|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 11 tháng 10, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYABài 155. NHƯ LAI CÓ TỒN TẠI SAU KHI CHẾT?- Kinh Sau Khi Chết (Paraṃmaraṇasuttaṃ).
Câu hỏi lớn thường có đối với người hướng cầu cứu cánh của
đời sống tu hành là sau khi không còn sanh tử thì mình sẽ ra
sao? Đi đâu, về đâu?. Đức Phật dạy nên đặt đúng câu hỏi: đau
khổ nói chính xác là gì? Cái gì là nguyên nhân của đau khổ?
Thế nào là sự chấm dứt khổ? Con đường thoát khổ như thế
nào?. Có câu hỏi đúng và tốt thì mới có câu trả lời tốt và
đúng. Câu hỏi đặt sai chỗ thì không bao giờ có câu trả lời
chính xác. Không may là phần đông chúng sanh bận tâm đến bản
ngã và cái gì xẩy ra đối với tự ngã sau khi đã đạt đến sự
giải thoát hoàn toàn. Ngã chấp là một ảo tưởng thì suy tư về
tự ngã khi vô dư niết bàn cũng là một ảo tưởng không hơn
không kém.
Ekaṃ samayaṃ āyasmā ca mahākassapo āyasmā ca sāriputto
bārāṇasiyaṃ viharanti isipatane migadāye. Atha kho āyasmā
sāriputto sāyanhasamayaṃ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā
mahākassapo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā
mahākassapena saddhiṃ sammodi. Sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ
vītisāretvā ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinno kho āyasmā
sāriputto āyasmantaṃ mahākassapaṃ etadavoca – ‘‘kiṃ nu kho,
āvuso kassapa, hoti tathāgato paraṃ maraṇā’’ti? ‘‘Abyākataṃ
kho etaṃ, āvuso, bhagavatā – ‘hoti tathāgato paraṃ
maraṇā’’’ti. ‘‘Kiṃ panāvuso, na hoti tathāgato paraṃ
maraṇā’’ti? ‘‘Evampi kho, āvuso, abyākataṃ bhagavatā – ‘na
hoti tathāgato paraṃ maraṇā’’’ti. ‘‘Kiṃ nu kho, āvuso, hoti
ca na ca hoti tathāgato paraṃ maraṇā’’ti? ‘‘Abyākataṃ kho
etaṃ, āvuso, bhagavatā – ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṃ
maraṇā’’’ti. ‘‘Kiṃ panāvuso, neva hoti, na na hoti tathāgato
paraṃ maraṇā’’ti? ‘‘Evampi kho, āvuso, abyākataṃ bhagavatā –
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’’’ti. ‘‘Kasmā
cetaṃ, āvuso, abyākataṃ bhagavatā’’ti? ‘‘Na hetaṃ, āvuso,
atthasaṃhitaṃ nādibrahmacariyakaṃ na nibbidāya na virāgāya
na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na
nibbānāya saṃvattati. Tasmā taṃ abyākataṃ bhagavatā’’ti. Một
thuở Tôn giả Mahākassapa và Tôn giả Sāriputta trú ở Bārāṇasi
(Ba-la-nại), tại Isipatana (Chư Tiên Đọa Xứ), ở Migadaya
(Lộc Uyển). Bấy
giờ vào buổi chiều Tôn giả Sāriputta từ chỗ an tịnh độc cư
đi đến Tôn giả Mahā Kassapa. Sau những lời thăm hỏi
thân tình, ngồi xuống một bên. Và Tôn giả Sāriputta nói với
Tôn giả Mahā Kassapa: -- Này
Hiền giả Kassapa, phải chăng Như Lai
tồn tại sau khi chết? -- Này
Hiền giả, Thế Tôn không có tuyên bố:
"Như Lai tồn tại sau khi chết".
-- Như
vậy, này Hiền giả, phải chăng Như Lai không tồn tại sau khi
chết?
-- Này
Hiền giả, Thế Tôn không có tuyên bố: "Như Lai không tồn tại
sau khi chết".
-- Này
Hiền giả, phải chăng Như Lai vừa tồn tại, và vừa không tồn
tại sau khi chết?
-- Này
Hiền giả, Thế Tôn không có tuyên bố: "Như Lai vừa tồn tại,
và vừa không tồn tại sau khi chết".
-- Vậy
này Hiền giả, phải Như Lai không có tồn tại và không không
tồn tại sau khi chết?
-- Này
Hiền giả, Thế Tôn không có tuyên bố: "Như Lai không tồn tại
và không không tồn tại sau khi chết". --Này
Hiền giả, vì sao Thế Tôn không có tuyên bố những điều nầy? --Này
Hiền giả, vì những điều đó không đưa đến lợi ích, không đưa
đến cứu cánh Phạm hạnh, không đưa đến yếm ly, ly tham, tịch
tịnh, thắng trí, giác ngộ, niết bàn. Do vậy, Thế Tôn không
có tuyên bố những điều ấy.
‘‘Atha kiñcarahāvuso, byākataṃ bhagavatā’’ti? ‘‘Idaṃ
‘dukkha’nti kho, āvuso, byākataṃ bhagavatā; ayaṃ
‘dukkhasamudayo’ti byākataṃ bhagavatā; ayaṃ
‘dukkhanirodho’ti byākataṃ bhagavatā; ayaṃ
‘dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti byākataṃ bhagavatā’’ti.
‘‘Kasmā cetaṃ, āvuso, byākataṃ bhagavatā’’ti? ‘‘Etañhi,
āvuso, atthasaṃhitaṃ etaṃ ādibrahmacariyakaṃ etaṃ nibbidāya
virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya
saṃvattati. Tasmā taṃ byākataṃ bhagavatā’’ti. Này
Hiền giả, vậy Thế Tôn tuyên bố điều gì? Này
Hiền giả Thế Tôn đã tuyên bố "Ðây là khổ"; Thế Tôn đã tuyên
bố: "Ðây là nhân sanh khổ"; Thế Tôn đã tuyên bố. "Ðây là
diệt khổ"; Thế Tôn đã tuyên bố: "Ðây là con đường đưa đến sự
diệt khổ". --Này
Hiền giả vì sao Thế Tôn đã tuyên bố những điều nầy? --Này
Hiền giả, vì những điều nầy đưa đến lợi ích, đưa đến cứu
cánh Phạm hạnh, đưa đến yếm ly, ly tham, an tịnh, thắng trí,
giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Thế Tôn đã tuyên bố như vậy.
Chú
Thích
Địa
danh Isipatana là nơi Đức Phật
chuyển pháp luân thuộc trấn Sranath. Điểm chính xác là Lộc
Uyển hay Vườn Nai (Migadāya). Theo Sớ Giải sở dĩ gọi là
Isipatana - được dịch qua Hán Việt
là “Tiên Nhân Đoạ Xứ” có nghĩa là nơi chư thiên giáng
phàm vì có lúc người ta trong thấy những tiên nhân từ trên
không đáp xuống
(isayo ettha
nipatanti uppatanti cāti’isipatanam).
Theo một bản Sớ Giải thì những tiên nhân đó là những Phật
độc giác. Cũng theo Sớ Giải thì đây là một trong 4 chỗ cố
định (avijahitatthānāni) của tất cả 5 vị Phật toàn giác xuất
hiện trên trái đất nầy ) gồm có nơi thành đạo, nơi chuyển
pháp luân, nơi hạ phàm từ cung trời Đạo Lợi sau khi thuyết
Abhidhamma, và hương thất tại Jetavana. Bản
Sớ Giải của bài kinh nầy chú thích chữ tathāgata (như lai)
có nghĩa là satta – chúng sanh. Bản Hậu Sớ Gỉải khai triển
thêm vì chúng sanh tạo nên do nghiệp và
phiền não từ vô thuỷ rồi bây giờ cũng tiếp tục như
thế (tathā etarahipi āgato); nói cách khác là sự hiện hữu là
do nghiệp bây giờ cũng tạo nghiệp để tiếp tục lập lại (tathā
taṃ taṃ attabhāvaṃ āgato upagato upapanno). Cách giải thích
nầy không được nhiều học giả đồng tình khi cố gắng giải
thích thuật ngữ “như lai” (không viết hoa) đồng nghĩa với
chúng sanh vì hiểu như vậy khiến câu hỏi vô nghĩa và câu trả
lời cũng vô nghĩa. Hầu
hết trong những bài kinh khác, thuật ngữ Tathāgata (Như
Lai), viết hoa, chỉ cho Đức Phật như đoạn kinh sau đây trích
từ Tương Ưng Bộ IV. 380:
Ở
đây nói chính xác “Như Lai là bậc Thượng nhân, là bậc Tối
thắng nhân, là bậc đã đạt được địa vị tối thượng. (tathāgato
uttamapuriso paramapuriso paramapattipatto)” thì không thể
hiểu là “chúng sanh -satta” mà phải là Đức Phật. Nói nôm na cả bốn luận điểm xoay chung quanh câu hỏi: sau khi
Đức Phật viên tịch rồi thì Ngài còn hay mất? trả lời là còn
hoặc không còn đều rơi vào bốn luận điểm trên. Đây là điều
mà người học Phật nên biết và nên tránh. Phải nhìn nhận rằng
tất cả tông phái Đại Thừa đều lập luận là “Đức Phật vẫn còn
– và còn mãi mãi” sau khi viên tịch. Một số nhà sư Nam Tông
lập luận là “Đức Phật hoàn toàn không còn sau khi viên
tịch”. Thực tế thì cả hai quan niệm nầy đều đi ngược lại lời
Phật dạy khi Ngài không xác định gì về điều đó. Đây là điểm
vô cùng tế nhị trong Phật học. Để trả lời 4 luận điểm đó Đức Phật dạy: “Trước đây và hiện nay, này
Anuràdha, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ” hàm ý là hãy
tập trung giải quyết vấn đề trước mắt là khổ đau. Sau khi
diệt khổ thì như thế nào vốn là điều không thiết thực. Khi nói đến sự hiện hữu của chúng sanh là nói đến sự hiện hữu
của năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Khi nói tu tập để
dẫn đến sự chấm dứt năm uẩn thì người ta nghĩ là cứu cánh
niết bàn là “đoạn diệt tất cả”. Trong các bài kinh, mà bài
kinh là một trích dẫn trên, Đức Phật dạy
“không nên nghĩ sự
tồn tại của Như Lai ở sắc, thọ, tưởng, hành, thức” dù là
trong hay ngoài”. Khi nói Như Lai tồn tại hay không tồn tại sau khi chết dễ dàng
rơi vào thường kiến và đoạn kiến. Nói cách khác, cái nhìn
còn hay không còn đều dựa trên sự hiện hữu của những gì được
biết qua năm uẩn. Cũng giống như một đứa trẻ được cha mẹ
khuyến khích học hành nêu lên câu hỏi “học xong rồi thì có
còn vui thích với những món đồ chơi đang có chăng?” Câu trả
lời là không sẽ là một thất vọng lớn vì nếu trưởng thành mà
không còn vui chơi với những gì đang có thì trưởng thành làm
gì?. Chính vì vậy, Đức Phật dạy nên nhìn vào sự khổ và sự
diệt khổ vì đây là hai phạm trù có thể nhận thức đối với
chúng sanh. Bốn luận điểm:"Như Lai tồn tại sau khi chết",”Như Lai không
tồn tại sau khi chết”, “ Như Lai vừa tồn tại, và vừa không
tồn tại sau khi chết”; "Như Lai vừa tồn tại, và vừa không
tồn tại sau khi chết"; “ Như Lai không có tồn tại và không
không tồn tại sau khi chết” nằm trong 10 câu hỏi cổ điển mà
Đức Phật không trả lời. Ngoại giáo dùng chữ Như Lai để chỉ
cho người đã đạt đến đỉnh cao của sự tu chứng không còn thân
sanh tử vậy thì có còn hay hay không còn gì. Nên lưu ý là
những điều nầy đã lưu truyền trước khi Đức Phật ra đời. Bốn luận điểm “có, không, vừa có vừa không, không có cũng
không không” nằm trong cơ sở lý luận “tứ cú bách phi” với
logic là bốn điều nầy bao trùm tất cả, nếu không là cái nầy
phải là cái kia, không thể có gì khác hơn được. Đức Phậy dạy
giáo lý duyên khởi với ý nghĩa “nói còn cũng không được, nói
không còn cũng không đúng” giống như sữa trong ghè từ sáng
tới chiều đã biến chất. Bảo rằng sửa buổi sáng và buổi chiều
là hai hay một đều không chính xác. Những vấn đề được nêu ra trong bài kinh, nói theo bình thường, là hý luận,
là những điều mà Đức Phật dạy như là “những câu hỏi không
liên hệ tới giác ngộ, giải thoát". Những điều nầy được Tôn
giả Sāriputta nêu lên không phải vì vậy mà Ngài mắc lỗi là
hỏi những câu phiếm luận mà là tạo nên cơ duyên để Tôn giả
Mahākassapa nói lên tánh thiết thực của giáo pháp. Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.
-ooOoo- |