|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 15 tháng 10, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 388. BẢN NĂNG CHẤP NGÃ- Kinh Cái Nầy Là Của Tôi ( etaṃmamasuttaṃ). ******
Ba chấp thủ “chiếm hữu, tự nhận,
và cái ta hằng hữu” là những gì
ăn sâu trong tâm khảm của chúng
sanh. Cảnh giới vô cùng của tâm
và cảnh vốn luôn vô thường biến
đối. Chấp vào cái vô thường để
bảo là hằng hữu thì tự chuốc
khổ. Quán sát thực tại sanh diệt
đối với năm uẩn và tất cả giác
quan sẽ thấy được chẳng có gì để
chiếm hữu, để tự nhận, để tin là
có một cái ta bất biến. Tỏ ngộ
như vậy giúp hành giả đạt đến
trạng thái “ưng vô sở trụ nhi
sanh kỳ tâm”
207. sāvatthinidānaṃ. “kismiṃ nu kho, bhikkhave,
sati, kiṃ upādāya, kiṃ
abhinivissa evaṃ diṭṭhi
uppajjati — ‘etaṃ mama,
esohamasmi, eso me attā’”ti?
bhagavaṃmūlakā no, bhante,
dhammā ... pe ... “rūpe kho,
bhikkhave, sati, rūpaṃ upādāya,
rūpaṃ abhinivissa evaṃ diṭṭhi
uppajjati — ‘etaṃ mama,
esohamasmi, eso me attā’ti.
vedanāya sati ... pe ... saññāya
sati ... saṅkhāresu sati...
viññāṇe sati, viññāṇaṃ upādāya,
viññāṇaṃ abhinivissa evaṃ diṭṭhi
uppajjati — ‘etaṃ mama,
esohamasmi, eso me attā’”ti.
“taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, rūpaṃ niccaṃ vā
aniccaṃ vā”ti? “aniccaṃ, bhante”
... pe ... “vedanā... saññā...
saṅkhārā... viññāṇaṃ niccaṃ vā
aniccaṃ vā”ti? “aniccaṃ, bhante”
... pe ... api nu taṃ anupādāya
evaṃ diṭṭhi uppajjeyya — ‘etaṃ
mama, esohamasmi, eso me
attā’”ti? “no hetaṃ, bhante”.
“yampidaṃ diṭṭhaṃ sutaṃ mutaṃ
viññātaṃ pattaṃ pariyesitaṃ
anuvicaritaṃ manasā tampi niccaṃ
vā aniccaṃ vā”ti? “aniccaṃ,
bhante”. “yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ
vā taṃ sukhaṃ vā”ti? “dukkhaṃ,
bhante”. “yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ
vipariṇāmadhammaṃ, api nu taṃ
anupādāya evaṃ diṭṭhi uppajjeyya
— ‘etaṃ mama, esohamasmi, eso me
attā’”ti? “no hetaṃ, bhante”.
“yato kho, bhikkhave, ariyasāvakassa imesu ca
ṭhānesu kaṅkhā pahīnā hoti,
dukkhepissa kaṅkhā pahīnā hoti
... pe ... dukkhanirodhagāminiyā
paṭipadāyapissa kaṅkhā pahīnā
hoti — ayaṃ vuccati, bhikkhave,
ariyasāvako sotāpanno
avinipātadhammo niyato
sambodhiparāyano”ti. dutiyaṃ.
Nhân duyên ở Sàvatthi.
"Này chư Tỳ khưu, khi có điều gì, chấp thủ điều gì
vào điều gì, tin tưởng tín lý gì
mà người ta khởi lên chấp kiến
"Cái nầy là của ta, cái nầy là ta, cái nầy là tự ngã của ta?”
"Bạch Đức Thế Tôn, các giáo nghĩa đều y chỉ ở
Thế Tôn…..”
“Này chư Tỳ khưu, khi có sắc, chấp thủ vào sắc,
thiên chấp vào sắc nên chấp kiến
nầy khởi lên: "Cái nầy là của
ta, cái nầy là ta, cái nầy là tự
ngã của ta?”
Khi có thọ …
Khi có thức, chấp thủ vào thức, thiên chấp vào thức
nên chấp kiến nầy khởi lên: "Cái
nầy là của ta, cái nầy là ta,
cái nầy là tự ngã của ta?”
Này chư Tỳ khưu, các thầy
nghĩ thế nào, sắc là thường hay
vô thường?"
"Đối với cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến đổi,
liệu
nếu không chấp thủ thì có
quan niệm
"Cái nầy là của ta, cái
nầy là ta, cái nầy là tự ngã của
ta?”
"Đối với cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến đổi,
liệu
nếu không chấp thủ thì có
quan niệm
"Cái nầy là của ta, cái
nầy là ta, cái nầy là tự ngã của
ta?”
Chú thích
Tên kinh – Kinh Chẳng Phải Của
Ta - lấy từ phần đầu liên quan
tới ba kiến chấp "Cái nầy là của
ta, cái nầy là ta, cái nầy là tự
ngã của ta?”. Ba kiến chấp nầy
được chú thích trong nhiều bài
kinh với tên gọi khác là ái
chấp, mạn chấp, và kiến chấp.
Trong văn phong tiếng Việt chữ
“tôi” và “ta” đôi khi có sự khác
biệt trong đối thoại hoặc tự nói
với chính mình. Bản dịch chọn
chữ “ta” để chỉ chung cho tất cả
trường hợp. Nên hiểu đây là ngã
chấp, một thứ ảo tưởng ăn sâu
trong tâm khảm của chúng sanh từ
những biểu lộ rõ nhất qua ngôn
ngữ cho đến phản ứng rất tế nhị
trong tâm.
Trường hợp thứ sáu với câu
“thấy, nghe, cảm nhận, nhận
thức, đạt được, tìm kiếm và trải
nghiệm bởi tâm” được Sớ Giải chú
thích: thấy – diṭṭhi - thuộc thị
giác; nghe – suta -
thuộc thính giác; cảm
nhận – muta -
bao gồm khứu giác, vị
giác, xúc giác; nhận thức -
viññāta - thuộc ý thức
ngoài ngũ quan; đạt được -patta
-
là những gì đã trãi
nghiệm; “tìm kiếm - pariyesita ”
chỉ cho những gì chưa hoặc sắp
xẩy ra; “trãi nghiệm bởi tâm –
manasānuvicarita” chỉ chung cho
cảnh giới vô cùng của tâm ý.
Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình
Dưới đây là chánh văn Pāli cùng với bản Việt dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
Chương 23: Tương Ưng Kiến. I: Phẩm Dự Lưu
II. Cái Này Là Của Tôi.
(S.iii,203)
207-209. diṭṭhantiādīsu diṭṭhaṃ rūpāyatanaṃ. sutaṃ
saddāyatanaṃ. mutaṃ gandhāyatanaṃ rasāyatanaṃ
phoṭṭhabbāyatanaṃ. tañhi patvā gahetabbato mutanti
ca vuttaṃ. avasesāni sattāyatanāni viññātaṃ nāma.
pattanti pariyesitvā vā apariyesitvā vā pattaṃ.
pariyesitanti pattaṃ vā apattaṃ vā pariyesitaṃ.
anuvicaritaṃ manasāti cittena anusañcaritaṃ.
lokasmiñhi pariyesitvā pattampi atthi, pariyesitvā
nopattampi, apariyesitvā pattampi, apariyesitvā
nopattampi. tattha pariyesitvā pattaṃ pattaṃ nāma,
pariyesitvā nopattaṃ pariyesitaṃ nāma. apariyesitvā
pattañca apariyesitvā nopattañca manasānuvicaritaṃ
nāma. atha vā pariyesitvā pattampi apariyesitvā
pattampi pattaṭṭhena pattaṃ nāma, pariyesitvā
nopattameva pariyesitaṃ nāma, apariyesitvā nopattaṃ
manasānuvicaritaṃ nāma. sabbaṃ vā etaṃ manasā
anuvicaritameva.
207-209. Trong phẩm “Kiến - diṭṭha" với các từ
tương tự, các thuật ngữ được giải thích như sau:
Tất cả các đối tượng này đều có thể được suy ngẫm và cân nhắc bởi tâm trí, và chúng có thể được gọi là "manasānuvicarita." -ooOoo- |