|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 05 tháng 10, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 384. HỌC BIẾT SỢ MA- Kinh Ma (Mārasuttaṃ). ******
Sợ ma thường được xem là một
thức cảm xúc bản năng hay phản
ứng không lý tính. Bảo rằng
“phải học để biết sợ ma” nghe
như cách nói trái tai. Thực tế
thì khái niệm về ma trong ngũ ma
bao trùm tất cả khổ đau hệ luỵ
trong đời. Chúng sanh sống vô
cảm với trần ai khổ luỵ giống
như câu “điếc không sợ súng”.
Phải nhận ra được hiểm hoạ của
ma chướng mới có thể khởi sự
hành trình vượt thoát lưới ma.
Chỉ có sự nhận thức sâu
sắc về sanh tử mới tỏ ngộ giá
trị của giải thoát niết bàn như
một câu kinh Bắc Phạn: gate gate
pāragate pārasamgate Bpbodhi
svāhā (Yết đế yết đế, ba la yết
đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát
bà ha).
160. sāvatthinidānaṃ. atha kho āyasmā
rādho yena bhagavā
tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā
bhagavantaṃ abhivādetvā
ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ
nisinno kho āyasmā rādho
bhagavantaṃ etadavoca —
“‘māro, māro’ti, bhante, vuccati.
kittāvatā nu kho, bhante,
māro”ti? “rūpe kho, rādha, sati
māro vā assa māretā vā yo vā
pana mīyati. tasmātiha tvaṃ,
rādha, rūpaṃ māroti passa,
māretāti passa, mīyatīti passa,
rogoti passa, gaṇḍoti passa,
sallanti passa, aghanti passa,
aghabhūtanti passa. ye naṃ evaṃ
passanti te sammā passanti.
vedanāya sati... saññāya sati...
saṅkhāresu sati... viññāṇe sati
māro vā assa māretā vā yo vā
pana mīyati. tasmātiha tvaṃ,
rādha, viññāṇaṃ māroti passa,
māretāti passa, mīyatīti passa,
rogoti passa, gaṇḍoti passa,
sallanti passa, aghanti passa,
aghabhūtanti passa. ye naṃ evaṃ
passanti, te sammā passantī”ti.
“sammādassanaṃ pana, bhante,
kimatthiyan”ti? “sammādassanaṃ
kho, rādha, nibbidatthaṃ”.
“nibbidā pana, bhante,
kimatthiyā”ti? “nibbidā kho,
rādha, virāgatthā”. “virāgo
pana, bhante, kimatthiyo”ti?
“virāgo kho, rādha,
vimuttattho”. “vimutti pana,
bhante, kimatthiyā”ti? “vimutti
kho, rādha, nibbānatthā”.
“nibbānaṃ pana, bhante,
kimatthiyan”ti? “accayāsi
{accasarā (sī. syā. kaṃ.), assa
(pī.), accayā (ka.)}, rādha,
pañhaṃ, nāsakkhi pañhassa
pariyantaṃ gahetuṃ.
nibbānogadhañhi, rādha,
brahmacariyaṃ vussati,
nibbānaparāyanaṃ
nibbānapariyosānan”ti. paṭhamaṃ.
Nhân duyên ở Sàvatthi.
Bấy giờ Tôn giả Rādha đi đến Đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, ngồi
xuống một bên và bạch rằng:
"Bạch Thế Tôn, khi nói 'māra,
māra'. Vậy, bạch Thế Tôn, māra
là gì?"
"Này Rādha, khi có sắc, có thể có māra
– là sát thủ hay kẻ bị sát hại.
Vì vậy, Rādha, hãy xem
sắc như là māra, xem nó là sát
thủ hay kẻ bị sát hại. Hãy xem
nó như là một căn bệnh, một khối
u, một mũi tên, là khổ đau, là
sự khổ đau thật sự. Những ai
thấy nó như vậy là thấy chân
xác.
"Khi có thọ... khi có tưởng... khi có hành... khi có thức, này
Rādha, có thể có māra – là sát
thủ hay kẻ bị sát hại.
Vì vậy, Rādha, hãy xem
sắc như là Māra, xem nó là sát
thủ hay kẻ bị sát hại. Hãy xem
nó như là một căn bệnh, một khối
u, một mũi tên, là khổ đau, là
sự khổ đau thật sự. Những ai
thấy nó như vậy là thấy chân
xác. "Mục đích của việc thấy chân xác, này Rādha, là nhàm chán." Và bạch Thế Tôn, mục đích của nhàm chán là gì?" "Mục đích của nhàm chán là ly tham." "Và bạch Thế Tôn, mục đích của ly tham là gì?" "Mục đích của sự ly tham là giải thoát." "Và bạch Thế Tôn, mục đích của giải thoát là gì?" "Mục đích của giải thoát là Niết Bàn." "Và bạch Thế Tôn, mục đích của Niết Bàn là gì?"
"Này Rādha, Thầy đã đi
vượt khỏi phạm vi của vấn đề
rồi. Thầy không
nắm bắt được giới hạn của
vấn đề. Này Rādha, vì phạm hạnh
được sống với Niết Bàn là nền
tảng, Niết Bàn là đích đến, Niết
Bàn là mục tiêu cuối cùng."
Chú thích
Rādha là một bà la môn ở
Rājagaha, người đã xuất gia khi
tuổi đã cao. Đức Phật tuyên bố
ông là vị đứng đầu trong số
những người có thể truyền cảm
hứng sáng tạo cho người khác
(etadaggam patibhānakeyyānam; AN
I 25,15). Vị nầy có hai bài kệ
trong Trưởng Lão Tăng Kệ Th
133-34 (= Dhp 13-14). Theo Sớ
Giải của Tương Ưng Bộ thì
bất
cứ khi nào Đức Như Lai nhìn thấy
vị trưởng lão này, một đề tài vi
tế xuất hiện trong tâm Ngài. Vì
vậy, Đức Thế Tôn đã giảng dạy
Pháp cho Tôn giả Rādha theo
nhiều cách khác nhau. Trong
Samyutta này, hai vagga đầu được
truyền lại qua hình thức câu
hỏi, vagga thứ ba qua yêu cầu,
vagga thứ tư qua hình thức đối
thoại thân mật
(upanisinnakakathā, nghĩa là
"cuộc trò chuyện khi ngồi gần").
Chữ “ma” trong tiếng Việt có gốc
từ chữ Hán. Chữ “ma” trong Hán
tự có gốc từ Phạm ngữ. Nguyên
nghĩa chữ “ma” trong Phật học,
và trong văn hoá Thiên Trúc, có
nghĩa là cái gì mang lại đau
khổ, phiền luỵ, cám dỗ tội lỗi.
Māra trong Phật Pháp bao
gồm ngũ ma (pañcamāra):1.Thiên ma(devaputtamāra),2.Phiền não ma
(kilesamāra),3.Ngũ uẩn ma
(khandhamāra),4.Pháp hành ma hay
nghiệp lực ma(abhisankhāramāra).5.Tử thần ma
(maccumāra)
(Chữ “ma” trong cách dùng quen
thuộc trong ngôn ngữ dân gian
Việt Nam thường được hiểu là
những oan hồn. Và người ta
thường nghĩ ma ít đáng sợ hơn
quỷ, và quỷ ít đáng sợ hơn yêu
tinh. Chữ ma trong Phật học chỉ
cho cái gì rộng hơn tất cả những
từ yêu tinh, quỷ, ma.. thường
được nói)
Theo Sớ Giải chữ
"Māra"
trong bài kinh nầy là ẩn dụ cho
tử thần ma và ngũ uẩn ma
(maranamāra và khandhamāra).
Māro vā assa māretā vā yo vā
pana mīyati. Spk chú giải từ
māretā là māretabbo, nhưng từ
này rõ ràng là một danh từ chia
theo chủ cách.
Vimutti kho Rādha nibbānathā.
Spk: "Sự giải thoát của quả
chứng" này nhằm mục đích đạt đến
Niết Bàn không còn chấp thủ
(phalavimutti nām’ esā
anupādānibbānatthā).
Đoạn này cũng xuất hiện tại
48:42 (V 218,19-21) và MN I
304,20-22. Bản Miến Điện thường
xuyên đọc động từ là accayāsi
(quá khứ của atiyāti), còn bản
Tích Lan là accasarā (quá khứ
của atisarati). Theo ngài Bodhi
chữ ass ở đây và phần jhaparam
trong Bản Anh ngữ
bên
dưới có thể xuất phát từ các bản
thảo bị lỗi.
Câu cuối cùng là: Nibbānogadham
hi Rādha brahmacariyam vussati
nibbānaparāyanam
nibbānapariyosānam. Nhiều dịch
giả hiểu nibbānogadha là "nhảy
vào Niết Bàn" hoặc "thể nhập
Niết Bàn," điều này được các chú
giải khuyến khích bằng cách liên
kết ogadha với ogāha, nghĩa là
một cú nhảy (từ động từ ogāhati,
nhảy vào). Tuy nhiên, ogadha
thực ra là một biến thể của
ogādha, từ động từ ogādhati, mà
các chú giải coi là đồng nghĩa
với patitthahati, nghĩa là "được
thiết lập." Họ xác nhận điều này
bằng cách nhất quán chú giải
ogadha là patitthā, nghĩa là
"nền tảng." Để tham khảo, xem
CPD, mục từ ogadha, ogādhati,
ogāha, và cách sử dụng từ gādha,
cả theo nghĩa đen lẫn nghĩa
bóng, trong I, v. 263. MW định
nghĩa gādha (từ gốc gādh, đứng
vững) là một nền tảng để đứng
trên nước, một chỗ cạn, một bến
đỗ.
Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình
_________________________________ Dưới đây là chánh văn Pāli cùng với bản Việt dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
I. Màra (Tạp 6, Ðại 2,39b) (S.iii,188)
1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
2) Rồi Tôn giả Ràdha đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ
Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
3) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn:
-- "Màra, Màra", bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến
như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là Màra?
4) -- Nếu có sắc, này Ràdha, thời có chết (Màra) hay có sát
giả (Màretà), hay có sự chết (Miiyati). Do vậy, này Ràdha,
Ông hãy thấy sắc là sự chết, hãy thấy là sát giả, hãy thấy
là bị chết, hãy thấy là bệnh, hãy thấy là ung nhọt, hãy thấy
là mũi tên, hãy thấy là bất hạnh, hãy thấy tự tánh là bất
hạnh. Những ai thấy sắc như vậy là thấy chơn chánh.
5-7) ... Thọ... tưởng... các hành...
8) Nếu có thức, này Ràdha, thời có chết, hay có sát giả, hay
có bị chết. Do vậy, này Ràdha, Ông hãy thấy thức là sự chết,
hãy thấy là sát giả, hãy thấy là bị chết, hãy thấy là bệnh
hoạn, hãy thấy là ung nhọt, hãy thấy là mũi tên, hãy thấy là
bất hạnh, hãy thấy tự tánh là bất hạnh. Những ai thấy thức
như vậy là thấy chơn chánh.
9) -- Bạch Thế Tôn, chánh quán với mục đích gì?
-- Chánh quán, này Ràdha, với mục đích nhàm chán.
10) -- Bạch Thế Tôn, nhàm chán với mục đích gì?
-- Nhàm chán, này Ràdha, với mục đích ly tham.
11) -- Bạch Thế Tôn, ly tham với mục đích gì?
-- Ly tham, này Ràdha, với mục đích được giải thoát.
12) -- Bạch Thế Tôn, giải thoát với mục đích gì?
-- Giải thoát, này Ràdha, với mục đích Niết-bàn.
13) -- Bạch Thế Tôn, Niết-bàn với mục đích gì?
-- Này Ràdha, Ông đi quá xa với câu hỏi này, không thế nắm
được giới hạn của câu hỏi. Nhập vào Niết-bàn, này Ràdha, là
sự thực hành Phạm hạnh; Niết-bàn là mục tiêu cuối cùng;
Niết-bàn là cứu cánh.
Sớ Giải
160. rādhasaṃyuttassa paṭhame māro vā assāti maraṇaṃ vā
bhaveyya. māretā vāti māretabbo vā. yo vā pana mīyatīti yo
vā pana marati. nibbidatthanti nibbidāñāṇatthaṃ.
nibbānatthāti phalavimutti nāmesā anupādānibbānatthāti
attho. accayāsīti atikkantosi. nibbānogadhanti nibbāne
patiṭṭhitaṃ. idaṃ maggabrahmacariyaṃ nāma nibbānabbhantare
vussati, na nibbānaṃ atikkamitvāti attho.
nibbānapariyosānanti nibbānaṃ assa pariyosānaṃ, nipphatti
niṭṭhāti attho. paṭhamaṃ.
Māro vā assāti:
"Có thể có
Māra" nghĩa là có thể có sự chết.
Maraṇaṃ vā bhaveyya:
Có thể
có sự chết.
Māretā vāti: "Māretabbo vā"
nghĩa là có thể là kẻ giết.
Yo vā pana mīyatīti: "Yo vā
pana marati" nghĩa là hoặc là người bị giết.
Nibbidatthanti:
"Nibbidāñāṇatthaṃ" nghĩa là với mục đích đạt được trí tuệ về
sự nhàm chán (nhìn thấy rõ bản chất thật của sự vật dẫn đến
sự nhàm chán đối với chúng).
Nibbānatthāti:
Nghĩa là với
mục đích đạt được Niết Bàn, tức là đạt được quả giải thoát
(phalavimutti). "Anupādānibbānatthaṃ"
có nghĩa là đạt đến
Niết Bàn không còn sự chấp thủ.
Accayāsīti: "Atikkantosi"
nghĩa là con đã vượt qua (giới hạn của câu hỏi).
Nibbānogadhanti: "Nibbāne
patiṭṭhitaṃ" nghĩa là đặt vững vào Niết Bàn.
Idaṃ maggabrahmacariyaṃ
nāma nibbānabbhantare vussati: "Đời sống thánh thiện này
được sống trong Niết Bàn, không vượt quá Niết Bàn." Tức là
đời sống này luôn hướng đến Niết Bàn, và không vượt quá mục
đích của nó.
Nibbānapariyosānanti:
Nghĩa
là Niết Bàn là mục tiêu cuối cùng. "Nipphatti niṭṭhāti"
nghĩa là sự hoàn thành, đạt đến đích cuối cùng. |