|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, 30 tháng 10, 2023
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN
Phần III: Ứng Dụng Lời Phật Dạy
- ĐỂ HIỂU BÁT CHÁNH ĐẠO.
Bài
nầy đúng ra cần nhiều trưng dẫn từ Tam Tạng nhưng có thể
là khiến người đọc phân tâm nên ở đây chỉ nêu một số
điểm chính để là bố cục tổng quát cho bài giảng.
Bát
chánh đạo thường được hiểu rất đại lược vì trên phương
diện từ ngữ và ý nghĩa không khó hiểu. Người ta thường
chú trọng cái gì mang vẻ triết lý cao xa hay ngôn từ bí
ẩn khó hiểu.
Bát
chánh đạo cũng được hiều như quan niệm luân lý đạo đức
như trong ý nghĩa “chánh thắng tà” hơn là “đúng phương
pháp, đúng cách, đúng công thức”.
Bát
chánh đạo cũng được hiểu một cách rời rạc vì mỗi chi
pháp đều có những đặc điểm riêng. Thậm chí có nhiều
người chỉ đề cao chánh niệm mà không cần đến chánh kiến
như một số người đề cao pháp tu tứ niệm xứ hay cách tu
quán niệm (…).
Bát
chánh đạo thường bị hiểu một cách cục bộ đơn giản chỉ là
một đề tài pháp số trong rất nhiều đề tài pháp số thậm
chí ngang bằng với những đề pháp như tứ thần túc, ngũ
căn, thất giác chi…
Trước
hết nên hiểu những pháp như kiến, tư duy, ngữ, nghiệp,
mưu sinh… vốn là những pháp tồn tại tự nhiên trong cuộc
sống hằng ngày. Nói theo Thắng Pháp thì những pháp nầy
nói một cách vĩ mô là những thuộc tánh (cetasika) của
tâm. Ngay cả những chi phần được gọi là “tịnh hảo” như
“niệm” thì chỉ sanh khởi và tan biến nếu không được hàm
dưỡng đúng cách. Ví như chất kẽm (zinc) hay chất sắt
(iron) trong ngành dinh dưỡng không thể hiểu theo cái
biết về kim loại theo quan niệm bình thường.
Tám
pháp trong bát chánh đạo phải mang cả hai yếu tố huân tu
và kết hợp. Sự kết hợp nầy là yếu tố “ắt có và đủ” không
thể ít hơn mà không thể nhiều hơn. Cả tám pháp phải kết
hợp nhưng một nhóm người trong “team work” không thể
thiếu bất cứ vai trò nào.
Trên
phương diện ứng dụng thì tám pháp nầy có thể được thực
hành như đời sống hiền thiện trong sinh hoạt hằng ngày
của người cư sĩ; mà cũng là pháp nền tảng cho tu tập cao
hơn trong ý nghĩa “tăng thượng giới, tăng thượng định,
tăng thượng tuệ; và tám pháp nầy cũng đồng sanh một cách
hãn hữu trong khoảnh chứng đạo, sát trừ kiết sử với vai
trò đạo chi (magaṅga). Cả ba trường hợp đều có những
khác biệt to lớn.
Phải
nắm vững lãnh vực ứng dụng thực tế thì mới có định nghĩa
chính xác. Thí dụ chánh mạng của người xuất gia rất khác
với chánh mạng của người cư sĩ hoặc chánh định của người
tu “tăng thượng giới, tăng thượng định, tăng thiện tuệ”
với các thiền chứng rất khác với chánh định trong đời
sống bình thường.
Ngay
cả sự đồng sanh, cùng hiện hữu của tám chi đạo trong
khoảnh khắc chứng đạo cũng là điều bất khả vì là những
thiện pháp khác biệt không thể đi đồng sanh như ba pháp
chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng.
Có
bát chánh thì cũng có bát tà. Mặc dù những chi pháp như
niệm là thuộc tánh tịnh hảo nhưng cũng có tà niệm, hay
trí là pháp tịnh hảo nhưng cũng có tà trí hay liệt tuệ.
Chánh tà ở đây không thể hiểu quá đơn giản dù là theo
Kinh Tạng hay Thắng Pháp Tạng. Biên soạn: Tỳ kheo Giác Đẳng |