|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 16 tháng 10, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 389. DUY VẬT- Kinh Chẳng Có (natthidinnasuttaṃ). ******
Hai bài
Kinh Tự
Ngã (soattāsuttaṃ), S.24.3.
và Kinh
Có Thể Chẳng Phải Cho Tôi
(Nocamesiyāsuttaṃ) S.24.4 có
dàn bài tương tự kinh số S.24.2
chỉ khác ở quan niệm.
Kinh Tự Ngã
(soattāsuttaṃ), S.24.3.
đề cập
chấp kiến: "Cái ấy là tự
ngã, cái ấy là thế giới. Sau khi
chết, cái ấy sẽ thường còn,
thường hằng, thường trú, không
chịu sự biến hoại"
Kinh Có Thể Chẳng Phải Cho
Tôi Nocamesiyāsuttaṃ S.24.4 đề
cập chấp kiến: "Nếu
không là ta, thời không
thuộc của ta. Nếu sẽ không là
ta, thời sẽ không thuộc của ta"
Cả hai đều thuộc tà kiến
đã đề cập trong những bài kinh
trước nên thông qua.
Bài kinh hôm nay vẫn với
dàn bài tương tự nhưng kiến chấp
thuộc đoạn kiến.
Thực tại không phải chỉ có những
gì hiển hiện để mắt thấy, tai
nghe mà còn có những ảnh hưởng
lâu dài mà thường khi ngũ quan
không có khả năng kết nối. Đây
là lý do tại sao có sự nghi hoặc
về nghiệp báo. Không tin nghiệp
báo thì không tin vào có đời
trước, đời sau. Không tin ở luân
hồi sanh tử thì khó tin vào thế
giới có những chúng sanh vô hình
trong con mắt thịt của loài
người. Cả quyết là chỉ có những
gì được mắt thấy, tai nghe mới
có thật thì là một cực đoan nguy
hiểm.
207. sāvatthinidānaṃ. “kismiṃ nu kho, bhikkhave,
sati, kiṃ upādāya, kiṃ
abhinivissa evaṃ diṭṭhi
uppajjati — ‘etaṃ mama,
esohamasmi, eso me attā’”ti?
bhagavaṃmūlakā no, bhante,
dhammā ... pe ... “rūpe kho,
bhikkhave, sati, rūpaṃ upādāya,
rūpaṃ abhinivissa evaṃ diṭṭhi
uppajjati — ‘etaṃ mama,
esohamasmi, eso me attā’ti.
vedanāya sati ... pe ... saññāya
sati ... saṅkhāresu sati...
viññāṇe sati, viññāṇaṃ upādāya,
viññāṇaṃ abhinivissa evaṃ diṭṭhi
uppajjati — ‘etaṃ mama,
esohamasmi, eso me attā’”ti.
“taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave, rūpaṃ niccaṃ vā
aniccaṃ vā”ti? “aniccaṃ, bhante”
... pe ... “vedanā... saññā...
saṅkhārā... viññāṇaṃ niccaṃ vā
aniccaṃ vā”ti? “aniccaṃ, bhante”
... pe ... api nu taṃ anupādāya
evaṃ diṭṭhi uppajjeyya — ‘etaṃ
mama, esohamasmi, eso me
attā’”ti? “no hetaṃ, bhante”.
“yampidaṃ diṭṭhaṃ sutaṃ mutaṃ
viññātaṃ pattaṃ pariyesitaṃ
anuvicaritaṃ manasā tampi niccaṃ
vā aniccaṃ vā”ti? “aniccaṃ,
bhante”. “yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ
vā taṃ sukhaṃ vā”ti? “dukkhaṃ,
bhante”. “yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ
vipariṇāmadhammaṃ, api nu taṃ
anupādāya evaṃ diṭṭhi uppajjeyya
— ‘etaṃ mama, esohamasmi, eso me
attā’”ti? “no hetaṃ, bhante”.
“yato kho, bhikkhave, ariyasāvakassa imesu ca
ṭhānesu kaṅkhā pahīnā hoti,
dukkhepissa kaṅkhā pahīnā hoti
... pe ... dukkhanirodhagāminiyā
paṭipadāyapissa kaṅkhā pahīnā
hoti — ayaṃ vuccati, bhikkhave,
ariyasāvako sotāpanno
avinipātadhammo niyato
sambodhiparāyano”ti. dutiyaṃ.
Nhân duyên ở Sàvatthi.
Tại Sāvatthī.
"Này chư Tỳ khưu, khi có điều gì, chấp thủ điều gì
vào điều gì, thiên chấp điều gì
mà người ta khởi lên chấp kiến
"Không có (quả) bố thí, không có (phước) của cúng dường,
không có (công đức) của tế tự,
không có quả dị thục các nghiệp
thiện ác, không có đời này,
không có đời khác, không có
(nghĩa) mẹ, không có (ân) cha,
không có các loài hóa sanh. Ở
đời, không có những vị sa môn,
tu sĩ chánh hạnh, chánh hướng,
đã tự mình chứng tri, chứng ngộ
đời này và đời khác, và truyền
dạy lại. Con người này do bốn
đại hợp thành, khi mệnh chung,
địa đại trở về địa giới; thủy
đại trở về thủy giới; hỏa đại
trở về
hỏa giới; phong đại trở
về phong giới; các căn biến nhập
vào hư không. (Bốn) người gánh
quan tài với người nằm trong
quan tài là năm, gánh người chết
mang đi tống tán, những lời tán
tụng kết thúc, lễ tang chấm dứt
với tro tàn. Cúng kiếng là tín
lý của kẻ ngu. Những tin tưởng
vào bố thí (và những điều tiếp
theo) chỉ là rỗng không, sai
lầm. Dù là người trí hay kẻ ngu
đều chung cuộc giống nhau: sau
khi mạng chung hoàn toàn tan
biến, không tồn tại”
"Bạch Đức Thế Tôn, các giáo nghĩa đều y chỉ ở
Thế Tôn…..”
“Này chư Tỳ khưu, khi có sắc, chấp thủ vào sắc,
thiên chấp vào sắc nên chấp kiến
nầy khởi lên: "Không có (quả) bố
thí, không có (phước) của cúng
dường …”
Khi có thức, chấp thủ vào thức, thiên chấp vào thức
nên chấp kiến nầy khởi lên:
"Không có (quả) bố thí, không có
(phước) của cúng dường …”
"Đối với cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến đổi,
liệu
nếu không chấp thủ thì có
quan niệm
"Không có (quả) bố thí,
không có (phước) của cúng dường
…”
"Đối với cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến đổi,
liệu
nếu không chấp thủ thì có
quan niệm
"Không có (quả) bố thí,
không có (phước) của cúng dường
…”
Chú thích
Chấp kiến trong trong bài kinh
nầy thuộc đoạn kiến
(natthikavāda). Trong Kinh Sa
Môn Quả, Trường Bộ, có đề cập về
lập thuyết hư vô (ucchedavāda)
do
Ajita
Kesakambalī cổ suý.
Lập luận của người theo đoạn
kiến dựa trên quan điểm thuần
duy vật. Chỉ quan sát hiện tượng
vật chất, mà ngay cả hiện tượng
tâm thức, nhất thời khó thấy
được kết nối nhân quả như một
người tạo ác nghiệp nào đó rồi
quả trỗ sanh trong khung thời
gian hoàn toàn khác biệt. Cũng
với quan niệm duy vật, những
người chấp đoạn kiến không tin
có các loài hoá sanh với sắc tế
như ma quỷ, chư thiên. Trong
Kinh Tệ Túc, Trường Bộ, có mô tả
ngắn gọn về đoạn kiến với quan
niệm “Không có đời sau, không có
các loại hoá sanh, hành vi thiện
ác không có quả báo”
Những quan điểm dựa trên đoạn
kiến dẫn tới sự phủ nhận hoàn
toàn giá trị của nhân quả, của
những gì thiêng liêng, của sự nỗ
lực tu tập hướng thượng và hướng
thiện trong đời sống. Nên lưu ý
ngay cả một người tự nhận mình
là Phật tử nhưng thỉnh thoảng
vẫn có một vài kiến chấp cực
đoan như được đề cập trong bài
kinh nầy thí dụ lối nói: “chết
rồi thì cát bụi về với cát bụi
thôi…”
Đoạn kiến thường dẫn tới những
sở hành nguy hiểm vì không tin
nhân quả. Về mặt nầy được xem là
tệ hại hơn nhiều so với thường
kiến.
Cả hai kiến chấp thường kiến và
đoạn kiến cũng có thể cùng có ở
một người thí dụ vẫn cúng bái và
sát sanh. Một số lớn con người
mang quan niệm hỗn hợp của
thường kiến, đoạn kiến.
Một điều phải rất cẩn thận khi
học Phật Pháp đó là những người
ưa thích tạo phước dễ có cái
nhìn gần với thường kiến; trong
lúc người đề cao sự giả hợp hư
huyễn của cuộc sống thường rơi
vào đoạn kiến. Lời Phật dạy
thuộc trung đạo nằm ngoài cả
hai.
Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình
Dưới đây là chánh văn Pāli cùng với bản Việt dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu Chương 23: Tương Ưng Kiến. I: Phẩm Dự Lưu.
V. Không Có (Tạp
7, Ðại 2,43c) (S.iii,206)
-- Do có cái gì, này các Tỷ-kheo, do chấp thủ cái
gì, do thiên chấp cái gì, (tà) kiến này khởi lên:
"Không có bố thí, không có lễ hy sinh, không có tế
tự, không có quả dị thục các nghiệp thiện ác, không
có đời này, không có đời khác, không có mẹ, không có
cha, không có các loài hóa sanh. Ở đời, không có
những vị Sa-môn chánh hạnh, chánh hướng, đã tự mình
chứng tri, chứng ngộ đời này và đời khác, và truyền
dạy lại. Con người này do bốn đại hợp thành, khi
mệnh chung, địa đại trở về trả lại cho địa giới;
thủy đại trở về trả lại cho thủy giới; hỏa đại trở
về trả lại cho hỏa giới; phong đại trở về trả lại
cho phong giới; các căn nhập vào hư không. Bốn người
gánh quan tài với người nằm trong quan tài là năm,
gánh người chết mang đi (đến chỗ hỏa táng), thốt ra
những lời tán tụng, các xương trắng như màu bồ câu
và những vật cúng dường trở thành tro bụi. Chỉ có
người ngu mới tán dương bố thí. Lời nói của họ trống
không, giả dối, khi họ thuyết có sự sống. Kẻ ngu
cũng như người hiền, sau khi thân hoại mạng chung,
sẽ đoạn diệt, tiêu thất, không còn tồn tại sau khi
chết"?
3)-- Ðối với chúng con, bạch Thế Tôn, các pháp lấy
Thế Tôn làm căn bản...
4) (Như
kinh trên, chỉ khác ở "tà kiến").
207-209. diṭṭhantiādīsu diṭṭhaṃ rūpāyatanaṃ. sutaṃ
saddāyatanaṃ. mutaṃ gandhāyatanaṃ rasāyatanaṃ
phoṭṭhabbāyatanaṃ. tañhi patvā gahetabbato mutanti
ca vuttaṃ. avasesāni sattāyatanāni viññātaṃ nāma.
pattanti pariyesitvā vā apariyesitvā vā pattaṃ.
pariyesitanti pattaṃ vā apattaṃ vā pariyesitaṃ.
anuvicaritaṃ manasāti cittena anusañcaritaṃ.
lokasmiñhi pariyesitvā pattampi atthi, pariyesitvā
nopattampi, apariyesitvā pattampi, apariyesitvā
nopattampi. tattha pariyesitvā pattaṃ pattaṃ nāma,
pariyesitvā nopattaṃ pariyesitaṃ nāma. apariyesitvā
pattañca apariyesitvā nopattañca manasānuvicaritaṃ
nāma. atha vā pariyesitvā pattampi apariyesitvā
pattampi pattaṭṭhena pattaṃ nāma, pariyesitvā
nopattameva pariyesitaṃ nāma, apariyesitvā nopattaṃ
manasānuvicaritaṃ nāma. sabbaṃ vā etaṃ manasā
anuvicaritameva.
207-209. Trong phẩm “Kiến - diṭṭha" với các từ tương
tự, các thuật ngữ được giải thích như sau:
Tất cả các đối tượng này đều
có thể được suy ngẫm và cân nhắc bởi tâm trí, và
chúng có thể được gọi là "manasānuvicarita." |