|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 08 tháng 10, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 385. VƯƠNG MANG LÀ CHÚNG HỮU TÌNH- Kinh Hữu Tình (sattasuttaṃ). ******
Một đặc điểm của chúng sanh
trong đời là tham luyến vào các
uẩn. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức
vốn phù du giả hợp. Đức Phật dạy
sự tham luyến của chúng sanh đối
với năm uẩn như trẻ con vui
thích xây nhà bằng cát. Đồ chơi
tồn tại nhất thời mà sự vui chơi
cũng nhất thời. Vấn đề là khi
đang vui chơi thì trân quý như
tài sản giá trị lớn có khi đánh
nhau để dành giựt. Khao khát cái
phù ảo là nguyên nhân sanh khổ.
Ái tận là diệt khổ.
161. sāvatthinidānaṃ. ekamantaṃ nisinno kho
āyasmā rādho bhagavantaṃ
etadavoca — “‘satto, satto’ti,
bhante, vuccati. kittāvatā nu
kho, bhante, sattoti vuccatī”ti?
“rūpe kho, rādha, yo chando yo
rāgo yā nandī yā taṇhā, tatra
satto, tatra visatto, tasmā
sattoti vuccati. vedanāya...
saññāya... saṅkhāresu... viññāṇe
yo chando yo rāgo yā nandī yā
taṇhā, tatra satto, tatra
visatto, tasmā sattoti vuccati”.
“seyyathāpi, rādha, kumārakā vā kumārikāyo vā
paṃsvāgārakehi kīḷanti.
yāvakīvañca tesu paṃsvāgārakesu
avigatarāgā honti avigatacchandā
avigatapemā avigatapipāsā
avigatapariḷāhā avigatataṇhā,
tāva tāni paṃsvāgārakāni
allīyanti keḷāyanti dhanāyanti
mamāyanti. yato ca kho, rādha,
kumārakā vā kumārikāyo vā tesu
paṃsvāgārakesu vigatarāgā honti
vigatacchandā vigatapemā
vigatapipāsā vigatapariḷāhā
vigatataṇhā, atha kho tāni
paṃsvāgārakāni hatthehi ca
pādehi ca vikiranti vidhamanti
viddhaṃsenti vikīḷaniyaṃ
karonti. evameva kho, rādha,
tumhepi rūpaṃ vikiratha
vidhamatha viddhaṃsetha
vikīḷaniyaṃ karotha
taṇhākkhayāya paṭipajjatha.
vedanaṃ vikiratha vidhamatha
viddhaṃsetha vikīḷaniyaṃ karotha
taṇhākkhayāya paṭipajjatha.
saññaṃ... saṅkhāre vikiratha
vidhamatha viddhaṃsetha
vikīḷaniyaṃ karotha
taṇhākkhayāya paṭipajjatha.
viññāṇaṃ vikiratha vidhamatha
viddhaṃsetha vikīḷaniyaṃ karotha
taṇhākkhayāya paṭipajjatha.
taṇhākkhayo hi, rādha,
nibbānan”ti. dutiyaṃ.
Nhân duyên ở Sàvatthi.
Ngồi một bên, Tôn giả Rādha
thưa với Đức Thế Tôn: "Bạch
Đức Thế Tôn, người ta thường
nói ‘một hữu tình, một hữu
tình.’ Bạch Đức Thế Tôn, như
thế nào thì được gọi là một
hữu tình?"
"Này Rādha, một chúng sanh
bị vướng mắc, bị trói chặt
vào
ham, muốn, yêu thích, đam mê
và khao khát đối với
sắc; do vậy gọi là một hữu
tình. Một chúng sanh bị
vướng mắc, bị trói chặt vào
ham, muốn, yêu thích, đam mê
và khao khát đối với thọ ...
đối với tưởng ... đối với
hành ... đối với thức; do
vậy, người ấy được gọi là
một hữu tình.
Này Rādha, ví như có những
bé trai hoặc bé gái đang
chơi xây lâu đài bằng cát.
Chừng nào mà chúng còn chưa
dứt bỏ ham, muốn, yêu thích,
đam mê và khao khát đối với
những lâu đài cát đó thì
chúng còn thích thú chúng,
vui chơi với chúng, xem
trọng chúng, và coi chúng
như tài sản của mình. Nhưng
khi những bé trai hoặc bé
gái đó không còn ham, muốn,
yêu thích, đam mê và khao
khát đối với những lâu đài
cát đó, chúng sẽ dùng tay
chân phá bỏ những lâu đài
đó, đập tan chúng, phá vỡ
chúng, và không còn chơi với
chúng nữa.
Cũng như vậy, này Rādha,
hãy phá bỏ, đập vỡ, dẹp tan,
không ham vui với sắc nữa;
hãy
tu tập đoạn diệt ái chấp.
Phá tan .. thọ.
Phá tan …tưởng ...
Phá tan …hành ... Phá tan
…thức, hãy tu tập đoạn diệt
ái chấp.
Này Rādha, ái tận chính là
Niết Bàn."
Chú thích
Trên phương diện dịch thuật thì
những dịch giả từ xưa tới nay
dịch chữ “satta” mang tính cách
chơi chữ. Cách thứ nhất là dịch
theo giải thích tương đương giữa
Sankrit và Pāli. Theo cách nầy
thuật ngữ satta đồng nghĩa với
satva (tát đoả) dịch là chúng
sanh hay loài có thức tánh. Cách
thứ hai là giải thích theo văn
phạm. theo cách nầy thì satta là
quá khứ phân từ của sajjati
nghĩa là vướng mắc nên dịch là
loài hữu tình.
Bản dịch nầy chọn chữ “hữu tình”
y cứ theo lời Phật định nghĩa
trong bài kinh. (Bản Anh ngữ của
ngài Bodhi chọn chữ “being –
chúng sanh” thay vì “sentient
being - hữu tình” như một số học
giả khác)
Chúng sanh hay chúng hữu tình
đều là số nhiều nhưng thường
dùng trong tiếng Việt cả hai số
ít và số nhiều. (Cũng như trường
hợp chữ “chư thiên”)
Chữ dhanāyanti theo bản chú giải
là "dhanam viya maññanti" được
hiểu là "chúng nghĩ về nó như
tài sản của mình."
Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình
Dưới đây là chánh văn Pāli cùng với bản Việt dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
Chương 23: Tương Ưng Rādha. I: Phẩm Thứ Nhất
23.2. Chúng Sanh
Nhân duyên ở Sāvatthi …
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Rādha bạch Thế Tôn:
: “Chúng sanh, chúng sanh”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho
đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là chúng sanh?
—Này Rādha, dục nào (chanda), tham nào, hỷ nào, khát ái nào đối với
sắc, triền phược ở đấy, triền miên ở đấy, do vậy gọi là
chúng sanh (sattà).
… thọ … tưởng … các hành …
Dục nào, tham nào, hỷ nào, khát ái nào đối với thức, triền phược ở
đấy, triền miên ở đấy, do vậy gọi là chúng sanh.
Ví như, này Rādha, các đứa con trai hay các đứa con gái chơi với
cái nhà bằng đất. Cho đến khi đối với những nhà bằng đất
ấy, lòng tham chưa thoát ly, lòng dục chưa thoát ly,
lòng ái chưa thoát ly, lòng khát chưa thoát ly, lòng
nhiệt tình chưa thoát ly, lòng khát ái chưa thoát ly,
thời chúng còn tham dính vào, thích chơi, chất chứa, và
đắm trước những nhà bằng đất ấy.
Nhưng khi nào các đứa con trai hay các đứa con gái ấy đối với những
nhà bằng đất kia, lòng tham đã thoát ly, lòng dục đã
thoát ly, lòng ái đã thoát ly, lòng khát đã thoát ly,
lòng nhiệt tình đã thoát ly, lòng khát ái đã thoát ly,
thời với tay và với chân, chúng phá tan, phá vỡ, phá
sập, không chơi với những căn nhà bằng đất ấy.
Cũng vậy, này Rādha, Ông hãy phá tan, phá vỡ, phá sập, không chơi
với sắc, chú tâm hướng đến đoạn diệt khát ái đối với
sắc.
… thọ … tưởng … các hành …
… Ông hãy phá tan, phá vỡ, phá sập và không chơi với thức, chú tâm
hướng đến đoạn diệt khát ái đối với thức.
Ðoạn diệt khát ái, này Rādha, là Niết-bàn.
161-169. dutiye satto sattoti laggapucchā. tatra satto tatra
visattoti tatra laggo tatra vilaggo. paṃsvāgārakehīti
paṃsugharakehi. keḷāyantīti kīḷanti. dhanāyantīti dhanaṃ
viya maññanti. mamāyantīti “mama idaṃ, mama idan”ti mamattaṃ
karonti, aññassa phusitumpi na denti. vikīḷaniyaṃ karontīti
“niṭṭhitā kīḷā”ti te bhindamānā kīḷāvigamaṃ karonti. tatiye
bhavanettīti bhavarajju. catutthaṃ uttānameva. pañcamādīsu
catūsu cattāri saccāni kathitāni, dvīsu kilesappahānanti.
dutiyādīni.
161-169. Trong bài kinh thứ hai, câu hỏi "satto sattoti" có
nghĩa là sự dính mắc. Ở đây, "satto" nghĩa là sự dính mắc,
và "visatto" nghĩa là sự thoát ly khỏi sự dính mắc.
"Paṃsvāgārakehi" nghĩa là những lâu đài cát. "Keḷāyantī" có
nghĩa là đang chơi đùa. "Dhanāyantī" có nghĩa là chúng tưởng
rằng đó là tài sản của mình. "Mamāyantī" nghĩa là "Đây là
của ta, đây là của ta," tức là chúng tạo ra ý niệm sở hữu và
không cho người khác chạm vào. "Vikīḷaniyaṃ karontī" nghĩa
là chúng phá bỏ những lâu đài cát, kết thúc trò chơi với ý
niệm "Trò chơi đã hoàn thành." Trong bài kinh thứ ba, "bhavanettī" nghĩa là sợi dây trói buộc
vào sự hiện hữu (bhava). Bài kinh thứ tư được giải thích rõ
ràng. Trong các bài kinh thứ năm và các bài tiếp theo, bốn
chân lý (Tứ Diệu Đế) được thuyết giảng, và trong hai bài
kinh cuối cùng, đoạn trừ các phiền não được đề cập. "Dutiyādīni" chỉ các bài kinh tiếp theo
từ bài thứ hai trở đi. |