|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 23 tháng 10, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 392. Những bài kinh tiếp theo trong Phẩm Thể Nhập - SN. 25.2 tới SN. 25.10 - KINH MẮT (CAKKHUSUTTA) . ******
Đọc lại Kinh Mắt dưới đây để làm
khuôn mẫu cho những bài kinh
tiếp theo từ SN. 25.2 tới SN.
25.10 .
Kinh Mắt
Nhân duyên tại Sàvatthi...
Này chư Tỳ khưu, mắt là vô
thường, biến đổi, trở thành sai
khác. Tai là vô thường, biến
đổi, trở thành sai khác. Mũi là
vô thường, biến đổi, trở thành
sai khác.
Lưỡi là vô thường, biến
đổi, trở thành sai khác. Thân là
vô thường, biến đổi, trở thành
sai khác. Ý là vô thường, biến
đổi, trở thành sai khác.
Này chư Tỳ khưu, ai có lòng tin,
có tín giải đối với những pháp
này; vị ấy được gọi là bậc tùy
tín hành, đã thể nhập chánh
tánh, đã thể nhập chân nhân địa,
đã vượt khỏi cảnh giới phàm phu.
Vị ấy không có thể làm những
hành động gì mà vì lý do ấy phải
sanh vào địa ngục, bàng sanh,
ngạ quỷ; vị ấy không thể mệnh
chung mà không chứng quả nhập
lưu.
Này chư Tỳ khưu, ai chấp nhận
giáo pháp này sau khi đã suy xét
thấu đáo với trí tuệ được gọi là
vị ấy được gọi là tùy
pháp hành, đã thể nhập chánh
tánh, đã thể nhập chân nhân địa,
đã vượt khỏi cảnh giới phàm phu.
Vị ấy không có thể làm những
hành động gì mà vì lý do ấy phải
sanh vào địa ngục, bàng sanh,
ngạ quỷ; vị ấy không thể mệnh
chung mà không chứng quả nhập
lưu.
Này chư Tỳ khưu, đối với những
pháp này, biết rõ như vậy, thấy
như vậy, vị ấy được gọi là đã
chứng quả nhập lưu, không còn bị
thối đọa, hành trình đã định
hướng, và giác ngộ là điểm đến.
Những bài kinh tiếp theo trong
Phẩm Thể Nhập
- SN. 25.2 tới SN. 25.10 có nội
dung giống như
Kinh Mắt chỉ với thay đổi
như sau:
Kinh Sắc
chỉ thế "mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân, ý" bằng "sắc, thanh,
hương, vị, xúc, pháp"
Kinh Thức
thế vào với "nhãn thức, nhĩ
thức, tỷ thức, thiệt thức, thân
thức, ý thức".
Kinh Xúc
thế vào với "nhãn xúc, nhĩ
xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân
xúc, ý xúc"
Kinh Thọ
thế vào với
"thọ do nhãn xúc sanh,
thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ
xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh,
thọ do thân xúc sanh, thọ do ý
xúc sanh"
Kinh Tưởng
thế vào với "sắc tưởng, thanh
tưởng, hương tưởng, vị tưởng,
xúc tưởng, pháp tưởng"
Kinh Tư
thế vào với "sắc tư, thanh tư,
hương tư, vị tư, xúc tư, pháp
tư"
Kinh Ái
thế vào với "sắc ái, thanh
ái, hương ái, vị ái, xúc ái,
pháp ái"
Kinh Giới
thế vào với "địa giới,
thủy giới, hỏa giới, phong giới,
không giới, thức giới"
Kinh Uẩn thế
vào với "sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng
uẩn, hành uẩn, thức uẩn"
Chú Thích
Những ý nghĩa trong các bài kinh
nầy năm trong căn bản tương đồng
giữa Kinh Tạng và Thắng Pháp
Tạng. Người có học Thắng Pháp
Abhidhamma sẽ dễ dàng nhận ra
những ý nghĩa tinh tế vốn nằm
trong “pháp bản thể” và thường
được đề cập theo phương diện vĩ
mô. Ở đây, cái gọi là chúng sanh
không còn nằm trong khái niệm
thi thiết như giàu nghèo, đẹp
xấu, chức nầy địa kia mà chỉ là
những hiện tượng của uẩn, xứ,
giới…
Tỳ khưu Giác Đẳng biên soạn giáo trình
Dưới đây là chánh văn Pāli cùng với bản Việt dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
[26] Chương V
Tương Ưng Sanh
-ooOoo-
I. Mắt (Tạp
13, Ðại 2,90c) (S.iii,228)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) -- Này các Tỷ-kheo, sự sanh, sự trú, sự thành, sự xuất hiện
của mắt là sự sanh của khổ, sự trú của bệnh hoạn, sự xuất hiện
của già chết.
4-8) Sự sanh, sự trú, sự thành, sự xuất hiện của tai... của
mũi... của lưỡi... của thân... của ý là sự sanh của khổ, sự trú
của bệnh hoạn, sự xuất hiện của già chết.
9) Sự diệt, sự lắng dịu, sự chấm dứt của sắc là sự diệt của khổ,
sự lắng dịu của bệnh hoạn, sự chấm dứt của già chết.
10-14) Sự diệt, sự lắng dịu, sự chấm dứt của tai... của mũi...
của lưỡi... của thân... của ý là sự diệt của khổ, sự lắng dịu
của bệnh hoạn, sự chấm dứt của già chết.
II. Sắc
(Như kinh trên, chỉ thế vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp).
III. Thức
(Như kinh trên, chỉ thế vào nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức,
thiệt thức, thân thức, ý thức).
IV. Xúc
(Như kinh trên, chỉ thế vào nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt
xúc, thân xúc, ý xúc).
V. Thọ
VI. Tưởng
(Như kinh trên, chỉ thế vào sắc tưởng, thanh tưởng, hương
tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng).
VII. Tư
(Như kinh trên, chỉ thế vào sắc tư, thanh tư, hương tư, vị
tư, xúc tư, pháp tư).
VIII. Ái
(Như kinh trên, chỉ thế vào sắc ái, thanh ái, hương ái, vị
ái, xúc ái, pháp ái).
IX. Giới
X. Uẩn (S.iii,231)
(Như kinh trên, chỉ thế vào sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành
uẩn, thức uẩn).
Sớ Giải Các Bài Kinh Từ Kinh
SN. 25.2 tới SN. 25.10
302-311. okkantasaṃyutte adhimuccatīti saddhādhimokkhaṃ
paṭilabhati. okkanto sammattaniyāmanti paviṭṭho ariyamaggaṃ.
abhabbo ca tāva kālaṃ kātunti iminā uppanne magge phalassa
anantarāyataṃ dīpeti. uppannasmiñhi magge phalassa
antarāyakaraṇaṃ nāma natthi. tenevāha — “ayañca puggalo
sotāpattiphalasacchikiriyāya paṭipanno assa, kappassa ca
uḍḍayhanavelā assa, neva tāva kappo uḍḍayheyya, yāvāyaṃ puggalo
na sotāpattiphalaṃ sacchikaroti, ayaṃ vuccati puggalo
ṭhitakappī”ti (pu. pa. 17). mattaso nijjhānaṃ khamantīti
pamāṇato olokanaṃ khamanti. sesaṃ sabbattha uttānamevāti.
302-311. Trong Phẩm Tương Ưng Thể Nhập (Okkantasaṃyutta),
"adhimuccatīti" nghĩa là đạt được quyết tâm do niềm tin
(saddhādhimokkha). "Okkanto sammattaniyāmanti" có nghĩa là đã
bước vào con đường thánh (ariyamagga). "Abhabbo ca tāva kālaṃ
kātunti" có nghĩa là chỉ ra rằng khi con đường đã khởi lên, sẽ
không còn bất kỳ chướng ngại nào ngăn cản quả vị nữa. Khi con
đường (magga) đã khởi lên, không có điều gì có thể ngăn cản sự
chứng đắc của quả (phala). Do đó, câu nói rằng: "Nếu người này
đang thực hành để chứng đắc quả vị Nhập Lưu và nếu đó là lúc
kiếp (kappa) đang ở giai đoạn sắp kết thúc, thì kiếp sẽ không
kết thúc cho đến khi người đó chứng đắc quả vị Nhập Lưu. Người
này được gọi là 'ṭhitakappī' (người đứng vững trong kiếp)" (pu.
pa. 17).
-ooOoo- |