭho udaggo tattheva bhagavato pādesu sirasā nipatitvā
bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘kacci, bhante, bhagavā
sukhamasayitthā’’ti?
Rồi gia chủ Anāthapiṇḍika đi đến Đức Thế Tôn tại rừng Sīta.
Bấy giờ đêm gần tàn trước rạng đông Đức Thế Tôn đang kinh
hành ngoài trời.
Ngài trông thấy gia
chủ Anāthapiṇḍika từ xa liền rời đường kinh hành đến chỗ
ngồi đã sắp sẳn và lên tiếng gọi gia chủ Anāthapiṇḍika:
“Sudatta hãy đến đây”.
Lúc ấy gia chủ Anāthapiṇḍika (hoan
hỷ, phấn chấn) nghĩ: "Đức Thế Tôn gọi tên ta", rồi quỷ
xuống đảnh lễ với trán chạm vào chân Thế Tôn và bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, Ngài ngủ có ngon không?”
(Đức Thế Tôn): Yo na limpati kāmesu, sītibhūto nirūpadhi. ‘‘Sabbā āsattiyo chetvā, vineyya hadaye daraṃ; Upasanto sukhaṃ seti, santiṃ pappuyya cetasā’’ti [cetasoti (sī.)]. Bà la môn tịnh lặng Không bám víu dục lạc Thanh lương, không sở y Luôn ngủ trong an giấc Tất cả ái đã dứt Đoạn ưu phiền nơi tâm An giấc trong thư thái Vì nội tại thanh thản
Ekassa padavītihārassa, kalaṃ nāgghanti soḷasiṃ = Không bằng một phần mười sáu của bước chân đi tới ‘‘Abhikkama gahapati, abhikkama gahapati = gia chủ hay đi tới, gia chủ hãy đi tới Abhikkamanaṃ te seyyo, no paṭikkamana’’nti = Đi tới tốt hơn, đừng quay bước. ‘‘Sabbadā ve sukhaṃ seti = quả thật luôn an giấc ngủ brāhmaṇo parinibbuto = bà la môn tịch tịnh Yo na limpati kāmesu = bậc không bám víu dục lạc sītibhūto nirūpadhi = thanh lương, không sở y ‘‘Sabbā āsattiyo chetvā = sau khi cắt đứt mọi vướng mắc vineyya hadaye daraṃ = nội tâm không còn ưu phiền Upasanto sukhaṃ seti = ngũ yên trong thanh thản santiṃ pappuyya cetasā’’ti = tâm tư được an tịnh
Sudatta là tên thật của gia chủ nhưng rất ít người biết. Ông
được biết qua tên gọi Anāthapiṇḍika
mà người đời đặt cho có nghĩa là “người chu cấp giúp đỡ cho
những kẻ tứ cố vô thân”. Hán Viêt dịch là Cấp Cô Độc. Sự
kiện về cuộc diện kiến Đức Phật đầu tiên của gia chủ
Anāthapiṇḍika được ghi một cách chi tiết trong Luật Tạng
(Vin II 154-59)
Theo Sớ Giải thì do niềm hỷ lạc cực độ trong tâm vị gia chủ
đối với Đức Phật tạo nên hiện tượng ánh sáng phát ra từ châu
thân. Do hiện tượng nầy mà có ba lần Ông tưởng lầm là trời
đã sáng. Từ
vựng
sīvathika
tại Ấn Độ chỉ cho chỗ xử lý thi hài người chết qua hai cách
thức điểu táng và hoả táng. Do vậy không thể dịch là “bãi
tha ma (điểu táng)” hay nghĩa địa (chỗ mai táng). Từ chỗ tạm
trú của gia chủ đi đến rừng Sīta gặp Phật phải băng qua khu
tống táng. Sớ
giải ghi rằng do đi qua khu tống táng (sīvathika) nên khiến
gia chủ Anāthapiṇḍika sợ hãi nên ánh sáng của hỷ lạc biến
mất. Khi lấy lại bình tỉnh và nghĩ tới Đức Phật thì pháp hỷ
sanh khởi ánh sáng hiện ra. Vì vậy có hiện tượng ánh sáng
tắt đi rồi tái hiện - sự biểu thị của nội tâm pha trộn niềm
hỷ lạc và nỗi sợ hãi. Sớ
giải chú thích ngữ pháp về ba câu: Sataṃ hatthī sataṃ assā,
sataṃ assatarīrathā Sataṃ kaññāsahassāni, (hàng trăm ngàn
tuấn mã, hàng trăm ngàn thớt voi, hàng trăm ngàn xe ngựa,
hàng trăm ngàn thiếu nữ) thì chữ số sahassa (ngàn) gắn liền
với cả bốn chữ sataṃ (trăm). Nên mỗi câu phải được hiểu là
hằng “trăm ngàn”
Cụm từ kalaṁ nāgghanti soḷasiṁ
(không bằng một phần mười sáu) là thành ngữ quen thuộc trong
Phạm ngữ nên được hiểu là “không bằng một mảy may”
Theo Sớ Giải thì khi gia chủ
Anāthapiṇḍika đang đi lại khởi lên ý nghĩ: làm sao biết được
vị ấy đích thực là bậc chân sư, bậc đại giác? Và ông tự đưa
ra cách xác định: nếu Ngài quả thật là Phật thì sẽ gọi ta
bằng tên thật. Do vậy Đức Phật thấy gia chủ liền lên tiếng
“Sudatta hãy đến đây”
Hai từ (hoan hỷ, phấn chấn -
hattḥo udaggo) trong ngoặc đơn không có trong chánh kinh mà
chỉ có trong bản Hậu Sớ giải.
Theo Luật Tạng thì sau kệ
ngôn Đức Phật đã thuyết giảng đề tài “tuần tự pháp thoại”
cho gia chủ. Nghe xong ông chứng thánh quả tu đà huờn.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |