|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 22 tháng 10, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 391. NỘI GIỚI KHÔNG GIỮ NGUYÊN TRẠNG NÓI GÌ NGOẠI GIỚI- KINH MẮT (CAKKHUSUTTA) . ******
Trong sự nhận thức, cũng như
chấp thủ, phàm tâm thường có sự
khác biệt giữa chủ thể và khác
thể. Cái mình bám chấp có thể vô
thường biến đổi nhưng tự thân
thì muôn đời vẫn thế. Thực tế
thì dù là chủ thể hay khách thể
đều hằng chuyển. Cảnh vô thường
và các căn cũng vô thường. Nếu
nghĩ rằng chỉ có thế giới ngoại
tại là biến dịch còn tự thân là
bất biến thì giống như câu
chuyện người đi trên sông đánh
rơi thanh kiếm báu rồi đánh dấu
mạn thuyền để biết chỗ dò tìm.
Thực tế thì nước chảy, thuyền
trôi. Mọi thứ dịch chuyển. Sự vô
thường biến đổi có thể lãnh hội
được bởi cả hai niềm tin và trí
tuệ. Ai thấy được trạng huống
sanh diệt người ấy bước vào cảnh
giới giải thoát.
302. sāvatthinidānaṃ. “cakkhuṃ,
bhikkhave, aniccaṃ vipariṇāmi
aññathābhāvi; sotaṃ aniccaṃ
vipariṇāmi aññathābhāvi; ghānaṃ
aniccaṃ vipariṇāmi aññathābhāvi;
jivhā aniccā vipariṇāmī
aññathābhāvī {vipariṇāminī
aññathābhāvinī (?)}; kāyo anicco
vipariṇāmī aññathābhāvī; mano
anicco vipariṇāmī aññathābhāvī.
yo, bhikkhave, ime dhamme evaṃ
saddahati adhimuccati — ayaṃ
vuccati saddhānusārī, okkanto
sammattaniyāmaṃ, sappurisabhūmiṃ
okkanto, vītivatto
puthujjanabhūmiṃ; abhabbo taṃ
kammaṃ kātuṃ, yaṃ kammaṃ katvā
nirayaṃ vā tiracchānayoniṃ vā
pettivisayaṃ vā upapajjeyya;
abhabbo ca {abhabbova (sī. syā.
kaṃ.)} tāva kālaṃ kātuṃ yāva na
sotāpattiphalaṃ sacchikaroti”.
“yassa kho, bhikkhave, ime
dhammā evaṃ paññāya mattaso
nijjhānaṃ khamanti, ayaṃ vuccati
— ‘dhammānusārī, okkanto
sammattaniyāmaṃ, sappurisabhūmiṃ
okkanto, vītivatto
puthujjanabhūmiṃ; abhabbo taṃ
kammaṃ kātuṃ, yaṃ kammaṃ katvā
nirayaṃ vā tiracchānayoniṃ vā
pettivisayaṃ vā upapajjeyya;
abhabbo ca tāva kālaṃ kātuṃ yāva
na sotāpattiphalaṃ
sacchikaroti’. yo, bhikkhave,
ime dhamme evaṃ pajānāti evaṃ
passati, ayaṃ vuccati —
‘sotāpanno avinipātadhammo
niyato sambodhiparāyano’”ti.
paṭhamaṃ.
Nhân duyên tại Sàvatthi...
Này chư Tỳ khưu, mắt là vô
thường, biến đổi, trở thành sai
khác. Tai là vô thường, biến
đổi, trở thành sai khác. Mũi là
vô thường, biến đổi, trở thành
sai khác.
Lưỡi là vô thường, biến
đổi, trở thành sai khác. Thân là
vô thường, biến đổi, trở thành
sai khác. Ý là vô thường, biến
đổi, trở thành sai khác.
Này chư Tỳ khưu, ai có lòng tin,
có tín giải đối với những pháp
này; vị ấy được gọi là bậc tùy
tín hành, đã thể nhập chánh
tánh, đã thể nhập chân nhân địa,
đã vượt khỏi cảnh giới phàm phu.
Vị ấy không có thể làm những
hành động gì mà vì lý do ấy phải
sanh vào địa ngục, bàng sanh,
ngạ quỷ; vị ấy không thể mệnh
chung mà không chứng quả nhập
lưu.
Này chư Tỳ khưu, ai chấp nhận
giáo pháp này sau khi đã suy xét
thấu đáo với trí tuệ được gọi là
vị ấy được gọi là tùy
pháp hành, đã thể nhập chánh
tánh, đã thể nhập chân nhân địa,
đã vượt khỏi cảnh giới phàm phu.
Vị ấy không có thể làm những
hành động gì mà vì lý do ấy phải
sanh vào địa ngục, bàng sanh,
ngạ quỷ; vị ấy không thể mệnh
chung mà không chứng quả nhập
lưu.
Này chư Tỳ khưu, đối với những
pháp này, biết rõ như vậy, thấy
như vậy, vị ấy được gọi là đã
chứng quả nhập lưu, không còn bị
thối đọa, hành trình đã định
hướng, và giác ngộ là điểm đến.
Chú Thích
Bậc tùy tín hành (saddhānusārī)
và bậc tuỳ pháp hành
(dhammānusārī), được mô tả ngay
bên dưới, là hai hạng đệ tử đang
thực hành để chứng đắc quả vị
Nhập Lưu. Hai hạng này thuộc về
cấp bậc thấp nhất trong hệ thống
phân loại bảy đệ tử thánh đệ tử,
được định nghĩa chính thức tại
MN I 477-79. Bảy loại này cũng
được định nghĩa, với sự khác
biệt nhất định, tại Pp 14-15
(§§30-36) và tại Vism 659-60
(Ppn 21:74-78). Bậc tùy tín hành
và bậc tuỳ pháp hành cũng được
phân biệt tại 55:24 (V 377,8-24)
và 55:25 (V 379,10-21), mặc dù
các thuật ngữ đó không được sử
dụng trực tiếp.
Bậc tùy tín hành và bậc tuỳ pháp
hành ở khác biệt ở cơ địa (ngũ
căn: tín, tấn, niệm, định, tuệ).
Bậc tuỳ tín hành
dựa vào niềm tin làm
phương tiện tiến bộ, trong khi
bậc tuỳ pháp hành dựa vào trí
tuệ. Khi họ chứng đắc quả vị
nhập Lưu, người theo tín tâm trở
thành "bậc tín giải
(saddhāvimutti)” xem MN I
478,29-34), còn bậc tùy pháp
hành trở thành "kiến đắc
(diṭṭhippatta)”; xem MN I
478,18-23).
Theo Sớ Giải "chánh tánh"
(sammattaniyāma) là thánh đạo
(ariyamagga). Về câu "vị ấy
không thể mệnh chung mà không
chứng quả nhập lưu," có nghĩa là
là khi
“đạo đã khởi lên, không
có gì ngăn cản được quả”. Và
"Nếu người này đang thực
hành để chứng đắc quả vị nhập
nưu, và nếu đây là lúc khi kiếp
sắp kết thúc, kiếp sẽ không kết
thúc cho đến khi người đó chứng
đắc quả vị nhập Lưu."
Tỳ khưu Giác Đẳng biên soạn giáo trình
Dưới đây là chánh văn Pāli cùng với bản Việt dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
I. Con Mắt (S.iii,225)
1-2) Nhân duyên tại Sàvatthi...
3) -- Này các Tỷ-kheo, mắt là vô thường, biến hoại, đổi khác.
Tai là vô thường, biến hoại, đổi khác. Mũi là vô thường, biến
hoại, đổi khác. Lưỡi là vô thường, biến hoại, đổi khác. Thân là
vô thường, biến hoại, đổi khác. Ý là vô thường, biến hoại, đổi
khác.
4) -- Này các Tỷ-kheo, ai có lòng tin, có tín giải đối với những
pháp này; vị ấy được gọi là Tùy tín hành, đã nhập Chánh tánh, đã
nhập Chân nhân địa, đã vượt phàm phu địa. Vị ấy không có thể làm
những hành động gì, do làm hành động ấy phải sanh vào địa ngục,
bàng sanh, ngạ quỷ; một vị không có thể mệnh chung mà không
chứng quả Dự lưu.
5) Với ai, này các Tỷ-kheo, kham nhẫn một ít Thiền quán, như vậy
với trí tuệ về những pháp này; vị ấy được gọi là Tùy pháp hành,
đã nhập Chánh tánh, đã nhập Chân nhân địa, đã vượt phàm phu địa.
Vị ấy không có thể làm những hành động gì, do làm hành động ấy,
phải sanh vào địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ; một vị không có thể
mệnh chung mà không chứng quả Dự lưu.
6) Với ai, này các Tỷ-kheo, đối với những
pháp này, biết rõ như vậy, thấy như vậy, vị ấy được gọi là đã
chứng Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc hướng đến giác
ngộ.
Sớ Giải Kinh cakkhusutta
302-311. okkantasaṃyutte adhimuccatīti saddhādhimokkhaṃ
paṭilabhati. okkanto sammattaniyāmanti paviṭṭho ariyamaggaṃ.
abhabbo ca tāva kālaṃ kātunti iminā uppanne magge phalassa
anantarāyataṃ dīpeti. uppannasmiñhi magge phalassa
antarāyakaraṇaṃ nāma natthi. tenevāha — “ayañca puggalo
sotāpattiphalasacchikiriyāya paṭipanno assa, kappassa ca
uḍḍayhanavelā assa, neva tāva kappo uḍḍayheyya, yāvāyaṃ puggalo
na sotāpattiphalaṃ sacchikaroti, ayaṃ vuccati puggalo
ṭhitakappī”ti (pu. pa. 17). mattaso nijjhānaṃ khamantīti
pamāṇato olokanaṃ khamanti. sesaṃ sabbattha uttānamevāti.
302-311. Trong Phẩm Tương Ưng Thể Nhập (Okkantasaṃyutta),
"adhimuccatīti" nghĩa là đạt được quyết tâm do niềm tin
(saddhādhimokkha). "Okkanto sammattaniyāmanti" có nghĩa là đã
bước vào con đường thánh (ariyamagga). "Abhabbo ca tāva kālaṃ
kātunti" có nghĩa là chỉ ra rằng khi con đường đã khởi lên, sẽ
không còn bất kỳ chướng ngại nào ngăn cản quả vị nữa. Khi con
đường (magga) đã khởi lên, không có điều gì có thể ngăn cản sự
chứng đắc của quả (phala). Do đó, câu nói rằng: "Nếu người này
đang thực hành để chứng đắc quả vị Nhập Lưu và nếu đó là lúc
kiếp (kappa) đang ở giai đoạn sắp kết thúc, thì kiếp sẽ không
kết thúc cho đến khi người đó chứng đắc quả vị Nhập Lưu. Người
này được gọi là 'ṭhitakappī' (người đứng vững trong kiếp)" (pu.
pa. 17).
"Câu 'mattaso nijjhānaṃ khamanti' nghĩa là sự suy xét vừa đủ về
mặt trí tuệ được chấp nhận một cách phù hợp." Những phần còn lại
đều dễ hiểu.
-ooOoo- |