|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 03 tháng 10, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYABài 151. TRỌNG TRÁCH CỦA NGƯỜI ĐI TRƯỚC- Kinh Huấn Thị III (Tatiyaovādasuttaṃ).
Sự tồn tại của
Đạo Phật, hay của tất cả tôn giáo, là sự nối tiếp của truyền
thống. Người đi trước ảnh hưởng lớn đến kẻ đi sau. Người tu
cần ý thức rõ mình không phải chỉ sống riêng mình mà còn ảnh
hưởng tới tầng lớp tiếp nối. Tất cả những chấn chỉnh phục
hưng giáo pháp trong dòng lịch sử đểu bắt đầu từ những con
người. Người đi trước làm kiểu mẫu cho người kế tục. Hình
ảnh của những bậc trưởng lão thanh tu, giản dị, chuyên tâm
cho pháp học hoặc pháp hành luôn là nhân tố trọng đại đối
với sự trường tồn của Phật Pháp.
Rājagahe kalandakanivāpe. Atha kho āyasmā mahākassapo yena
bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā
ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinnaṃ kho āyasmantaṃ
mahākassapaṃ bhagavā etadavoca – ‘‘ovada, kassapa, bhikkhū;
karohi, kassapa, bhikkhūnaṃ dhammiṃ kathaṃ. Ahaṃ vā,
kassapa, bhikkhūnaṃ ovadeyyaṃ tvaṃ vā; ahaṃ vā bhikkhūnaṃ
dhammiṃ kathaṃ kareyyaṃ tvaṃ vā’’ti.
... Ngự ở Rājagaha (Vương Xá), tại chỗ cho
sóc ăn.
Bấy Tôn giả Mahā Kassapa đi đến Đức Thế
Tôn...Rồi Đức Thế Tôn nói với Tôn giả Mahā Kassapa đang ngồi
một bên:
-- Này Kassapa! Hãy huấn thị chư tỳ khưu.
Hãy thuyết pháp cho chư tỳ khưu. Hoặc Ta hay Thầy cần huấn
thị chư tỳ khưu. Hoặc Ta hay Thầy cần thuyết pháp cho chư tỳ
khưu.
‘‘Dubbacā kho, bhante, etarahi bhikkhū, dovacassakaraṇehi
dhammehi samannāgatā, akkhamā, appadakkhiṇaggāhino
anusāsanī’’nti.
-- Bạch Đức Thế Tôn, chư tỳ khưu hiện nay
khó nói, trong tình trạng khó nói. Họ không kham nhẫn và
kính trọng chấp nhận huấn thị.
‘‘Tathā hi pana, kassapa, pubbe therā bhikkhū
āraññikā ceva ahesuṃ āraññikattassa ca vaṇṇavādino,
piṇḍapātikā ceva ahesuṃ piṇḍapātikattassa ca vaṇṇavādino,
paṃsukūlikā ceva ahesuṃ paṃsukūlikattassa ca vaṇṇavādino,
tecīvarikā ceva ahesuṃ tecīvarikattassa ca vaṇṇavādino,
appicchā ceva ahesuṃ appicchatāya ca vaṇṇavādino, santuṭṭhā
ceva ahesuṃ santuṭṭhiyā ca vaṇṇavādino, pavivittā ceva
ahesuṃ pavivekassa ca vaṇṇavādino, asaṃsaṭṭhā ceva ahesuṃ
asaṃsaggassa ca vaṇṇavādino, āraddhavīriyā ceva ahesuṃ
vīriyārambhassa ca vaṇṇavādino.
-- Này Kassapa, trước đây chư vị tỳ khưu
trưởng lão là những vị ẩn lâm và tán thán hạnh ẩn lâm; là
những vị chuyên hạnh trì bình và tán thán hạnh trì bình; là
những vị mặc y phấn tảo và tán thán hạnh mặc y phấn tảo; là
những vị chỉ mặc ba y và tán thán hạnh chỉ mặc ba y; là
những vị thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục; là những vị
sống tri túc và tán thán hạnh tri túc; là những vị sống viễn
ly và tán thán hạnh sống viễn ly; là những vị sống ít giao
tiếp và tán thán hạnh ít giao tiếp; là những vị sống tinh
cần và tán thán hạnh sống tinh cần.
‘‘Tatra yo hoti bhikkhu āraññiko ceva āraññikattassa ca
vaṇṇavādī, piṇḍapātiko ceva piṇḍapātikattassa ca vaṇṇavādī,
paṃsukūliko ceva paṃsukūlikattassa ca vaṇṇavādī, tecīvariko
ceva tecīvarikattassa ca vaṇṇavādī, appiccho ceva
appicchatāya ca vaṇṇavādī, santuṭṭho ceva santuṭṭhiyā ca
vaṇṇavādī, pavivitto ceva pavivekassa ca vaṇṇavādī,
asaṃsaṭṭho ceva asaṃsaggassa ca vaṇṇavādī, āraddhavīriyo
ceva vīriyārambhassa ca vaṇṇavādī, taṃ therā bhikkhū āsanena
nimantenti – ‘ehi, bhikkhu, ko nāmāyaṃ bhikkhu, bhaddako
vatāyaṃ bhikkhu, sikkhākāmo vatāyaṃ bhikkhu; ehi, bhikkhu,
idaṃ āsanaṃ nisīdāhī’’’ti.
‘‘Tatra, kassapa, navānaṃ bhikkhūnaṃ evaṃ hoti – ‘yo kira so
hoti bhikkhu āraññiko ceva āraññikattassa ca vaṇṇavādī,
piṇḍapātiko ceva...pe... paṃsukūliko ceva... tecīvariko
ceva... appiccho ceva... santuṭṭho ceva... pavivitto ceva...
asaṃsaṭṭho ceva... āraddhavīriyo ceva vīriyārambhassa ca
vaṇṇavādī, taṃ therā bhikkhū āsanena nimantenti – ehi,
bhikkhu, ko nāmāyaṃ bhikkhu, bhaddako vatāyaṃ bhikkhu,
sikkhākāmo vatāyaṃ bhikkhu; ehi, bhikkhu, idaṃ āsanaṃ
nisīdāhī’ti. Te tathattāya paṭipajjanti; tesaṃ taṃ hoti
dīgharattaṃ hitāya sukhāya.
Bấy giờ vị tỳ khưu nào là vị ẩn lâm và tán
thán hạnh ẩn lâm; chuyên hạnh trì
bình và tán thán hạnh trì bình; mặc y phấn tảo và tán
thán hạnh mặc y phấn tảo; chỉ mặc ba y và tán thán hạnh chỉ
mặc ba y; thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục; sống tri túc
và tán thán hạnh tri túc; sống viễn ly và tán thán hạnh sống
viễn ly; sống ít giao tiếp và tán thán hạnh ít giao tiếp;
sống tinh cần và tán thán hạnh sống tinh cần được chư vị
trưởng lão mời ngồi và nói: Hiền giả tỳ khưu, hãy tới và
ngồi nơi đây. Hiền giả danh tánh là gì? Thật là hiền thiện;
thật là vị khéo tu tập. Hãy lại đây an toạ”.
Thuở ấy những tỳ
khưu mới tu suy nghĩ: Vị tỳ khưu nào là vị ẩn lâm và tán
thán hạnh ẩn lâm; chuyên hạnh trì bình và tán thán hạnh trì
bình; mặc y phấn tảo và tán thán hạnh mặc y phấn tảo; chỉ
mặc ba y và tán thán hạnh chỉ mặc ba y; thiểu dục và tán
thán hạnh thiểu dục; sống tri túc và tán thán hạnh tri túc;
sống viễn ly và tán thán hạnh sống viễn ly; sống ít giao
tiếp và tán thán hạnh ít giao tiếp; sống tinh cần và tán
thán hạnh sống tinh cần được chư vị trưởng lão mời ngồi và
nói: Hiền giả tỳ khưu, hãy tới và ngồi nơi đây. Hiền giả
danh tánh là gì? Thật là hiền thiện; thật là vị khéo tu tập.
Hãy lại đây an toạ”. (Do thấy vậy
nên hoan hỷ) thực hành như thế và được lợi ích, an lạc lâu
dài.
‘‘Etarahi pana, kassapa, therā bhikkhū na ceva āraññikā na
ca āraññikattassa vaṇṇavādino, na ceva piṇḍapātikā na ca
piṇḍapātikattassa vaṇṇavādino, na ceva paṃsukūlikā na ca
paṃsukūlikattassa vaṇṇavādino, na ceva tecīvarikā na ca
tecīvarikattassa vaṇṇavādino, na ceva appicchā na ca
appicchatāya vaṇṇavādino, na ceva santuṭṭhā na ca
santuṭṭhiyā vaṇṇavādino, na ceva pavivittā na ca pavivekassa
vaṇṇavādino, na ceva asaṃsaṭṭhā na ca asaṃsaggassa
vaṇṇavādino, na ceva āraddhavīriyā na ca vīriyārambhassa
vaṇṇavādino.
‘‘Tatra yo hoti bhikkhu ñāto yasassī lābhī cīvara-piṇḍapāta-
senāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṃ taṃ therā
bhikkhū āsanena nimantenti – ‘ehi, bhikkhu, ko nāmāyaṃ
bhikkhu, bhaddako vatāyaṃ bhikkhu, sabrahmacārikāmo vatāyaṃ
bhikkhu; ehi, bhikkhu, idaṃ āsanaṃ nisīdāhī’’’ti.
-- Nhưng này Kassapa, bây giờ
chư vị tỳ khưu trưởng lão không là những vị ẩn lâm và
tán thán hạnh ẩn lâm; không là những vị chuyên hạnh trì bình
và tán thán hạnh trì bình; không là những vị mặc y phấn tảo
và tán thán hạnh mặc y phấn tảo; không là những vị chỉ mặc
ba y và tán thán hạnh chỉ mặc ba y; không là những vị thiểu
dục và tán thán hạnh thiểu dục; không là những vị sống tri
túc và tán thán hạnh tri túc; không là những vị sống viễn ly
và tán thán hạnh sống viễn ly; không là những vị sống ít
giao tiếp và tán thán hạnh ít giao tiếp; không là những vị
sống tinh cần và tán thán hạnh sống tinh cần.
Hiện nay, có những tỳ khưu nổi tiếng, được nhiều người biết
tới, nhận được nhiều cúng dường y phục, thực phẩm, trú xứ,
dược phẩm; (những vị nầy) được chư tỳ khưu trưởng lão mời
ngồi và nói: Hiền giả tỳ khưu, hãy tới và ngồi nơi đây. Hiền
giả danh tánh là gì? Thật là hiền thiện; Hiền giả là người
hoan hỷ cộng trú với các pháp lữ đồng tu. Hãy lại đây an
toạ”.
‘‘Tatra, kassapa, navānaṃ bhikkhūnaṃ evaṃ hoti – ‘yo kira so
hoti bhikkhu ñāto yasassī lābhī
cīvara-piṇḍapāta-senāsana-gilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṃ
taṃ therā bhikkhū āsanena nimantenti – ehi, bhikkhu, ko
nāmāyaṃ bhikkhu, bhaddako vatāyaṃ bhikkhu, sabrahmacārikāmo
vatāyaṃ bhikkhu; ehi, bhikkhu, idaṃ āsanaṃ nisīdāhī’ti. Te
tathattāya paṭipajjanti. Tesaṃ taṃ hoti dīgharattaṃ ahitāya
dukkhāya. Yañhi taṃ, kassapa, sammā vadamāno vadeyya –
‘upaddutā brahmacārī brahmacārūpaddavena abhipatthanā
brahmacārī brahmacāriabhipatthanenā’ti, etarahi taṃ,
kassapa, sammā vadamāno vadeyya – ‘upaddutā brahmacārī
brahmacārūpaddavena abhipatthanā brahmacārī
brahmacāriabhipatthanenā’’’ti. Bây giờ
những tỳ khưu mới tu suy nghĩ: Hiện nay, có những tỳ khưu
nổi tiếng, được nhiều người biết tới, nhận được nhiều cúng
dường y phục, thực phẩm, trú xứ, dược phẩm; (những vị nầy)
được chư tỳ khưu trưởng lão mời ngồi và nói: Hiền giả tỳ
khưu, hãy tới và ngồi nơi đây. Hiền giả danh tánh là gì?
Thật là hiền thiện; Hiền giả là người hoan hỷ cộng trú với
các pháp lữ đồng tu. Hãy lại đây an toạ”.
(Do thấy vậy nên bắt chước) thực hành như
thế và nên không được lợi ích và khổ luỵ lâu dài.
Này Kassapa, ai nói một cách chính xác thì
có thể bảo rằng: "Những tu sĩ bị hư hỏng bởi những tu sĩ;
những tu sĩ bị thối đoạ do những tu sĩ”. Nói chính xác là
vậy.
Chú Thích Giai
thoại nầy ghi lại thời kỳ cực thịnh về số lượng đông đảo của
cả hai giới xuất gia cũng tại gia vào những ngày tháng sau
cùng của thời Phật trụ thế. Đông đảo nên danh lợi nhiều hơn,
phức tạp hơn, xu thế theo phần đông nhiều hơn. Tăng chúng
trong thời nầy khác với những năm tháng khởi đầu công cuộc
hoằng pháp của Đức Phật – đó là giai đoạn số lượng người
xuất gia tương đối ít nhưng hầu hết là những bậc chân tu
thật học. Lời
kêu gọi của Đức Phật đối với Tôn giả Kassapa gián tiếp đặt
để vai trò dẫn đạo Tăng chúng sau nầy nhưng cũng qua đó nói
lên trách nhiệm duy trì giáo pháp qua sự nâng cao trình độ
tu học của hàng xuất gia. Tôn
giả Mahākassapa không từ chối trọng trách của mình nhưng
mong muốn Đức Phật có lời dạy chung về yếu tố khiến giáo
pháp hưng thịnh hay suy vi. Đức
Phật qua lời dạy trong bài kinh nầy nhấn mạnh nếp sống và
hành xử của những tỳ khưu trưởng lão: Sống tốt thì làm gương
tốt; quý trọng những tỳ khưu đáng quý trọng thì tạo gương
tốt cho những vị mới xuất gia. Nếu chư vị trưởng lão trọng
vọng những tỳ khưu được nhiều người ái mộ, cúng dường thì
gián tiếp khuyến khích những tân tỳ khưu hướng cầu danh lợi. Với
những lời Phật dạy trong bài kinh nầy, một lần nữa, tán thán
và nhấn mạnh vai trò gương mẫu của Tôn giả Mahākassapa là vị
sống giản dị, rời xa danh lợi vì lòng bi mẫn đối với hậu
tấn. Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.
-ooOoo- |