|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Chủ Nhật, 08 tháng 10, 2023 MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ XIV.Phẩm Phật Đà (Buddhavagga). Gồm 18 bài kệ với 9 duyên sự - Kệ số 17, 18 (dhp 195, 196)
Duyên sự:
Hai bài kệ nầy đức Phật đã thuyết khi Ngài đang du hành đến
toà tháp cổ của Đấng Thập Lực Kassapa.
Lần ấy, đức Thế Tôn với đại chúng tỳ kheo rời khỏi kinh
thành Sāvatthi tuần tự đi đến kinh thành Bārāṇasī. Giữa
đường, Ngài dừng chân tại một ngôi đền thần ở gần làng
Todeyya. Ngài ngồi xuống nghỉ và bảo tôn giả Ānanda đi gọi
người bà la môn đang cày ở gần đó đến.
Người bà la môn ấy đến, không đảnh lễ đức Như Lai, mà đảnh
lễ đền thần rồi ngồi xuống. Đức Phật hỏi: “Này bà la môn,
ông nghĩ sao về địa điểm nầy?”
Người bà la môn đáp: “Thưa Ngài Gotama, tôi đảnh lễ ngôi
tháp cổ nầy theo tập tục của chúng tôi”.
Đức Phật khiến cho người ấy phấn khởi, Ngài khen: “Này bà la
môn, việc đảnh lễ chỗ nầy là việc làm tốt đẹp”.
Nghe đức Phật khen việc bà la môn đảnh lễ cổ tháp, chư tỳ
kheo khởi lên thắc mắc: “Do nguyên nhân gì mà đức Thế Tôn
khích lệ việc ấy nhỉ?”
Để giải toả thắc mắc của các tỳ kheo ấy, đức Phật thuyết
rằng, nơi đây ngày xưa là chỗ trú ngụ của đức Thế Tôn
Kassapa. Sau khi đấng Thập Lực Kassapa níp bàn, người ta đã
lập tháp vàng nơi nầy để làm di tích (có ba loại tháp:
Sarīracetiya (tháp thờ xá lợi), paribhogacetiya (tháp thờ kỷ
vật), Uddissacetiya (tháp thờ di tích). Đức Thế Tôn dạy thêm
về bốn hạng người xứng đáng lập tháp thờ (Thūpārahapuggala),
đó là bậc Chánh đẳng giác, bậc Độc giác, bậc Thinh văn giác,
vị Chuyển luân vương…
Kế đến, đức Phật dùng thần thông hoá hiện ngôi tháp vàng
(kanakacetiya) của đấng Thập Lực Kassapa, cao một do tuần,
lơ lửng giữa hư không trên vị trí cổ tháp phế tích ấy cho
đại chúng thấy, rồi Ngài nói: “Này bà la môn, sự kính lễ bậc
đáng kính lễ có bốn hạng như vậy, hợp lẽ hơn”.
Rồi đức Phật đã nói ra hai bài kệ: Pūjārahe
pūjayato…v.v…imettamapi kenacī’ ti.
Dứt pháp thoại, người bà la môn thợ cày ấy đã chứng quả Tu
đà hườn.
Ngôi tháp vàng do Phật lực hoá hiện đó, lơ lửng trên hư
không tồn tại đến bảy ngày cho dân chúng chiêm bái cúng
dường, sau đó tự biến mất.
Chánh văn: (dhp 195)
17. Pūjārahe
pūjayato (dhp 196)
18. Te tādise
pūjayato Thích văn:
Pūjārahe
[đối cách, số nhiều, nam tính hợp thể danh từ pūjāraha (pūjā
+ araha)] các bậc đáng cúng dường, những bậc đáng
kính lễ. Việt văn: (pc 195)
17. Cúng dường bậc đáng cúng, (pc 196)
18. Người cúng những bậc ấy,
Chuyển văn:
Yadi vā papañcasamatikkante tiṇṇasokapariddave pūjārahe
buddhe sāvake pūjayato, nibbute akutobhaye tādise te
pūjayato puññaṃ kenaci na sakkā imaṃ ettaṃ iti saṅkhātuṃ.
Nếu như người cúng dường bậc đáng cúng dường, chư Phật hay
chư Thinh văn, là những bậc đã vượt qua mọi chướng ngại, đã
không còn sầu muộn ai bi, thì phước báu của người cúng các
bậc tịch tịnh vô uý như thế không ai có thể đong đếm “phước
nầy được bấy nhiêu”.
Lý giải:
Các bậc đáng cúng dường (pūjārahe) là những bậc xứng đáng để
người đời kính lễ hoặc dâng cúng bốn món nhu yếu (y phục,
vật thực, sàng toạ và dược phẩm); Những bậc ứng cúng ấy là
nói đến ba hạng: Bậc Chánh đẳng chánh giác (sammāsambuddha),
bậc Độc giác (paccekabuddha), và bậc Thinh văn giác
(sāvakabuddha). Trong bài kệ pháp cú 195 dùng từ Buddhe (chư
Phật) là chỉ cho Phật Chánh đẳng chánh giác và Phật độc
giác, từ Sāvake (chư Thinh văn) là chỉ cho các vị A la hán
đệ tử bậc chánh đẳng cháng giác.
Chư Phật và chư Thinh văn A la hán đều là những vị đã vượt
khỏi chướng ngại, đã không còn sầu bi, là những bậc tịch
tịnh, bậc vô uý.
Đã vượt qua khỏi chướng ngại (papañcasamatikkante) nghĩa là
đã chinh phục được ba pháp chướng là Ái, Tà kiến và Kiêu mạn
(Taṇhādiṭṭhimānapapañca).
Đã không còn sầu bi (tiṇṇasokapariddave) nghĩa là đã vượt
qua mọi sầu ưu và bi ai.
Bậc tịch tịnh (nibbute) nghĩa là chư vị ứng cúng đã dập tắt
lửa ái, lửa sân, lửa si, tâm trở nên mát mẻ an tịnh.
Bậc vô uý (akutobhaye) nghĩa là các vị ứng cúng không có nổi
sợ hãi do từ đâu, từ sanh hửu hay từ cảnh tượng nào (natthi
kutoci bhavato vā ārammaṇto vā bhayaṃ).
Phước báu của người ấy, là phước phát sanh cho người cúng
dường các bậc ứng cúng ấy.
Không ai có thể lường (na sakkā saṅkhātuṃ), nghĩa là không
người nào dù là phạm thiên, chư thiên, ma vương cũng không
thể cân, đo, đong, đếm được phước cúng dường đến các bậc ứng
cúng nhiều đến chừng nầy, đến chừng nầy (imaṃ ettakaṃ imaṃ
ettakan’ ti).
Quả thật, phước báu của người tín thành cúng dường đến chư
Phật và chư A la hán đệ tử Phật, là vô lượng, không để xiết.
Đừng nói chi là cúng đến các bậc ứng cúng còn hiện tiền, dù
các Ngài đã viên tịch, người có tâm tịnh tín cúng dường tháp
thờ xá lợi cũng có phước vô lượng.
Dứt phẩm thứ mười bốn
Phẩm Phật đà @@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/
-ooOoo- /span> |