|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 12 tháng 10, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 387. BẤT CHẤP HƯ THỰC- Kinh Gió (vātasuttaṃ). Những bài kinh từ S.23.3 tới S.23.46 có nội dung trùng lập với hai chương trước chỉ khác là thay vì Đức Phật giảng cho chư tỳ khưu thì đổi là giảng cho Rādha. ******
Một đặc điểm của tà kiến là sự
cố chấp. Một khi đã cố chấp thì
bất kể đúng sai, phải quấy cho
dù đi ngược lại với sự thật hiển
nhiên. Với hành giả tu tập thì
những nhận thức về vô thường,
khổ não, vô ngã y cứ hoàn toàn
trên thực tại sắc, thọ, tưởng,
hành, thức. Sự nhật thức hoàn
toàn dựa trên thấy, biết đối với
thực tại không phải do lập
thuyết. Biết nhìn vào sự thật để
chấp nhận sự thật là cánh cổng
bước vào cảnh giới bất tử.
206. ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati
jetavane. bhagavā etadavoca —
“kismiṃ nu kho, bhikkhave, sati,
kiṃ upādāya, kiṃ abhinivissa
evaṃ diṭṭhi uppajjati — ‘na vātā
vāyanti, na najjo sandanti, na
gabbhiniyo vijāyanti, na
candimasūriyā udenti vā apenti
vā esikaṭṭhāyiṭṭhitā’”ti?
“bhagavaṃmūlakā no, bhante, dhammā
bhagavaṃnettikā
bhagavaṃpaṭisaraṇā. sādhu vata,
bhante, bhagavantaññeva
paṭibhātu etassa bhāsitassa
attho. bhagavato sutvā bhikkhū
dhāressantī”ti. “tena hi,
bhikkhave, suṇātha, sādhukaṃ
manasi karotha; bhāsissāmī”ti.
“evaṃ, bhante”ti kho te bhikkhū
bhagavato paccassosuṃ. bhagavā
etadavoca —
“rūpe kho, bhikkhave, sati, rūpaṃ upādāya, rūpaṃ
abhinivissa evaṃ diṭṭhi
uppajjati — ‘na vātā vāyanti, na
najjo sandanti, na gabbhiniyo
vijāyanti, na candimasūriyā
udenti vā apenti vā
esikaṭṭhāyiṭṭhitā’ti. vedanāya
sati ... pe ... saññāya sati...
saṅkhāresu sati... viññāṇe sati,
viññāṇaṃ upādāya, viññāṇaṃ
abhinivissa evaṃ diṭṭhi
uppajjati — ‘na vātā vāyanti, na
najjo sandanti, na gabbhiniyo
vijāyanti, na candimasūriyā
udenti vā apenti vā
esikaṭṭhāyiṭṭhitā’ti. taṃ kiṃ
maññatha, bhikkhave, rūpaṃ
niccaṃ vā aniccaṃ vā”ti?
“aniccaṃ, bhante”. “yaṃ
panāniccaṃ, dukkhaṃ vā taṃ
sukhaṃ vā”ti? “dukkhaṃ, bhante”.
“yaṃ panāniccaṃ, dukkhaṃ
vipariṇāmadhammaṃ, api nu taṃ
anupādāya evaṃ diṭṭhi uppajjeyya
— ‘na vātā vāyanti, na najjo
sandanti, na gabbhiniyo
vijāyanti, na candimasūriyā
udenti vā apenti vā
esikaṭṭhāyiṭṭhitā’”ti? “no
hetaṃ, bhante”.
“vedanā
niccā vā aniccā vā”ti...
“saññā... saṅkhārā... viññāṇaṃ
niccaṃ vā aniccaṃ vā”ti?
“aniccaṃ, bhante”. “yaṃ
panāniccaṃ dukkhaṃ vā taṃ sukhaṃ
vā”ti? “dukkhaṃ, bhante”. “yaṃ
panāniccaṃ dukkhaṃ
vipariṇāmadhammaṃ, api nu taṃ
anupādāya evaṃ diṭṭhi uppajjeyya
— ‘na vātā vāyanti, na najjo
sandanti, na gabbhiniyo
vijāyanti, na candimasūriyā
udenti vā apenti vā
esikaṭṭhāyiṭṭhitā’”ti? “no
hetaṃ, bhante”. “yampidaṃ
{yamidaṃ (aññattha)} diṭṭhaṃ
sutaṃ mutaṃ viññātaṃ pattaṃ
pariyesitaṃ anuvicaritaṃ manasā
tampi niccaṃ vā aniccaṃ vā”ti?
“aniccaṃ, bhante”. “yaṃ
panāniccaṃ dukkhaṃ vā taṃ sukhaṃ
vā”ti? “dukkhaṃ, bhante”. “yaṃ
panāniccaṃ dukkhaṃ
vipariṇāmadhammaṃ, api nu taṃ
anupādāya evaṃ diṭṭhi uppajjeyya
— ‘na vātā vāyanti, na najjo
sandanti, na gabbhiniyo
vijāyanti, na candimasūriyā
udenti vā apenti vā
esikaṭṭhāyiṭṭhitā’”ti? “no
hetaṃ, bhante”.
“yato
kho, bhikkhave, ariyasāvakassa
imesu ca {imesu chasu (sī. syā.
kaṃ. pī.) evamuparipi} ṭhānesu
kaṅkhā pahīnā hoti, dukkhepissa
kaṅkhā pahīnā hoti,
dukkhasamudayepissa kaṅkhā
pahīnā hoti, dukkhanirodhepissa
kaṅkhā pahīnā hoti,
dukkhanirodhagāminiyā
paṭipadāyapissa kaṅkhā pahīnā
hoti — ayaṃ vuccati, bhikkhave,
ariyasāvako sotāpanno
avinipātadhammo niyato
sambodhiparāyano”ti. paṭhamaṃ.
Nhân duyên ở Sàvatthi.
Tại Sāvatthī.
"Này chư Tỳ khưu, khi có điều gì, chấp thủ điều gì
vào điều gì, tin tưởng tín lý gì
mà người ta khởi lên chấp kiến
"Gió
không thổi;
giòng sông không chảy;
phụ nữ không sanh con;
mặt trời, mặt trăng không mọc và
không lặn. Tất cả đều đứng yên
như trụ đá?”
"Bạch Đức Thế Tôn, các giáo nghĩa đều y chỉ ở
Thế Tôn
“Này chư Tỳ khưu, khi có
sắc, chấp thủ vào sắc, thiên
chấp vào sắc nên chấp kiến nầy
khởi lên: "Gió không thổi; những
giòng sông không chảy; những phụ
nữ không sanh con; mặt trời, mặt
trăng không mọc và không lặn.
Tất cả đều đứng yên như trụ đá”
Khi có thọ …
Khi có tưởng …
Khi có hành …
Khi có thức, chấp thủ vào
thức, thiên chấp vào thức nên
chấp kiến nầy khởi lên: "Gió
không thổi; những giòng sông
không chảy; những phụ nữ không
sanh con; mặt trời, mặt trăng
không mọc và không lặn. Tất cả
đều đứng yên như trụ đá”
Này chư Tỳ khưu, các thầy
nghĩ thế nào, sắc là thường hay
vô thường?"
"Là vô thường, bạch Thế
Tôn."
"Cái gì vô thường, thì là
khổ hay lạc?"
"Là khổ, bạch Thế Tôn."
"Đối với cái gì vô thường,
khổ, chịu sự biến đổi, liệu
nếu không chấp thủ thì có
quan niệm
"Gió không thổi; những
giòng sông không chảy; những phụ
nữ không sanh con; mặt trời, mặt
trăng không mọc và không lặn.
Tất cả đều đứng yên như trụ
đá”?.
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
"Tưởng ... hành... thức là
thường hay vô thường?"
"Là vô thường, bạch Thế
Tôn."
"Cái gì vô thường, thì là
khổ hay lạc?"
"Là khổ, bạch Thế Tôn."
"Đối với cái gì vô thường,
khổ, chịu sự biến đổi, liệu
nếu không chấp thủ thì có
quan niệm
"Gió không thổi; sông
không chảy; phụ nữ không sanh
con; mặt trời, mặt trăng không
mọc và không lặn. Tất cả đều
đứng yên như trụ đá”?.
"Thưa không, bạch Thế Tôn."
“Những gì được thấy, nghe,
cảm nhận, nhận thức, đạt được,
tìm kiếm và trải nghiệm bởi tâm
thì những thứ đó là thường hay
vô thường?”
“Bạch Thế Tôn, điều đó là
vô thường.”
“Cái gì là vô thường thì đó
là khổ hay lạc?”
“Bạch Thế Tôn, đó là khổ.”
“Nhưng nếu không có bám
chấp vào những gì vô thường, khổ
đau, và chịu sự biến đổi, liệu
có thể khởi lên quan kiến như
vậy không?”
“Bạch Thế Tôn, không thể.”
“Khi một vị Thánh đệ tử đã
từ bỏ mọi nghi hoặc về sáu
trường hợp này và từ bỏ nghi
hoặc về khổ, nguyên nhân của
khổ, sự chấm dứt khổ, và con
đường dẫn đến sự chấm dứt khổ,
vị ấy được gọi là một bậc nhập
lưu, không còn rơi vào cảnh khổ,
an định trong vận mệnh và giác
ngộ là đích điểm.”
Chú thích
Tên kinh – Kinh Gió - lấy từ
phần đầu của cố chấp đi ngược
lại sự thật hiển nhiên là “gió
không thổi ..”
Quan điểm "Gió không thổi; sông
không chảy; phụ nữ không sanh
con; mặt trời, mặt trăng không
mọc và không lặn. Tất cả đều
đứng yên như trụ đá” có hai cách
giải thích.
Thứ nhất, quan điểm kỳ lạ này là
một cách diễn đạt mang tính thi
vị về ảo tưởng đối với bản chất
vô thường. Người đã cố chấp tà
kiến thì dù thế nào cũng khư khư
quan điểm dù rõ ràng trái ngược
với sự thật hiển nhiên.
Thứ hai, đây là lập thuyết của
một ngoại giáo có tên Pakudha
Kaccāyana, người khởi xướng "học
thuyết về bảy thân." Xem Basham,
History and Doctrines of the
Ājīvikas, trang 236. Tại Mvu I
317, một quan điểm tương tự,
được phát biểu gần như giống
hệt, được trích dẫn như một ví
dụ về "những niềm tin xấu xa và
sai lầm" đã lưu hành tại Magadha
trước khi Đức Phật xuất hiện;
xem Jones 3:306. Lập thuyết nầy
cho rằng thời gian và sự thay
đổi là ảo tưởng
(avicalita-nityatva)
Bản Sớ Giải chú thích: Quan điểm
này được cho là như sau: "Mặc dù
gió thổi làm gãy cành cây, v.v.,
đó không thực sự là gió; chúng
chỉ là bản sao của gió
(vātalesā; Spk-pt: vātalesā có
nghĩa là gió giống như). Gió
đứng yên như một cột trụ và đỉnh
núi. [Spk-pt: Cụm từ 'như một
cột trụ' thể hiện sự bất động
(niccalabhāva); 'đỉnh núi,' sự
vĩnh cửu của nó (sassatisama)].
Tương tự với nước. Mặc dù người
ta nói rằng phụ nữ mang thai
sinh con, thai nhi không thực sự
ra đời; đó chỉ là bản sao của
thai nhi. Mặc dù mặt trời và mặt
trăng mọc và lặn, chúng không
thực sự làm vậy; đó chỉ là bản
sao của mặt trời và mặt trăng,
chúng đứng yên như một cột trụ
và đỉnh núi."
Sáu trường hợp trong đoạn kết
luận chỉ cho cái nhìn đối với
sắc, thọ, tưởng, hành, thức, và
toàn bộ cảnh giới nhận thức của
tâm.
Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình
Dưới đây là chánh văn Pāli cùng với bản Việt dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
Chương 23: Tương Ưng Kiến. I: Phẩm Dự Lưu
I. Gió (Tạp
7, Ðại 2,45a) (S.iii,202)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:
-- Do có cái gì, này các Tỷ-kheo, do chấp thủ cái gì, do
thiên chấp cái gì, (tà) kiến này khởi lên: "Gió không
thổi, sông không chảy, đàn bà mang thai không sanh, mặt
trăng, mặt trời không mọc hay không lặn. Tất cả đều đứng
vững như cột trụ"?
3) -- Ðối với chúng con, bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế
Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn
làm chỗ nương tựa. Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy
nói cho chúng con ý nghĩa của lời dạy ấy. Sau khi nghe
lời dạy của Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
-- Vậy này các Tỷ-kheo, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ
giảng.
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
4) -- Do có sắc, này các Tỷ-kheo, do chấp thủ sắc, do
thiên chấp sắc, (tà) kiến này khởi lên: "Gió không thổi,
sông không chảy, đàn bà có thai không sanh, mặt trăng,
mặt trời không mọc hay không lặn. Tất cả đều đứng vững
như cột trụ".
5-7) Do có thọ... có tưởng... có các hành...
8) Do có thức, này các Tỷ-kheo, do chấp thủ thức, do
thiên chấp thức, (tà) kiến này khởi lên: "Gió không
thổi... Tất cả đều đứng vững như cột trụ".
9) Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc là thường
hay vô thường?
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không
chấp thủ cái ấy, thời có thể khởi lên (tà) kiến: "Gió
không thổi... Tất cả đều đứng vững như cột trụ"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
10-12) -- Thọ... Tưởng... Các hành...
13) ... Thức là thường hay vô thường?
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không
chấp thủ cái ấy, thời có thể khởi lên (tà) kiến: "Gió
không thổi... Tất cả đều đứng vững như cột trụ"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
14) -- Cái gì được thấy, được nghe, được nghĩ đến, được
biết, được đạt đến, được tìm cầu, được ý tư duy; cái ấy
là thường hay vô thường?
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn?
-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không
chấp thủ cái ấy, thời có thể khởi lên (tà) kiến: "Gió
không thổi... Tất cả đều đứng vững như cột trụ"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
15) -- Khi nào vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, đối với
sáu xứ này, nghi hoặc được đoạn trừ; đối với khổ, nghi
hoặc được đoạn trừ; đối với khổ tập khởi, nghi hoặc được
đoạn trừ; đối với khổ đoạn diệt, nghi hoặc được đoạn
trừ; đối với con đường đưa đến khổ đoạn diệt, nghi hoặc
được đoạn trừ; như vậy, này các Tỷ-kheo gọi là bậc Thánh
đệ tử đã chứng được Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết
chắc hướng đến giác ngộ.
206. diṭṭhisaṃyutte na vātā vāyantītiādīsu evaṃ kira
tesaṃ diṭṭhi — “yepi ete rukkhasākhādīni bhañjantā vātā
vāyanti, na ete vātā, vātaleso nāmeso, vāto pana
esikatthambho viya pabbatakūṭaṃ viya ca ṭhito. tathā
yāpi etā tiṇakaṭṭhādīni vahantiyo nadiyo sandanti, na
ettha udakaṃ sandaki, udakaleso nāmesa, udakaṃ pana
esikatthambho viya pabbatakūṭaṃ viya ca ṭhitaṃ. yāpimā
gabbhiniyo vijāyantīti ca vuccanti, kiñcāpi tā
milātudarā honti, gabbho pana na nikkhamati, gabbhaleso
nāmeso, gabbho pana esikatthambho viya pabbatakūṭaṃ viya
ca ṭhito. yepi ete candimasūriyā udenti vā apenti vā,
neva te udenti na apenti, candimasūriyaleso nāmesa,
candimasūriyā pana esikatthambho viya pabbatakūṭaṃ viya
ca ṭhitā”ti. Tương ưng với kiến (diṭṭhisaṃyutta) Quan điểm của những người này được cho là như sau: "Mặc dù gió
thổi và làm gãy các cành cây, nhưng đó không phải là gió
thật, mà chỉ là bản sao của gió (vātaleso).
Thực tế, gió đứng yên như một cột trụ hoặc như đỉnh núi.
Tương tự, khi nước chảy mang theo các cành cây và rác
rưởi, thực tế không phải nước chảy, mà chỉ là bản sao
của nước (udakaleso). Nước thực sự đứng
yên như một cột trụ hoặc như đỉnh núi. Cũng vậy, khi người ta nói phụ nữ mang thai sinh con, mặc dù
bụng của họ phồng lên, nhưng thai nhi không thực sự ra
ngoài; đó chỉ là bản sao của thai nhi (gabbhaleso).
Thai nhi thực sự đứng yên như một cột trụ hoặc như đỉnh
núi. Cuối cùng, mặt trời và mặt trăng, dù có mọc lên hay
lặn xuống, nhưng thực tế chúng không di chuyển, chỉ là
bản sao của mặt trời và mặt trăng (candimasūriyaleso).
Cả hai thực sự đứng yên như một cột trụ hoặc như đỉnh
núi." |