|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 09 tháng 10, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 386. CỘI NGUỒN SANH TỬ- Kinh Lực Dẫn Sanh Hữu (bhavanettisuttaṃ). ******
Theo Phật Pháp, ái chấp là cội
nguồn của sanh tử. Ái chấp y cứ
trên sự chấp thủ đối với năm uẩn
vốn bất toàn, bất toại nên tạo
ra nỗi đau khổ trầm thống của
cuộc trầm luân. Năm uẩn là thực
tại; sự chấp thủ năm uẩn là ảo
giác; sản sinh ra kiếp tử sinh
vốn mang đặc tính của vô thường,
khổ não vô ngã. Đó là vòng luân
chuyển bất tận của phiền não,
nghiệp, quả. Tuệ giác nhận rõ
thực tướng vô thường của năm uẩn
giúp xoá tan ảo giác của khát
ái. Bờ mê và bến giác cách nhau
trong đường tơ kẽ tóc.
162. sāvatthinidānaṃ. ekamantaṃ nisinno kho
āyasmā rādho bhagavantaṃ
etadavoca — “‘bhavanettinirodho
, bhavanettinirodho’ti , bhante,
vuccati. katamā nu kho, bhante,
bhavanetti, katamo
bhavanettinirodho”ti? “rūpe kho,
rādha, yo chando yo rāgo yā
nandī yā taṇhā ye upayupādānā
cetaso adhiṭṭhānābhinivesānusayā
— ayaṃ vuccati bhavanetti. tesaṃ
nirodho bhavanettinirodho.
vedanāya... saññāya...
saṅkhāresu ... viññāṇe yo chando
... pe ...
adhiṭṭhānābhinivesānusayā — ayaṃ
vuccati bhavanetti. tesaṃ
nirodho bhavanettinirodho”ti.
tatiyaṃ.
Nhân duyên ở Sàvatthi.
Khi ngồi sang một bên, Tôn giả Rādha thưa với Đức
Thế Tôn: "Bạch Đức Thế Tôn,
người ta thường nói ‘lực
dẫn tới sanh hữu, lực dẫn
tới sanh hữu’ Bạch Đức Thế Tôn,
thế nào là
lực dẫn
tới sanh hữu, và thế nào là
sự chấm dứt của lực dẫn tới sanh
hữu ?"
"Này Rādha,sự ước muốn,
dục vọng, vui sướng, khát ái,
chấp thủ, kiến chấp, và khuynh
hướng tiềm miên đối với sắc được
gọi là lực dẫn tới sanh hữu. Sự
chấm dứt của chúng là sự chấm
dứt của lực dẫn tới sanh hữu.
Sự ước muốn,
dục vọng, vui sướng, khát ái,
chấp thủ, kiến chấp, và khuynh
hướng tiềm miên đối với thọ …
tưởng … hành … thức được gọi là
lực dẫn tới sanh hữu. Sự chấm
dứt của chúng là sự chấm dứt của
lực dẫn tới sanh hữu.
Chú thích
Từ kép "bhavanetti" có nghĩa là
“cái dẫn đến sự hiện hữu” chỉ
cho căn nguyên sanh tử. Bản Sớ
Giải chú thích từ nầy đồng nghĩa
với "bhavataṇhā - hữu ái" nghĩa
là "khao khát cho sự tồn tại”
thường xuất hiện trong các bài
kệ.
Bài kinh này nhấn mạnh khái niệm
bhavanetti, được hiểu là "sợi
dây dẫn đến sự tồn tại," tức là
những ham muốn, bám víu, và khát
ái khiến chúng sinh tiếp tục
luân hồi trong vòng sinh tử. Các
uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành,
thức) là những đối tượng chúng
sanh dính mắc và bám víu vào,
tạo ra sợi dây ràng buộc vào sự
tồn tại trong ba cõi tử sinh.
Đức Phật dạy rằng sự diệt tận
của bhavanetti
(bhavanettinirodho) chính là sự
chấm dứt hoàn toàn những ham
muốn, tham dục, và bám víu này.
Điều này ám chỉ đến sự giải
thoát khỏi luân hồi (samsāra),
tức là chứng đắc Niết Bàn
(Nibbāna).
Đức Phật nhấn mạnh rằng sự diệt
tận của bhavanetti không chỉ xảy
ra đối với một uẩn duy nhất, mà
là đối với tất cả năm uẩn (sắc,
thọ, tưởng, hành, thức). Bằng
cách phá vỡ sự dính mắc vào các
uẩn này, một người có thể đạt
đến sự giải thoát hoàn toàn.
Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình
Dưới đây là chánh văn Pāli cùng với bản Việt dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
Chương 23: Tương Ưng Rādha. I: Phẩm Thứ Nhất
23.3. Sợi Dây Tái Sanh
Nhân duyên ở Sāvatthi …
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Rādha bạch Thế Tôn:
: “Ðoạn diệt sợi dây tái sanh. Ðoạn diệt sợi dây tái sanh”, bạch
Thế Tôn, được nói đến như vậy. Thế nào là sợi dây tái
sanh, bạch Thế Tôn? Thế nào là sự đoạn diệt sợi dây tái
sanh?
—Này Rādha, phàm dục gì, tham gì, hỷ gì, khát ái gì, phàm những
chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú, thiên chấp tùy miên
gì đối với sắc, như vậy gọi là sợi dây tái sanh. Sự đoạn
diệt chúng là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh.
… đối với thọ … với tưởng … với các hành …
Phàm dục gì, tham gì, hỷ gì, khát ái gì, phàm những chấp thủ phương
tiện, tâm kiên trú, thiên chấp tùy miên gì đối với thức,
đó gọi là sợi dây tái sanh. Sự đoạn diệt chúng là sự
đoạn diệt sợi dây tái sanh.
161-169. dutiye satto sattoti laggapucchā. tatra satto tatra
visattoti tatra laggo tatra vilaggo. paṃsvāgārakehīti
paṃsugharakehi. keḷāyantīti kīḷanti. dhanāyantīti dhanaṃ
viya maññanti. mamāyantīti “mama idaṃ, mama idan”ti mamattaṃ
karonti, aññassa phusitumpi na denti. vikīḷaniyaṃ karontīti
“niṭṭhitā kīḷā”ti te bhindamānā kīḷāvigamaṃ karonti. tatiye
bhavanettīti bhavarajju. catutthaṃ uttānameva. pañcamādīsu
catūsu cattāri saccāni kathitāni, dvīsu kilesappahānanti.
dutiyādīni.
161-169. Trong bài kinh thứ hai, câu hỏi "satto sattoti" có
nghĩa là sự dính mắc. Ở đây, "satto" nghĩa là sự dính mắc,
và "visatto" nghĩa là sự thoát ly khỏi sự dính mắc.
"Paṃsvāgārakehi" nghĩa là những lâu đài cát. "Keḷāyantī" có
nghĩa là đang chơi đùa. "Dhanāyantī" có nghĩa là chúng tưởng
rằng đó là tài sản của mình. "Mamāyantī" nghĩa là "Đây là
của ta, đây là của ta," tức là chúng tạo ra ý niệm sở hữu và
không cho người khác chạm vào. "Vikīḷaniyaṃ karontī" nghĩa
là chúng phá bỏ những lâu đài cát, kết thúc trò chơi với ý
niệm "Trò chơi đã hoàn thành." Trong bài kinh thứ ba, "bhavanettī" nghĩa là sợi dây trói buộc
vào sự hiện hữu (bhava). Bài kinh thứ tư được giải thích rõ
ràng. Trong các bài kinh thứ năm và các bài tiếp theo, bốn
chân lý (Tứ Diệu Đế) được thuyết giảng, và trong hai bài
kinh cuối cùng, đoạn trừ các phiền não được đề cập. "Dutiyādīni" chỉ các bài kinh tiếp theo
từ bài thứ hai trở đi. |