|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 29 tháng 10, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 394. TÂM VÔ SỞ CHẤP LÀ TÂM ẢO DIỆU- Những bài kinh Phẩm Phiền Não SN. 27.1 tới SN. 27.10 . ******
I. Mắt
Nhân duyên ở Sàvathi...
“Này chư Tỳ khưu, ước muốn và ái
chấp đối với
mắt là sự hủ hoá của tâm.
ước muốn và ái chấp đối với tai…
đối với mũi… đối với lưỡi… đối
với thân… đối với ý đều là sự hủ
hoá của tâm.
Khi một tỳ khưu từ bỏ các sự hủ hoá của tâm trong sáu trường
hợp này, tâm của vị ấy sẽ
nghiêng về xả ly. Khi tâm được
củng cố bởi sự xả ly sẽ trở nên
nhu nhuyến đối với những điều
cần chứng ngộ bằng thắng trí
trực tiếp.”
Vì tất cả bài kinh nầy đều có nội dung về tâm ly tham là tâm
nhu nhuyến nên gom lại thành một
bài giảng.
II. Sắc
(Như kinh trên, chỉ thế vào sắc, thanh, hương, vị, xúc,
pháp).
III. Thức
(Như kinh trên, chỉ thế vào nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức,
thiệt thức, thân thức, ý thức).
IV. Xúc
(Như kinh trên, chỉ thế vào nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc,
thiệt xúc, thân xúc, ý xúc).
V. Thọ
(Như kinh trên, chỉ thế vào thọ do nhãn xúc sanh, thọ do
nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc
sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ
do thân xúc sanh, thọ do ý xúc
sanh).
VI. Tưởng
(Như kinh trên, chỉ thế vào sắc tưởng, thanh tưởng, hương
tưởng, vị tưởng, xúc
tưởng, pháp
tưởng).
VII. Tư
(Như kinh trên, chỉ thế vào sắc tư, thanh tư, hương tư,
vị tư, xúc tư, pháp tư).
VIII. Ái
(Như kinh trên, chỉ thế vào sắc ái, thanh ái, hương ái,
vị ái, xúc ái, pháp ái).
IX. Giới
(Như kinh trên, chỉ thế vào địa giới, thủy giới, hỏa
giới, phong giới, không giới,
thức giới).
X. Uẩn (S.iii,231)
(Như kinh trên, chỉ thế vào sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn,
hành uẩn, thức uẩn).
Chú Thích
Chữ chandarāga thường được dịch là dục tham bao gồm sự ước muốn và vui
sướng. Bản dịch nầy chọn cụm từ
“ước muốn và ái chấp” để dùng
chung cho tất cả trường hợp từ
thô đến tế.
Thuật ngữ upakilesa thường được dịch là “tuỳ phiền não” nhưng bản dịch nầy
lấy theo ý của bốn dịch giả,
trong đó có ngài Bodhi, dịch là
“hủ hoá” (Anh ngữ là corruption)
hay “sự hư hoại” hay “uế nhiễm”
Bản Sớ Giải của phẩm nầy có phần khó hiểu khi nói về sự hủ hoá của tâm với
chú thích: “Sự hủ hoá của tâm
nào? Đó là tâm của bốn cảnh
giới. Chắc chắn rằng điều này
đúng với tâm của ba cảnh giới
(hiệp thế), nhưng tại sao nó lại
là sự hư hoại của tâm siêu thế?
Do ngăn chặn sự phát sinh của
tâm đó. Nó được xem là hủ hoá vì
nó không cho phép tâm siêu thế
phát sinh (kilesasaṃyutte
cittasseso upakkilesoti
kataracittassa?
catubhūmakacittassa.
tebhūmakacittassa tāva hotu,
lokuttarassa kathaṃ upakkileso
hotīti? uppattinivāraṇato. so hi
tassa uppajjituṃ appadānena
upakkilesoti veditabbo).
Tâm của vị ấy nghiêng về từ bỏ (nekkhammaninnam c’ assa
cittam hoti): Tâm của định và
tuệ quán hướng về chín trạng
thái siêu thế. Những điều cần
được chứng ngộ bằng tri thức
trực tiếp (abhiññā
sacchikaranīyesu dhammesu) là
những điều liên quan đến sáu
loại tri thức trực tiếp. Sớ Giải
không
chú thích động từ khāyati, nghĩa
đen là “hiện ra.”
Tỳ khưu Giác Đẳng biên soạn giáo trình
Dưới đây là chánh văn Pāli cùng với bản Việt dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
I. Con Mắt (S.iii,232)
1-2) Nhân duyên ở Sàvathi...
3) -- Này các Tỷ-kheo, dục tham đối với mắt là tùy phiền não
của tâm. Dục tham đối với tai là tùy phiền não của tâm. Dục tham
đối với mũi là tùy phiền não của tâm. Dục tham đối với lưỡi là
tùy phiền não của tâm. Dục tham đối với thân là tùy phiền não
của tâm. Dục tham đối với ý là tùy phiền não của tâm.
4) Này các Tỷ-kheo, khi nào vị Tỷ-kheo đối với sáu xứ này,
đoạn tận được tùy phiền não, thời tâm vị ấy hướng về ly dục. Do
biến mãn với ly dục, tâm vị ấy được xem là kham nhẫn, chứng tri
đối với các pháp cần phải giác ngộ.
(Như kinh trên, chỉ thế
vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp).
III. Thức
(Như kinh trên, chỉ thế
vào nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý
thức).
IV. Xúc
(Như kinh trên, chỉ thế
vào nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc).
V. Thọ
(Như kinh trên, chỉ thế
vào thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do thiệt
xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh).
VI. Tưởng
(Như kinh trên, chỉ thế
vào sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng,
pháp tưởng).
VII. Tư
(Như kinh trên, chỉ thế
vào sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư).
VIII. Ái
(Như kinh trên, chỉ thế
vào sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái).
IX. Giới
(Như kinh trên, chỉ thế
vào địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới,
thức giới).
X. Uẩn (S.iii,234)
1-2) Nhân duyên ở
Sàvatthi...
3) -- Này các Tỷ-kheo, dục
tham đối với sắc uẩn là tùy phiền não của tâm. Dục tham đối với
thọ uẩn là tùy phiền não của tâm. Dục tham đối với tưởng uẩn là
tùy phiền não của tâm. Dục tham đối với hành uẩn là tùy phiền
não của tâm. Dục tham đối với thức uẩn là tùy phiền não của tâm.
4) Này các Tỷ-kheo, khi nào vị Tỷ-kheo đối với năm xứ này,
đoạn tận được tùy phiền não, thời tâm vị ấy hướng về ly dục. Do
biến mãn với ly dục, tâm vị ấy được xem là kham nhẫn, chứng tri
đối với các pháp cần phải giác ngộ.
Sớ Giải Các Bài Kinh Từ Kinh SN.
27.1 tới SN. 27.10
322-331.
kilesasaṃyutte cittasseso upakkilesoti kataracittassa?
catubhūmakacittassa. tebhūmakacittassa tāva hotu, lokuttarassa
kathaṃ upakkileso hotīti? uppattinivāraṇato. so hi tassa
uppajjituṃ appadānena upakkilesoti veditabbo.
nekkhammaninnanti navalokuttaradhammaninnaṃ. cittanti
samathavipassanācittaṃ. abhiññā sacchikaraṇīyesu dhammesūti
paccavekkhaṇañāṇena abhijānitvā sacchikātabbesu
chaḷabhiññādhammesu, ekaṃ dhammaṃ vā gaṇhantena nekkhammanti
gahetabbaṃ. sesaṃ sabbattha uttānamevāti.
Không có Sớ Giải riêng cho phẩm nầy
-ooOoo- |