|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 07 tháng 10, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYABài 153. MCẦN NÓI THÌ PHẢI NÓI RÕ- Kinh Ni Xá (Upassayasuttaṃ).
Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ āyasmā mahākassapo sāvatthiyaṃ
viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Atha kho āyasmā
ānando pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya yenāyasmā
mahākassapo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṃ
mahākassapaṃ etadavoca – ‘‘āyāma, bhante kassapa, yena
aññataro bhikkhunupassayo tenupasaṅkamissāmā’’ti. ‘‘Gaccha
tvaṃ, āvuso ānanda, bahukicco tvaṃ bahukaraṇīyo’’ti.
Dutiyampi kho āyasmā ānando āyasmantaṃ mahākassapaṃ
etadavoca – ‘‘āyāma, bhante kassapa, yena aññataro
bhikkhunupassayo tenupasaṅkamissāmā’’ti. ‘‘Gaccha tvaṃ,
āvuso ānanda, bahukicco tvaṃ bahukaraṇīyo’’ti. Tatiyampi kho
āyasmā ānando āyasmantaṃ mahākassapaṃ etadavoca – ‘‘āyāma,
bhante kassapa, yena aññataro bhikkhunupassayo
tenupasaṅkamissāmā’’ti.
Tôi được nghe như vầy,
Một thuở Tôn giả Kassapa trú ở Sāvatthi
(Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), ngôi già lam của
ông Anāthapiṇḍika
(Cấp Cô Ðộc) (dâng cúng).
Bấy giờ vào buổi sáng Tôn giả Ānanda mặc y,
cầm bát và y (kép) đi đến chỗ Tôn giả
Mahākassapa rồi nói:
--Thưa Tôn giả Kassapa, chúng ta hãy đi đến
trú xứ của tỳ khưu ni.
--Này Hiền giả
Ānanda, hãy đi. Hiền giả là người bận rộn với nhiều trách
nhiệm phải làm.
Lần thứ hai, Tôn giả Ānanda thưa với Tôn giả
Mahākassapa:
--Thưa Tôn giả Kassapa, chúng ta hãy đi đến
trú xứ của tỳ khưu ni.
-- Này Hiền giả Ānanda, hãy đi. Hiền giả là
người bận rộn với nhiều trách nhiệm phải làm.
Lần thứ ba, Tôn giả Ānanda thưa với Tôn giả
Mahākassapa:
--Thưa Tôn giả Kassapa, chúng ta hãy đi đến
trú xứ của tỳ khưu ni.
-- Này Hiền giả Ānanda, hãy đi. Hiền giả là
người bận rộn với nhiều trách nhiệm phải làm.
Atha kho āyasmā mahākassapo pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā
pattacīvaramādāya āyasmatā ānandena pacchāsamaṇena yena
aññataro bhikkhunupassayo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā
paññatte āsane nisīdi. atha kho sambahulā bhikkhuniyo
yenāyasmā mahākassapo tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā
āyasmantaṃ mahākassapaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu.
ekamantaṃ nisinnā kho tā bhikkhuniyo āyasmā mahākassapo
dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi
sampahaṃsesi. atha kho āyasmā mahākassapo tā bhikkhuniyo
dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā
sampahaṃsetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Rồi Tôn giả
Mahākassapa buổi sáng đó mặc y, cầm bát và y (kép) đi
đến trú xú của chư tỳ khưu ni với Tôn giả Ānanda là pháp lữ
đồng hành. Sau khi đến, ngồi trên chỗ đã chuẩn bị sẳn.
Lúc ấy nhiều tỳ khưu ni đến đảnh lễ Tôn giả
Mahākassapa và ngồi một bên. Với
pháp thoại giảng dạy, sách tấn, khích lệ
Tôn giả Mahākassapa khiến chư tỳ khưu ni hoan hỷ,
phấn khởi. Rồi từ chỗ ngồi Ngài đứng dậy ra đi.
Atha kho thullatissā bhikkhunī anattamanā anattamanavācaṃ
nicchāresi – ‘‘kiṃ pana ayyo mahākassapo, ayyassa ānandassa
vedehamunino sammukhā dhammaṃ bhāsitabbaṃ maññati?
Seyyathāpi nāma sūcivāṇijako sūcikārassa santike sūciṃ
vikketabbaṃ maññeyya; evameva ayyo mahākassapo ayyassa
ānandassa vedehamunino sammukhā dhammaṃ bhāsitabbaṃ
maññatī’’ti.
Bấy giờ tỳ khưu ni Thullatissā không hoan
hỷ, nói lên những lời bất mãn: "Sao Tôn giả Mahā Kassapa lại
nghĩ đến thuyết pháp trước mặt Tôn giả Ānanda, bậc mâu ni
đại trí? Đúng là múa
rìu qua mắt thợ! như một người bán kim lại nghĩ có thể bán
kim cho người làm kim”
Assosi kho āyasmā mahākassapo thullatissāya bhikkhuniyā imaṃ
vācaṃ bhāsamānāya. Atha kho āyasmā mahākassapo āyasmantaṃ
ānandaṃ etadavoca – ‘‘kiṃ nu kho, āvuso ānanda, ahaṃ
sūcivāṇijako, tvaṃ sūcikāro; udāhu ahaṃ sūcikāro, tvaṃ
sūcivāṇijako’’ti? ‘‘Khama, bhante kassapa, bālo
mātugāmo’’ti. ‘‘Āgamehi tvaṃ, āvuso
ānanda, mā te saṅgho uttari upaparikkhi’’.
Tôn giả Mahākassapa nghe được lời nói này
của tỳ khưu ni Thullatissā đã nói với Tôn giả Ānanda:
-- Hiền giả Ānanda, ta và hiền giả ai là
người làm kim, ai là người bán kim?
--Thưa Tôn giả Kassapa, hãy niệm tình. Đó
người nữ thiếu hiểu biết.
-- Hiền giả Ānanda,
hãy nói rõ để Tăng chúng không truy cứu thêm về điều nầy.
Hiền giả Ānanda, Hiền giả nghĩ thế nào?
‘‘Taṃ kiṃ maññasi, āvuso ānanda, api nu tvaṃ bhagavato
sammukhā bhikkhusaṅghe upanīto – ‘ahaṃ, bhikkhave, yāvadeva
ākaṅkhāmi vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi
savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ
upasampajja viharāmi. Ānandopi, bhikkhave, yāvadeva
ākaṅkhati vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi
savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ
upasampajja viharatī’’’ti? ‘‘No hetaṃ, bhante’’.
-- Có phải trước mặt Thế Tôn giữa chúng
Tăng, Hiền giả được Thế Tôn xác chứng như sau: "Này
chư Tỳ khưu,
tùy theo ý muốn, Ta
ly dục, ly bất thiện pháp - thể nhập và an trú sơ thiền -
một trạng thái
hỷ lạc do ly dục sanh có tầm, có tứ. Này chư Tỳ
khưu, Ananda cũng có thể tùy theo ý muốn, ly dục, ly bất
thiện pháp - thể nhập và an trú sơ thiền - một trạng thái
hỷ lạc do ly dục sanh có tầm, có tứ?...
-- Thưa Tôn giả, không có vậy.
‘‘Ahaṃ kho, āvuso, bhagavato sammukhā bhikkhusaṅghe upanīto
– ‘ahaṃ, bhikkhave, yāvadeva ākaṅkhāmi vivicceva kāmehi
vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ
pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja viharāmi. Kassapopi,
bhikkhave, yāvadeva ākaṅkhati vivicceva kāmehi vivicca
akusalehi dhammehi...pe... paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja
viharatī’ti...pe.... (Navannaṃ anupubbavihārasamāpattīnaṃ
pañcannañca abhiññānaṃ evaṃ vitthāro veditabbo.)
-- Có phải trước mặt Thế Tôn giữa chúng
Tăng, Hiền giả được Thế Tôn xác chứng như sau: Này chư Tỳ
khưu, tùy theo ý muốn, Ta diệt tầm và tứ - thể nhập và an
trú nhị thiền- một trạng thái nội tỉnh nhất tâm, không tầm,
không tứ, chính là hỷ lạc do định sanh.Này chư Tỳ khưu,
Ananda cũng có thể tùy theo ý muốn, diệt tầm và tứ - thể
nhập và an trú nhị thiền- một trạng thái nội tỉnh nhất tâm,
không tầm, không tứ, chính là hỷ lạc do định sanh?”.
-- Thưa Tôn giả, không có vậy.
(câu chuyện tiếp tục với những câu hỏi đáp
về chín thiền chứng và năm thắng trí)
‘‘Taṃ kiṃ maññasi, āvuso ānanda, api nu tvaṃ bhagavato
sammukhā bhikkhusaṅghe upanīto – ‘ahaṃ, bhikkhave, āsavānaṃ
khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ diṭṭheva dhamme
sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmi. Ānandopi,
bhikkhave, āsavānaṃ khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ
paññāvimuttiṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā
upasampajja viharatī’’’ti? ‘‘No hetaṃ, bhante’’.
-- Có phải trước mặt
Thế Tôn giữa chúng Tăng, Hiền giả được Thế Tôn xác chứng như
sau: Này chư Tỳ khưu, với sự đoạn tận lậu hoặc, tự mình
chứng đạt vô lậu giải thoát ngay trong hiện tại, ta thể nhập
và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này chư Tỳ khưu,
Ananda cũng với sự đoạn tận lậu hoặc, tự mình chứng đạt vô
lậu giải thoát ngay trong hiện tại, ta thể nhập và an trú
tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
-- Thưa Tôn giả, không có vậy.
‘‘Ahaṃ kho, āvuso, bhagavato sammukhā bhikkhusaṅghe upanīto
– ‘ahaṃ, bhikkhave, āsavānaṃ khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ
paññāvimuttiṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā
upasampajja viharāmi. Kassapopi, bhikkhave, āsavānaṃ khayā
anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ
abhiññā sacchikatvā upasampajja viharatī’’’ti.
‘‘Sattaratanaṃ vā, āvuso, nāgaṃ aḍḍhaṭṭhamaratanaṃ vā
tālapattikāya chādetabbaṃ maññeyya, yo me cha abhiññā
chādetabbaṃ maññeyyā’’ti.
Cavittha ca pana thullatissā bhikkhunī brahmacariyamhāti.
-- Chính ta, này Hiền giả, trước mặt Thế Tôn
giữa chúng Tăng được
Thế Tôn xác chứng như sau: Này chư Tỳ khưu, với sự đoạn tận
lậu hoặc, tự mình chứng đạt vô lậu giải thoát ngay trong
hiện tại, ta thể nhập và an trú tâm giải thoát, tuệ giải
thoát. Này chư Tỳ khưu, Kassap cũng với sự đoạn tận lậu
hoặc, tự mình chứng đạt vô lậu giải thoát ngay trong hiện
tại, ta thể nhập và an trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
Này Hiền giả, ai nghĩ rằng có thể che kín sáu thắng trí của
ta được, thì không khác gì họ nghĩ rằng có thể lấy một lá
cây kè mà che đậy một con voi lớn đến bảy hay tám khuỷ tay
rưởi bề cao.
Tỳ khưu ni Thullatissā đã từ bỏ đời sống tu
hành.
Chú Thích Theo
Sớ giải thì giai thoại nầy xảy ra sau khi Đức Thế Tôn viên
tịch. Trong đối thoại giữa bậc trưởng lão thì sử dụng từ
bhante (tôn giả) và āvuso (hiền giả) theo huấn ngôn của Đức
Phật trước khi viên tịch. Trước đó chư tỳ khưu thường gọi
nhau là āvuso (hiền giả) chứ không phân biệt cách gọi riêng
vị lớn đối với vị nhỏ hay vị nhỏ đối với vị lớn. Sớ
giải ghi rằng Tôn giả Ananda thỉnh cầu Tôn giả Mahākassapa
thuyết pháp cho chư tỳ khưu ni giống từng thỉnh Phật thuyết
pháp cho ni chúng trước kia. Lúc ấy Tôn giả Mahākassapa là
bậc cao đồ có thể thay Phật (buddhapaṭibhāga sāvaka ). Câu
nói của Ngài Mahākassapa: “ Này Hiền giả Ānanda, hãy đi.
Hiền giả là người bận rộn với nhiều trách nhiệm phải làm”
theo Sớ giải thì Tôn giả Ananda nên tạm thời dành thì giờ an
ủi, sách tấn tứ chúng, những người đang buồn khổ trước sự
viên tịch của Đức Phật. Chữ
pacchāsamaṇena được dịch là “sa môn tuỳ tùng”. Trong bản
dịch nầy dịch là “pháp lữ đồng hành” liên quan tới quy định
là khi một tỳ khưu được mời thỉnh hay do chỉ định đến trú xứ
của ni chúng thuyết pháp thì cần có một tỳ khưu khác cùng
đi. Tên
tỳ khưu ni Thullatissā có nghĩa
đên là “Tissā Béo Phệ” Tỳ
khưu ni Thullatissā gọi Tôn giả Ananda là
vedehimuni, từ nầy có
hai nghĩa. Thứ nhất là bậc mâu ni đại trí hay tu sĩ kiến văn
quảng bác
(paṇḍitamuni). Nghĩa thứ hai là bậc mâu ni xuất thân từ dòng
họ danh giá Vedeha (Vedeharaṭṭhe jātattā Vedehiyā putto). Vì
mẫu thân của Tôn giả Ananda đến từ Videhi. Cũng có thể dịch
là “người con ưu tú của dòng Vedeha”, một cách nói ca tụng
cao độ. Câu
“Như một người bán kim lại nghĩ có thể bán kim cho người làm
kim (seyyathāpi nāma sūcivāṇijako sūcikārassa santike sūciṃ
vikketabbaṃ maññeyya) là thành ngữ mang tính khinh miệt nên
ở đây dịch thêm bằng thành ngữ tiếng Việt “múa rìu qua mắt
thợ” để cách hành văn hợp cảnh. (cũng như thành ngữ trong
tiếng Anh: teach fish to swim - dạy cá bơi lội) Câu
nói của Tôn giả Ananda: “ Thưa Tôn giả Kassapa, hãy niệm
tình. Đó là người nữ thiếu hiểu biết (Khamatha bhante
Kassapa bālo mātugāmo) trong bản dịch của HT Thích Minh
Châu: “Hãy kham nhẫn, thưa Tôn giả Kassapa, ngu si là đàn
bà”. Là cách dịch sát với văn khí mạnh. Tuy vậy có thể tạo
nên cách nhìn kỳ thị giới tính “quơ đũa cả nắm”. Trong một
số kinh văn khác có nói về một đặc tính của nữ giới là
nghiêng nặng về thương ghét (thiên vị) cá nhân trong cách
ứng xử hơn là với cái nhìn đại thể. Đây là điểm tế nhị. Dù
sao cũng nên ghi nhận là bản dịch của Hoà thượng Minh Châu ở
câu nầy dịch sát với ngữ pháp của nguyên văn hơn. Câu
nói: “Hiền giả Ānanda, hãy nói rõ để Tăng chúng không truy
cứu thêm về điều nầy. (Āgamehi tvaṃ, āvuso ānanda, mā te
saṅgho uttari upaparikkhi)” theo Sớ giải thì Tôn giả
Mahākassapa muốn Tôn giả Ananda không bị Tăng chúng trách cứ
vì để sự việc lôi thôi xảy ra mà không nghiêm huấn những tỳ
khưu ni mạo phạm vì trưởng lão như người thay thế Đức Phật.
Nói cách khác sự việc ảnh hưởng chung đến Tăng chúng không
thể bỏ qua là xong chuyện. Chữ
sattahatthappamāṇa (bảy khuỷ tay) nghĩa đen tính từ cù chỏ
tới đầu ngón tay giữa là đơn vị đo lường. Chữ
abhiññā hay thắng trí ở đây theo Sớ Giải
chỉ cho lục thông và tam minh. Đây là trường hợp rất
hiếm hoi trong Kinh Tạng vì thông thường chữ nầy chỉ riêng
cho lục thông. Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.
-ooOoo- |