|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 01 tháng 10, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 382. TỪ CÁI THẤY SAI TẠO NÊN CHẤP SAI- Kinh Tà Kiến (Micchādiṭṭhisutta), Kinh Thân Kiến (Sakkāyadiṭṭhisutta), Kinh Ngã Kiến (Attānudiṭṭhisutta), Kinh Thành Kiến (Abhinivesasutta), Kinh Thành Kiến II (Dutiyābhinivesasutta). ******
Tất cả chúng sanh đều sống với
năm uẩn và có ít nhiều đối diện
với những hiện tượng liên quan
tới năm uẩn. Vấn đề là nếu không
nhìn đúng bản chất thì thường
sanh ảo tưởng giống như nhìn một
đoá hoa với màu sắc chưa đủ mà
còn phải hiểu rõ những gì liên
hệ sâu xa như chủng loại, điều
kiện tăng trưởng, dược tính, giá
trị dinh dưỡng, thậm chí những
dị ứng tạo nên bởi loài hoa đó.
Ba đặc tính của năm uẩn cần được
hành giải lưu tâm là sự biến đổi
hay vô thường, sự bất toàn hay
khổ não, sự vô chủ vô quyền hay
vô ngã. Có thật thấy được thực
tướng mới xua tan ảo tưởng; xoá
tan ảo tưởng là không chấp sai,
hiểu lầm.
154. Sāvatthinidānaṃ. “kismiṃ nu
kho, bhikkhave, sati, kiṃ
upādāya, kiṃ abhinivissa
micchādiṭṭhi uppajjatī”ti?
bhagavaṃmūlakā no, bhante,
dhammā ... pe ... “rūpe kho,
bhikkhave, sati, rūpaṃ upādāya,
rūpaṃ abhinivissa micchādiṭṭhi
uppajjati. vedanāya sati...
micchādiṭṭhi uppajjati. saññāya
sati... saṅkhāresu sati...
viññāṇe sati, viññāṇaṃ upādāya,
viññāṇaṃ abhinivissa
micchādiṭṭhi uppajjati. taṃ kiṃ
maññatha, bhikkhave, rūpaṃ
niccaṃ vā aniccaṃ vā”ti?
“aniccaṃ, bhante”. “yaṃ
panāniccaṃ ... pe ... api nu taṃ
anupādāya micchādiṭṭhi
uppajjeyyā”ti? “no hetaṃ,
bhante”. “vedanā... saññā...
saṅkhārā... viññāṇaṃ niccaṃ vā
aniccaṃ vā”ti? “aniccaṃ,
bhante”. “yaṃ panāniccaṃ,
dukkhaṃ vā taṃ sukhaṃ vā”ti?
“dukkhaṃ, bhante”. “yaṃ
panāniccaṃ dukkhaṃ
vipariṇāmadhammaṃ, api nu taṃ
anupādāya micchādiṭṭhi
uppajjeyyā”ti? “no hetaṃ,
bhante”. “evaṃ passaṃ ... pe ...
nāparaṃ itthattāyāti
pajānātī”ti.‘pañcamaṃ.
154. Tại
Sāvatthī.
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Thưa không, bạch Thế Tôn." ___________________
Những bài kinh tiếp theo mang số 155 Kinh Thân Kiến
(Sakkāyadiṭṭhisutta),
156 Kinh Ngã Kiến
(Attānudiṭṭhisutta). Bài kinh số
157,
Kinh
Chấp Kiến I (Ābhinivesasutta)
thì thay thế bằng
“kiết
sử, chấp kiến, ách phược”.
Bài sau cùng, kinh số 158,
Kinh Chấp Kiến II
(Dutiyābhinivesasutta), thì thay
thế bằng “kiết sử, chấp kiến,
ách phược, thằng thúc”.
Chú thích
5 bài kinh trong bài nầy đều có
nội dung nói về sự nhận thức sai
lạc do không thấy được bản chất
biến đổi, bất toàn, vô hộ vô chủ
của năm uẩn.
Chữ tà kiến - micchādiṭṭhi – có
nghĩa là cái nhìn sai lạc, đặc
biệt là thường kiến và đoạn
kiến.
Thân kiến - sakkāyadiṭṭhi – là
cách tự nhận về bản thân “ta là
ai?” như sắc uẩn là ta, ta là
sắc uẩn ..
Ngã kiến là - attānudiṭṭhi – là
cái nhìn với ảo tưởng về cái ta
hằng hữu. Chấp kiến – abhinivesa – theo Hậu Sớ Giải là nói về ái chấp, mạn chấp, và kiến chấp.
Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình
_________________________________
Dưới đây là chánh văn Pāli cùng với bản Việt dịch của Hoà thượng
Thích Minh Châu
V. Tà Kiến (S.iii,184)
1-3) Nhân duyên ở Sàvatthi...
-- Này các Tỷ-kheo, do có cái gì, do chấp thủ gì, do thiên
chấp gì, tà kiến khởi lên?
4) -- Ðối với chúng con, bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn
làm căn bản...
5) -- Này các Tỷ-kheo, do có sắc, có chấp thủ sắc, do thiên
chấp sắc nên tà kiến khởi lên.
6-9)... thọ... tưởng... các hành...
Do có thức, do có chấp thủ thức, do thiên chấp thức nên tà
kiến khởi lên.
10) Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc là thường hay
vô thường?
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có nên chấp thủ
cái ấy, và khởi lên tà kiến không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
11-14) ... Thọ... Tưởng... Các hành... Thức là thường hay vô
thường?
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có nên chấp thủ
cái ấy, và khởi lên tà kiến không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
Do thấy vậy... vị ấy biết rõ... "...
không còn trở lui trạng thái này nữa".
VI. Hữu Thân
(Giống như kinh trước, chỉ thế "hữu thân" cho "tà kiến").
VII. Ngã Kiến
(Giống như kinh trước, chỉ thế "ngã kiến" (attànuditthi) cho
"hữu thân").
VIII. Thân Kiến
(Giống như kinh trước, chỉ thế "bị trói buộc, thiên chấp
kiết sử" cho "ngã kiến").
IX. Thân Kiến
(Giống như kinh trước, chỉ thêm: "Sự tham trước về sự trói
buộc, thiên chấp các kiết sử").
150-158. diṭṭhivaggassa paṭhame kiṃ upādāyāti kiṃ paṭicca.
dutiye kiṃ abhinivissāti kiṃ abhinivisitvā, paccayaṃ katvāti
attho. tatiyādīsu diṭṭhītiādīni puggalajjhāsayena vuttāni.
paṭhamādīni.
Trong bài kinh đầu tiên của Diṭṭhivagga, "kiṃ
upādāyā" có nghĩa là "dựa vào điều gì." Trong bài kinh thứ
hai, "kiṃ abhinivissā" có nghĩa là "đã bám víu vào điều gì,"
với ý nghĩa là đã bám chấp và làm cho nó trở thành căn
nguyên (paccayaṃ katvā). Trong các bài kinh từ thứ ba trở
đi, các từ như "diṭṭhi" (tà kiến) được nói đến theo khuynh
hướng của cá nhân (puggalajjhāsayena), nhằm chỉ các quan
niệm và quan điểm cá nhân. Những điều này được đề cập từ bài kinh
đầu tiên trở đi. |