|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 19 tháng 10, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 390. NHỮNG CHẤP KIẾN SAI LẠC- Những bài kinh tiếp theo trong PHẨM KIẾN . ******
Vì đều là kiến chấp thế gian nên gom lại thành một
bài giảng. Vì thấy không cần bản
dịch mới nên sử dụng bản dịch
của Hoà thượng Thích Minh Châu
cho bài nẩy.
VI. Ðối Với Người Hành Ðộng (Tạp
7, Ðại 2,44b) (S.iii,208)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
-- Do có cái gì, này các Tỷ-kheo, do chấp thủ cái
gì, do thiên chấp cái gì, (tà)
kiến này khởi lên: "Tự làm hay
khiến người làm, chém giết hay
khiến người chém giết, đốt nấu
hay khiến người đốt nấu, gây
phiền muộn hay khiến người gây
phiền muộn, gây áo não hay khiến
người gây áo não, tự mình gây sợ
hãi hay khiến người gây sợ hãi,
sát sanh, lấy của không cho, phá
cửa nhà mà vào cướp bóc, đánh
cướp một nhà lẻ loi, chận đường
cướp giựt, tư thông vợ người,
nói láo, hành động như vậy không
có tội ác gì. Nếu lấy một bánh
xe sắc bén giết hại tất cả chúng
sanh trên cõi đất thành một đống
thịt, thành một chồng thịt, cũng
không vì vậy mà có tội ác, mà
gây ra tội ác. Nếu có người đi
trên bờ phía Nam sông Hằng giết
hại, tàn sát, chém giết, khiến
người chém giết, đốt nấu, khiến
người đốt nấu, cũng không vì vậy
mà có tội ác. Nếu có người đi
trên bờ phía Bắc sông Hằng bố
thí, khiến người bố thí, tế lễ,
khiến người tế lễ, cũng không vì
vậy mà có phước báo. Bố thí,
điều phục, cấm giới, tự chế, tôn
trọng sự thật, không có phước
đức, không đưa đến phước đức"?
4) -- Ðối với chúng con, bạch Thế Tôn, các pháp
lấy Thế Tôn làm căn bản...
(Như kinh trên, chỉ khác phần tà kiến").
VII. Nhân (Tạp
7, Ðại 2,44a) (S.iii,210)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
-- Do có cái gì, này các Tỷ-kheo, do chấp thủ cái
gì, do thiên chấp cái gì, (tà)
kiến này khởi lên: "Không có
nhân, không có duyên, các loài
hữu tình bị nhiễm ô; vô nhân, vô
duyên, các loài hữu tình bị
nhiễm ô. Không có nhân, không có
duyên, các loài hữu tình được
thanh tịnh; vô nhân, vô duyên,
các loài hữu tình được thanh
tịnh. Không có lực, không có
tinh tấn, không có nhân lực,
không có sự cố gắng của người.
Tất cả chúng sanh, tất cả hữu
tình, tất cả sinh vật, tất cả
sinh mạng đều không tự tại,
không lực, không tinh tấn. Họ bị
dắt dẫn, chi phối bởi định mệnh,
bởi điều kiện bộ loại của họ,
bởi cá tánh của họ. Họ hưởng thọ
khổ, lạc, y theo sáu loại thác
sanh của họ"?
3) -- Ðối với chúng con, bạch Thế Tôn, các pháp
lấy Thế Tôn làm căn bản...
(Như các kinh trên, chỉ khác phần "tà kiến").
VIII. Ðạt Tà Kiến (Tạp
7, Ðại 2,44b, 44c) (S.iii,211)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
-- Do có cái gì, này các Tỷ-kheo, do chấp thủ cái
gì, do thiên chấp cái gì, khởi
lên (tà) kiến như sau: "Có bảy
thân không bị làm ra, không làm
ra, không bị sáng tạo, không
sáng tạo, không sanh sản, thường
tại như đỉnh núi, đứng thẳng như
trụ đá. Chúng bất động, không
chuyển biến, không xâm lăng
nhau. Chúng không ảnh hưởng đến
lạc hay khổ với nhau, hoặc cả
khổ và lạc"?
3) Bảy thân ấy là gì? - Ðịa thân, thủy thân, hỏa
thân, phong thân, khổ, lạc và
thứ bảy là mạng. Bảy thân này
không bị làm ra, không làm ra,
không bị sáng tạo, không sáng
tạo, không sanh sản, thường tại
như đỉnh núi, đứng thẳng như trụ
đá. Chúng bất động, không chuyển
biến, không xâm lăng nhau, chúng
không ảnh hưởng đến lạc hay khổ
với nhau, hoặc cả khổ và lạc.
4) Khi một ai dùng lưỡi kiếm sắc bén chém đầu,
thời không có ai tước đoạt sanh
mạng của ai cả, lưỡi kiếm chỉ
rơi vào giữa bảy thân mà thôi.
5) Có tất cả là 1.400.000 chủng loại thác sanh,
lại có thêm 6.000 và có thêm 600
nữa. Có 500 loại nghiệp và năm
nghiệp (theo 5 căn), lại có ba
nghiệp (về thân, khẩu, ý), lại
có toàn nghiệp (thân và khẩu),
và bán nghiệp (ý), có 62 đạo, 62
trung kiếp, sáu giai cấp, tám
nhân địa, 4.900 sanh nghiệp,
4.900 kẻ du hành, 4.900 chỗ ở
của loài Nàga, 2.000 căn, 3.000
cảnh địa ngục, 36 trần giới, 7
tưởng thai, 7 vô tưởng thai, 7
tiết thai, 7 loài Thiên, 7 loài
Người, 7 loài quỷ, 7 hồ nước, 7
pavutas (rừng hay hồ nhỏ), 7
papàta (vực thẳm), 700 papàta
(vực thẳm), 7 mộng, 700 mộng, có
8 trăm 40 vạn đại kiếp, trong
thời gian ấy, kẻ ngu và người
hiền sau khi lưu chuyển luân hồi
sẽ trừ tận khổ đau.
6) Không có lời nguyền: "Với giới hạnh này, với kỷ
luật này, với khổ hạnh này hay
với Phạm hạnh này, tôi sẽ làm
cho chín muồi những nghiệp chưa
được thuần thục, hoặc trừ diệt
những nghiệp đã thuần thục bởi
những nhẫn thọ liên tục, không
thể đo lường khổ và lạc với
những vật đo lường, trong khi
luân hồi không có giảm tăng,
không có thặng dư, thiếu thốn.
7) Ví như một cuộn chỉ được tung ra sẽ được kéo
dài đến một mức độ nào đó. Cũng
như vậy, kẻ ngu và người hiền
sau khi lưu chuyển luân hồi sẽ
đoạn tận khổ đau".
8) -- Ðối với chúng con, bạch Thế Tôn, các pháp
lấy Thế Tôn làm căn bản...
(Như các kinh trên, chỉ khác về "tà kiến").
IX. Thế Gian Là Thường (S.iii,213)
(Như các kinh trên, chỉ khác về "tà kiến". Ở đây "tà
kiến" được thay bằng "thế gian
là thường").
X. Thế Gian Là Vô Thường (S.iii,214)
(Như các kinh trên, chỉ khác về "tà kiến").
XI. Hữu Biên
(Như các kinh trên, chỉ khác về "tà kiến")
XII. Vô Biên
(Như các kinh trên, chỉ khác về "tà kiến")
XIII. Mạng Với Thân Là Một
(Như các kinh trên, chỉ khác về "tà kiến")
XIV. Mạng Với Thân Là Khác
(Như các kinh trên, chỉ khác về "tà kiến")
XV. Như Lai Có Tồn Tại
(Như các kinh trên, chỉ khác về "tà kiến")
XVI. Như Lai Không Có Tồn Tại
(Như các kinh trên, chỉ khác về "tà kiến")
XVII. Như Lai Có Tồn Tại Và Không Có Tồn Tại
(Như các kinh trên, chỉ khác về "tà kiến")
XVIII. Như Lai Không Tồn Tại Và Không Không Tồn Tại (S.iii,216)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
-- Này các Tỷ-kheo, do có cái gì, do chấp thủ cái
gì, do thiên chấp cái gì, (tà)
kiến này khởi lên: "Như Lai
không tồn tại và không không tồn
tại sau khi chết"?
3) -- Ðối với chúng con, bạch Thế Tôn, các pháp
lấy Thế Tôn làm căn bản...
4-8) -- Do có sắc, này các Tỷ-kheo, do chấp thủ
sắc, do thiên chấp sắc, (tà)
kiến này khởi lên: "Như Lai
không tồn tại và không không tồn
tại sau khi chết"... ...
thọ... tưởng... các hành... Do
có thức, này các Tỷ-kheo, do
chấp thủ thức, do thiên chấp
thức, khởi lên (tà) kiến này:
"Như Lai không tồn tại và không
không tồn tại sau khi chết".
9) Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, sắc là
thường hay vô thường?
-- Vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu
không chấp thủ cái ấy, thời có
thể khởi lên (tà) kiến như sau:
"Như Lai không tồn tại và không
không tồn tại sau khi chết?"
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
10-13) ... Thọ... Tưởng... Các hành... Thức...
14) -- Cái được thấy, được nghe, được nghĩ đến,
được biết đến, được đạt tới,
được tìm cầu, được ý suy tư; cái
ấy là thường hay vô thường?
-- Vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu
không chấp thủ cái ấy, thời có
thể khởi lên (tà) kiến như sau:
"Như Lai không tồn tại và không
không tồn tại sau khi chết"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
15) -- Khi nào vị Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo,
đối với các xứ này, nghi hoặc
được đoạn trừ, đối với khổ, nghi
hoặc được đoạn trừ, đối với khổ
tập khởi, nghi hoặc được đoạn
trừ, đối với khổ đoạn diệt, nghi
hoặc được đoạn trừ, đối với con
đường đưa đến khổ đoạn diệt,
nghi hoặc được đoạn trừ, vị
Thánh đệ tử như vậy được gọi là
đã chứng được bậc Dự lưu, không
bị thối đọa, chắc quyết hướng
đến giác ngộ.
II. Phẩm Trùng Thuyết (1)
I. Gió
(Những kinh I, II trong phẩm này là giống như những kinh
trong Chương Ba, Kiến Tương Ưng
từ số I cho đến số XVIII).
II. Phi Hữu Phi Vô (S.iii,218)
III. Phẩm Trùng Thuyết (2)
I. Tự Ngã Có Sắc
(Những kinh này giống như các kinh trước chỉ khác là "tà
kiến" được thay bằng "Tự ngã có
sắc, sau khi chết, không bệnh").
II. Tự Ngã Không Có Sắc.
(như trên, được thay bằng "Tự ngã không có sắc, sau khi
chết, không bệnh").
III. Tự Ngã Có Sắc Và Không Sắc.
IV. Tự Ngã Không Có Sắc Và Không Không Sắc
V. Thuần Lạc
(... "Tự ngã là thuần lạc, sau khi chết, không bệnh").
VI. Thuần Khổ
VII. Thuần Lạc Và Thuần Khổ
VIII. Chẳng Phải Khổ , Chẳng Phải Lạc (S.iii,220)
IV. Phẩm Trùng Thuyết (3)
I. (Như kinh Chương Một I,
Kinh Nakulapità).
II- XXV.
(Như kinh từ số I, Phẩm Trùng
Thuyết 1, đến VII Phẩm Trùng
Thuyết 2)
XXVI. Phi Lạc Phi Khổ (Như
kinh VIII, Phẩm Trùng Thuyết 2).
V. Phẩm Trùng Thuyết (4)
I - XXVII.
Như kinh (I-II) Phẩm Trùng
Thuyết 3) (S.iii,222)
Tỳ khưu Giác Đẳng biên soạn giáo trình
Dưới đây là chánh văn Pāli cùng với bản Việt dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
-ooOoo- |