|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Sáu, ngày 25, tháng 10, 2024 MÔN HỌC THẮNG PHÁP PHỔ THÔNGTHẮNG PHÁP TẬP YẾU (ABHIDHAMMA SANGAHA) Bài 103. Tứ Thực (āhara)
Cattāro āhārā – kabaḷīkāro āhāro, phasso dutiyo,
manosañcetanā tatiyā, viññāṇaṃ catutthaṃ.
Có bốn thực: đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực, thức thực.
Chú thích
Thực – āhārā –
là chất liệu dinh dưỡng, thức ăn, dưỡng tố. Đây là chủ đề
lớn trong Phật học xác lập rõ những gì sản sinh, nuôi dưỡng
sự tồn tại của chúng sanh trong đời. Tứ thực nói rõ về vai
trò của duyên nghiệp. Tứ thực cho thấy không có sự tồn tại
của của một ý chí tối tôn, độc tôn thường được gọi là Thượng
Đế. Tứ thực cho thấy sự hiện hữu phức tạp của cả hai hiện
tượng tâm lý và vật lý. Chữ thực, dù thoạt nghe rất vật
chất, nhưng nên hiểu bao gồm của các khái niệm với hai hiện
tượng như vật chất và tâm thức, cụ thể và trừu tượng, nhân
sanh và sự duy trì.
Đoàn thực - kabaḷīkāhāra –
là dưỡng tố vật chất như
cơm bánh đối với thân thể con người, ánh sáng đối với cây cỏ
hoa lá, nhiệt lượng đối với vật chất… Đoàn thực duy trì và
tác động sanh khởi thế giới vật chất. Như không phải là
duyên trợ duy nhất cũng như thực phẩm nuôi thân nhưng vẫn có
những yếu tố khác thí dụ như tập thể dục..
Xúc thực – phassāhāra –
là sự giao thoa giữa căn và cảnh tạo nên tác động dây chuyền
đặc biệt là cảm thọ (vedanā).
Tư niệm thực - manosañcetanāhāra
– là chủ tâm tạo tác hay hiện tượng nghiệp tạo nên quả dị
thục (vipāka), và từ đó là sự sanh khởi và tồn tại của của
luân hồi sanh tử.
Thức thực - viññāṇāhāra
– là vai trò của tâm thức trong sự sanh khởi và tồn tại đối
với cả hai thế giới tâm lý và vật lý.
Nói về bản thể nên nhớ là là có sự sai biệt tứ thực trong
cách nói giữa Kinh Tạng và Thắng Pháp, giữa định nghĩa căn
bản và duyên hệ (paccayo) trong ngay chính Thắng Pháp, giữa
cách nói đại loại và vĩ mô trong Phật học. Những pháp bản
thể ở đây chỉ nêu lên từ góc cạnh của căn bản Thắng Pháp.
Đoàn thực (Kabaḷīkārāhāra) được nhận dạng với sắc dưỡng tố
(rūpa-āhāra). Xúc thực (phassa) được nhận dạng với thuộc
tánh xúc (phassa cetasika). Tư niệm (manosañcetanā) được
nhận dạng với thuộc tánh tư (cetanā cetasika). Thức
(Viññāṇa) được nhận dạng với tất cả tâm (citta).
Một số ý niệm sau đây đi xa hơn là nội dung bài nầy nhưng
rất lợi ích để tham khảo khi nói về tứ thực.
Phật ngôn “Sabbe sattā āhāraṭṭhitikā - tất cả chúng sanh tồn
tại do dưỡng tố”. Câu Phật ngôn nầy mang ý nghĩa lớn trong
Phật học và vũ trụ quan. Câu nầy hàm nghĩa là sự sanh ra và
tồn tại của của mỗi chúng sanh trong đời đều có nhân, có
duyên để trong sự khởi sanh và duy trì. Tứ thực cho thấy sự
khác biệt sâu xa giữa Phật Pháp và các tôn giáo thần ngã
khác.
Tứ thực, trong cách nói thường thức, đồng nghĩa với duyên
nghiệp. Chúng sanh do duyên nghiệp mà sanh ra, mà có sự khác
biệt, mà tồn tại và chính do duyên duyên nghiệp bị già chết
rồi chuyển sinh.
Đoàn thực cho biết có những dưỡng tố trong vật chất nuôi
sống và làm tốt sức khỏe như hàm lượng sinh tố (vitamin),
đạm chất (protein), calo (calorie).. đối với thân thể con
người… Đồng thời có những thức đối lập huỷ hoại như virus..
Xúc thực là sự giao thoa của căn, cảnh, thức cho thấy dù tâm
hay cảnh không phải là yếu tố duy nhất trong cuộc sống. Thí
dụ lưỡi nếm vị thì chính thiệt căn, cảnh vị, và vị giác đều
có vai trò nhất định tạo nên cảm thọ. Chính xúc tạo nên sự
tương tác giữa tâm và cảnh, một lãnh vực lớn ảnh hưởng đến
cuộc sống.
Tư niệm thực là nghiệp tạo nên quả, và từ đó, là luân hồi
sanh tử. Nghiệp là cách nói chung, mà chủ tâm tạo tác là xác
định của Đức Phật về cái gì thật sự là nghiệp. Thuộc tánh tư
(cetanā cetasika) giống như vị tổng thống trong tổng thống
chế đối với toàn bộ chính sách điều hành một quốc gia. Khi
Đức Phật dạy “chính tư là là nghiệp” mang ý nghĩa khác biệt
to lớn giữa Phật Pháp và sự hiểu biết về nghiệp lực.
Thức thực nói lên vai trò của tâm thức trong hiện tượng
giới. Đây là mảng trống mà khoa học ngày nay không đi sâu vì
khoa học của nhân loại thường nhấn mạnh yếu tố vật chất và
mù mờ về vai trò tâm thức. Tâm thức có ảnh hưởng lớn đến
cuộc sống qua những ghi nhận về thiện ác, khổ vui, tích cự
tiêu cực….
Tỳ
khưu Giác Đẳng
dịch và
biên soạn giáo trình I. Giới thiệu về tính năng mới của Room Level DELUXE - Hi-Fi Audio & Multichannel (Up to 3 Speakers at once)
-
Hi-Fi là
từ viết tắt của “high fidelity”, có nghĩa là độ chân
thực cao. Khi nói “âm thanh Hi-Fi” tức
là âm thanh có độ chân thực cao, sống động, không bị méo âm
hoặc bị lẫn tạp âm và gần như không có gì khác so với âm
thanh gốc.
-
Multichannel (cho phép người dùng có thể kết nối nhiều kênh âm thanh
cùng lúc ‘Room Level DELUXE cho phép sử dụng 3 kênh âm
thanh cùng lúc’
Minh hoạ về Multichannel
II.Quy tắc chung khi sử dụng Multichannel:
-
TT Giác Đẳng
với vai trò điều hợp sẽ bật micro để điều hợp thảo luận và TT Tuệ Siêu – TT
Tuệ Quyền – TT Pháp Tân – TT Pháp Đăng – Sư Nguyên Thông sẽ
đảm trách vai trò là người trả lời và chư vị khi được thỉnh
mời thì trực tiếp bật micro để người điều hợp biết là mình
có thể tham gia mà không cần phải gửi text trên Room. Khi
câu thảo luận được nêu ra hoàn tất thì chư vị có thể bắt đầu
trả lời luôn mà không cần phải chờ đợi như trước.
(Những ngày qua TT Tuệ Siêu đã sử dụng rất quen thuộc
tính năng nầy).
-
Các MC có
thể cầm micro liên tục khi dẫn chương trình cho đến khi đọc
nội dung bài học mà không cần phải tắt micro.
-
Ví dụ: TT
Tuệ Siêu là vị dẫn nhập cho chương trình mỗi ngày và với
Multichannel thì khi nghe lời thỉnh mời TT Tuệ Siêu sẽ chủ
động bật micro mà không cần chờ MC
‘hỏi Ngài có nghe âm thanh rõ không
or phải cho biết tín hiệu’.
-
Các MC là
“admin @ (A)” hoan hỷ lưu ý vì có thể cầm 3 micro cùng lúc
nên phải để ý những người tham gia nếu thấy có tín hiệu cầm
micro thì dùng chức năng (hạn chế
or bỏ qua thành viên). |