|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 02 tháng 10, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 383. CHIẾU KIẾN NGŨ UẨN GIAI KHÔNG- Kinh Ānanda (Ānandasutta). ******
159. sāvatthinidānaṃ. atha kho
āyasmā ānando yena bhagavā
tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ...
pe ... bhagavantaṃ etadavoca —
“sādhu me, bhante, bhagavā
saṃkhittena dhammaṃ desetu,
yamahaṃ bhagavato dhammaṃ sutvā
eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī
pahitatto vihareyyan”ti.
“taṃ kiṃ maññasi,
ānanda, rūpaṃ niccaṃ vā aniccaṃ
vā”ti? “aniccaṃ, bhante”. “yaṃ
panāniccaṃ, dukkhaṃ vā taṃ
sukhaṃ vā”ti? “dukkhaṃ, bhante”.
“yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ
vipariṇāmadhammaṃ, kallaṃ nu taṃ
samanupassituṃ — ‘etaṃ mama,
esohamasmi, eso me attā’”ti? “no
hetaṃ, bhante”. “vedanā...
saññā... saṅkhārā... viññāṇaṃ
niccaṃ vā aniccaṃ vā”ti?
“aniccaṃ, bhante”. “yaṃ
panāniccaṃ, dukkhaṃ vā taṃ
sukhaṃ vā”ti? “dukkhaṃ, bhante”.
“yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ
vipariṇāmadhammaṃ, kallaṃ nu taṃ
samanupassituṃ — ‘etaṃ mama,
esohamasmi, eso me attā’”ti? “no
hetaṃ, bhante” {no hetaṃ bhante.
tasmātihānanda yaṃ kiñci rūpaṃ
atītānāgatapaccuppannaṃ ... pe
... daṭṭhabbaṃ. (sī. syā. kaṃ.
pī.)} . “evaṃ passaṃ ... pe ...
nāparaṃ itthattāyāti
pajānātī”ti. dasamaṃ.
159. Tại Sāvatthī.
Nhân duyên ở Sàvatthi.
Bấy giờ Tôn giả Ananda đi đến
Thế Tôn; sau khi đến... bạch Thế
Tôn:
Bạch Thế Tôn!, thật lợi lạc thay
cho con được Thế Tôn hãy thuyết
pháp cô đọng ngắn gọn
Sau khi nghe pháp, con
sống độc cư thanh tịnh, tinh
cần, nhiệt tâm, không huởn đãi.
Này Ānanda, sắc là
thường hay vô thường?"
"Là vô thường, bạch Thế Tôn."
"Cái gì vô thường, thì là khổ
hay lạc?"
"Là khổ, bạch Thế Tôn."
"Đối với cái gì vô thường, khổ,
chịu sự biến đổi, thời có nên
nên quan niệm: “Đó là của ta, đó
là của ta, đó là tự ngã của ta
chăng?.”
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Tưởng ... hành... thức là
thường hay vô thường?"
"Là vô thường, bạch Thế Tôn."
"Cái gì vô thường, thì là khổ
hay lạc?"
"Là khổ, bạch Thế Tôn."
"Đối với cái gì vô thường, khổ,
chịu sự biến đổi, thời có nên
nên quan niệm: “Đó là của ta, đó
là của ta, đó là tự ngã của ta
chăng?.”
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Thấy rõ như vậy ... vị ấy hiểu
rằng không còn tiếp tục trạng
thái nầy nữa.
Chú thích
Tôn giả Ānanda, một khuôn mặt
lớn và quan trọng trong hàng đệ
tử ưu tú của Đức Phật. Cũng là
người kết tập và kể lại những gì
được ghi trong bài kinh nầy. Tôn
giả xuất thân là hoàng tử dòng
Thích Ca, là người cùng tuổi với
Đức Phật. Xuất gia vào năm thứ
hai sau khi Phật chuyển pháp
luân. Thời gian đầu Tôn giả
chứng sơ quả và dành phần lớn
thì giờ tu học cá nhân. 25 năm
cuối đời, Tôn giả trở thành thị
giả chính thức của Đức Phật.
Được xem là vị “thủ khố của giáo
pháp”. Tôn giả chứng quả vô sanh
ứng cúng trước khi diễn ra Đại
Hội Kết Tập Kinh Điển ba tháng
sau khi Đức Thế Tôn viên tịch.
Theo Sớ giải thì Đức Phật dạy
cho Tôn giả Ānanda bài kinh nầy
như gieo trồng hạt giống lành
cho sự đại ngộ xầy ra rất lâu
sau nầy. Vì lúc ấy Đức Thế Tôn
biết rõ tôn giả chưa tới thời
điểm thành tựu những quả chứng
cao hơn. Tôn giả thỉnh Phật dạy
cho thiền án chỉ vì nhận thấy sự
tu tập và quả chứng của những tỳ
khưu khác.
Do đại duyên là thị giả chính
thức của một vị Chánh Đẳng Chánh
Giác, tôn giả Ānanda chỉ là bậc
thánh sơ quả trong suốt thời
gian dài làm thị giả chính thức
của bậc Đạo Sư. Thời gian nầy
ngoài vai trò của một thị giả
Phật, ngài chuyên sâu về pháp
học hơn là pháp hành.
Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình
_________________________________
Dưới đây là chánh văn Pāli cùng với bản Việt dịch của Hoà thượng
Thích Minh Châu
X. Ananda (S.iii,187)
2) Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến... bạch
Thế Tôn:
3) -- Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn
tắt cho con, để sau khi nghe pháp, con sống một mình an
tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
4) -- Ông nghĩ thế nào, này Ananda, sắc là thường hay vô
thường?
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng
nếu quán cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái
này tự ngã của tôi"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
5-8) -- Thọ... Tưởng... Các hành... Thức là thường hay vô
thường?
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng
khi quán cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái
này là tự ngã của tôi"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
9) Do thấy vậy... vị ấy biết rõ...
"... không còn trở lui trạng thái này nữa".
dasame upasaṅkamīti aññe bhikkhū pañcakkhandhakammaṭṭhānaṃ
kathāpetvā yuñjitvā ghaṭetvā arahattaṃ patvā satthu santike
aññaṃ byākaronte disvā “ahampi pañcakkhandhakammaṭṭhānaṃ
kathāpetvā yuñjanto ghaṭento, arahattaṃ patvā aññaṃ
byākarissāmī”ti cintetvā upasaṅkami. satthā pana attano
dharamānakāle therassa uparimaggattayavajjhānaṃ kilesānaṃ
pahānaṃ apassantopi “imassa cittaṃ gaṇhissāmī”ti kathesi.
tassāpi ekaṃ dve vāre manasi katvāva buddhupaṭṭhānavelā
jātāti gantabbaṃ hoti. itissa cittaṃ sampahaṃsamāno
vimuttiparipācanīyadhammova so kammaṭṭhānānuyogo jātoti.
dasamaṃ.
Kinh thứ
mười (trong phẩm). Ngài (Tôn giả Ānanda) đi đến Đức Phật sau
khi đã thấy các vị tỳ khưu khác giảng dạy về đề mục tu tập
liên quan đến năm uẩn (pañcakkhandha) và chứng đắc A la hán.
Sau khi quan sát những vị tỳ khưu khác đạt được sự giải
thoát và tuyên bố chứng ngộ trước Đức Phật, ngài nghĩ: "Ta
cũng sẽ chuyên tâm vào việc thực hành và giảng dạy đề mục về
năm uẩn, đạt đến A-la-hán và tuyên bố sự chứng ngộ của ta." Sau
đó, ngài đến gặp Đức Phật. Tuy nhiên, trong thời gian Đức
Phật trụ thế, Ngài thấy rằng đệ tử này chưa đến lúc đoạn trừ
được các phiền não ngăn cản ba quả cao hơn (Tư Đà Hàm, A Na
Hàm, và A-la-hán), nhưng Ngài nghĩ: "Ta sẽ tiếp nhận tâm của
người này." Vì thế, Đức Phật đã giảng dạy. Sau khi ngài
chuyên chú suy ngẫm một hoặc hai lần, thì đến thời
điểm ngài trở thành thị giả của Đức Phật.
Sau nầy, nhờ sự hân hoan trong tâm,
kết hợp nhân duyên đủ chín muồi cho sự giải thoát, ngài đã
hoàn tất việc tu tập. |