|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 29 tháng 10, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 395. CHỈ CÓ CHỨNG ĐẮC CHỨ KHÔNG CÓ NGƯỜI ĐẮC CHỨNG- Những bài kinh Phẩm Sāriputta, SN. 28.1 tới SN. 28.9 . ******
Cái gì nắm được mà buông được là tự tại. Chặng đường
đến được rồi rời đi được là tiến
bộ. Tất cả những vướng vấp chỉ
do chấp thủ tạo thành. Đây có lẽ
là điểm tế nhị nhất trong cuộc
sống khi sự thành tựu trở thành
gánh nặng vương mang. Và chính
điều nầy nói lên giá trị của sự
dung thông chỉ và quán. Chính
tâm định do samatha mang lại tạo
nên sự an lập của nội tâm trong
lúc cái nhìn của tuệ quán
vipassana giúp vượt thoát sự
vướng vấp, bám chấp. Tuy hai mà
một, tuy một mà hai.
Kinh Sanh Ra Từ Độc Cư
332. ekaṃ samayaṃ āyasmā sāriputto sāvatthiyaṃ viharati
jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
atha kho āyasmā sāriputto
pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā
pattacīvaramādāya sāvatthiṃ
piṇḍāya pāvisi. sāvatthiyaṃ
piṇḍāya caritvā pacchābhattaṃ
piṇḍapātapaṭikkanto yena
andhavanaṃ tenupasaṅkami
divāvihārāya. andhavanaṃ
ajjhogāhetvā aññatarasmiṃ
rukkhamūle divāvihāraṃ nisīdi.
atha kho āyasmā sāriputto sāyanhasamayaṃ paṭisallānā
vuṭṭhito yena jetavanaṃ
anāthapiṇḍikassa ārāmo
tenupasaṅkami. addasā kho āyasmā
ānando āyasmantaṃ sāriputtaṃ
dūratova āgacchantaṃ. disvāna
āyasmantaṃ sāriputtaṃ etadavoca
— “vippasannāni kho te, āvuso
sāriputta, indriyāni; parisuddho
mukhavaṇṇo pariyodāto.
katamenāyasmā sāriputto ajja
vihārena vihāsī”ti?
“idhāhaṃ, āvuso, vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi
savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ
pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ
upasampajja viharāmi. tassa
mayhaṃ, āvuso, na evaṃ hoti —
‘ahaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ
samāpajjāmī’ti vā ‘ahaṃ paṭhamaṃ
jhānaṃ samāpanno’ti vā ‘ahaṃ
paṭhamā jhānā vuṭṭhito’ti vā”ti.
“tathā hi panāyasmato
sāriputtassa dīgharattaṃ
ahaṅkāramamaṅkāramānānusayā
susamūhatā. tasmā āyasmato
sāriputtassa na evaṃ hoti —
‘ahaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ
samāpajjāmī’ti vā ‘ahaṃ paṭhamaṃ
jhānaṃ samāpanno’ti vā ‘ahaṃ
paṭhamā jhānā vuṭṭhito’ti vā”ti.
paṭhamaṃ.
Một thuở, Tôn giả Sāriputta trú ở Sāvatthī, tại Kỳ Viên, ngôi già lam do
Anāthapiṇḍika dâng cúng..
Rồi vào buổi sáng, Tôn giả Sāriputta mặc y và mang bát vào thành Sāvatthī
để khất thực. Khi đã đi khất
thực ở Sāvatthī và trở về sau
chuyến đi, sau khi dùng bữa
xong, Ngài đi đến Rừng Người Mù
để nghỉ ngơi trong ngày. Sau khi
vào Rừng Người Mù, Ngài ngồi
xuống dưới gốc cây để an trú
trong ngày.
Rồi vào buổi chiều, Tôn giả Sāriputta rời khỏi chỗ tĩnh lặng và quay về
khu rừng của ông Jeta, công viên
của Anāthapiṇḍika. Tôn giả
Ānanda thấy Tôn giả Sāriputta từ
xa đi đến, liền nói với Ngài:
“Này Hiền giả Sāriputta, các căn
của Hiền giả thật thanh tịnh,
sắc diện của bạn tươi sáng và
tinh anh. Vậy Tôn giả Sāriputta
đã an trú vào gì suốt cả ngày?”
“Này Hiền giả, ở đây tôi đã nhập và
trú trong sơ thiền, với tầm và
tứ, một trạng thái hỷ
lạc thanh tịnh do ly dục
sanh, tách biệt khỏi các trạng
thái bất thiện. Và nầy hiền giả,
tôi không nghĩ rằng, ‘Tôi đang
đạt đến sơ thiền,’ hay ‘Tôi đã
đạt đến sơ thiền,’ hoặc ‘Tôi vừa
xuất ra khỏi sơ thiền.’”
“Bởi vì sự chấp ngã, chấp ngã sở, và mạn tiềm miên đã được Tôn giả
Sāriputta nhổ bỏ hoàn toàn từ
lâu nên những ý nghĩ ấy đã không
nảy sinh trong tâm Ngài.”
Tám bài kinh tiếp theo từ SN. 28.1 tới SN. 28.9 có nội dung
tương tự như trên chỉ khác về
thiền chứng nên gom lại thành
một bài giảng và sử dụng bản
dịch của Hoà thượng Thích Minh
Châu.
Tương Ưng Sàriputta
I. Lý (S.iii,235)
1) Một thời Tôn giả Sàriputta trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), tại
Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông
Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
2) Rồi Tôn giả Sàriputta, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát,
đi vào Sàvatthi để khất thực.
3-4) Ði khất thực xong, sau buổi ăn, trên con đường đi khất
thực về, Tôn giả đi đến
Andhavana để nghỉ trưa. Sau khi
đi vào rừng Andha, Tôn giả đến
ngồi nghỉ trưa dưới một gốc cây.
5) Rồi Tôn giả Sàriputta, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư
đứng dậy, đi đến Jetavana, vườn
ông Anàthapindika.
6) Tôn giả Ananda thấy Tôn giả Sàariputta từ xa đi đến; sau
khi thấy, liền nói với Tôn giả
Sàriputta:
-- Hiền giả Sàriputta, các căn của Hiền giả lắng dịu, sắc
mặt được thanh tịnh, trong sáng.
Hôm nay, Hiền giả an trú với sự
an trú nào?
7) -- Ở đây, này Hiền giả, ly dục, ly pháp bất thiện, tôi
chứng đạt và an trú Thiền thứ
nhất, một trạng thái hỷ lạc do
ly dục sanh, có tầm, có tứ. Này
Hiền giả, tôi không khởi lên ý
nghĩ: "Tôi đang chứng nhập Thiền
thứ nhất", hay "Tôi đã chứng
nhập Thiền thứ nhất", hay "Tôi
đã ra khỏi Thiền thứ nhất".
8) -- Như vậy chắc chắn Hiền giả trong một thời gian dài, đã
khéo nhổ tận gốc các tùy miên
ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn.
Do vậy, Tôn giả Sàriputta không
khởi lên ý nghĩ: "Tôi đang chứng
nhập Thiền thứ nhất", hay "Tôi
đã chứng nhập Thiền thứ nhất",
hay "Tôi đã ra khỏi Thiền thứ
nhất".
II. Không Tầm
1-5) Một thời Tôn giả Sàriputta trú ở Sàvatthi...
6) Tôn giả Ananda thấy Tôn giả Sàriputta từ xa đi đến; sau
khi thấy, liền nói với Tôn giả
Sàriputta:
-- Hiền giả Sàriputta, các căn của Hiền giả lắng dịu, sắc
mặt được thanh tịnh, trong sáng.
Hôm nay Hiền giả an trú với sự
an trú nào?
7) -- Ở đây, này Hiền giả, làm cho lắng dịu tầm và tứ, tôi
chứng đạt và an trú Thiền thứ
hai, một trạng thái hỷ lạc do
định sanh, không tầm, không tứ,
nội tĩnh nhứt tâm. Tôi không có
khởi lên ý nghĩ: "Tôi đang chứng
nhập Thiền thứ hai", hay "Tôi đã
chứng nhập Thiền thứ hai", hay
"Tôi đã ra khỏi Thiền thứ hai".
8) -- Như vậy, chắc chắn Hiền giả trong một thời gian dài,
đã khéo nhổ tận gốc các tùy miên
ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn.
Do vậy, Tôn giả Sàriputta không
khởi lên ý nghĩ: "Tôi đang chứng
nhập Thiền thứ hai", hay "Tôi đã
chứng nhập Thiền thứ hai", hay
"Tôi đã ra khỏi Thiền thứ hai".
III. Hỷ
1-5) Một thời Tôn giả Sàriputta trú ở Savatthi...
6) Tôn giả Ananda thấy Tôn giả Sàriputta từ xa đi đến; sau
khi thấy, liền nói với Tôn giả
Sàriputta:
-- Hiền giả Sàriputta, các căn của Hiền giả lắng dịu, sắc
mặt được thanh tịnh, trong sáng.
Hôm nay Hiền giả an trú với sự
an trú nào?
7-8) -- Ở đây, này Hiền giả, ly hỷ và trú xả, chánh niệm
tỉnh giác, thân cảm lạc thọ mà
các bậc Thánh gọi là: "Xả niệm
lạc trú", tôi chứng đạt và an
trú Thiền thứ ba. Này Hiền giả,
tôi không khởi lên ý nghĩ: "Tôi
đang chứng nhập Thiền thứ ba",
hay "Tôi đã chứng nhập Thiền thứ
ba", hay "Tôi đã ra khỏi Thiền
thứ ba".
-- Như vậy, chắc chắn Hiền giả trong một thời gian... hay
"Tôi đã ra khỏi Thiền thứ ba".
IV. Xả
1-5) Một thời Tôn giả Sàriputta trú ở Sàvatthi...
6) Tôn giả Ananda thấy Tôn giả Sàriputta từ xa đi đến... với
sự an trú nào?
7) -- Ở đây, này Hiền giả, xả lạc và xả khổ, diệt hỷ ưu đã
cảm thọ từ trước, tôi chứng đạt
và an trú Thiền thứ tư, không
khổ, không lạc, xả niệm thanh
tịnh. Này Hiền giả, tôi không
khởi lên ý nghĩ: "Tôi đang chứng
nhập Thiền thứ tư", hay "Tôi đã
chứng nhập Thiền thứ tư", hay
"Tôi đã ra khỏi Thiền thứ tư".
8) -- Như vậy, chắc chắn Hiền giả... hay "Tôi đã ra khỏi
Thiền thứ tư".
V. Không Vô Biên Xứ
1-6) Một thời Tôn giả Sàriputta trú ở Sàvatthi...
... Tôn giả Ananda thấy... với sự an trú nào?
7-8) -- Ở đây, này Hiền giả, vượt lên hoàn toàn sắc tưởng,
đoạn diệt hữu đối tưởng, không
tác ý các dị tưởng, với ý nghĩ:
"Hư không là vô biên", tôi chứng
đạt và an trú Không vô biên xứ.
Này Hiền giả, tôi không khởi lên
ý nghĩ... hay "Tôi đã ra khỏi
Không vô biên xứ".
-- Như vậy, chắc chắn Hiền giả... "Tôi đã ra khỏi Không vô
biên xứ".
VI. Thức Vô Biên Xứ
1-6) Một thời, Tôn giả Sàriputta trú ở Sàvatthi...
... Tôn giả Ananda thấy... với sự an trú nào?
7-8) -- Ở đây, này Hiền giả, vượt qua hoàn toàn Không vô
biên xứ, với ý nghĩ: "Thức là vô
biên", tôi chứng đạt và an trú
Thức vô biên xứ... hay "... đã
ra khỏi Thức vô biên xứ".
VII. Vô Sở Hữu Xứ
1-6) Một thời Tôn giả Sàriputta trú ở Sàvatthi.
... Tôn giả Ananda thấy... với sự an trú nào?
7-8) -- Ở đây, này Hiền giả, vượt qua hoàn toàn Thức vô biên
xứ, với ý nghĩ: "Không có vật
gì", tôi chứng đạt và an trú Vô
sở hữu xứ... hay "... đã ra khỏi
Vô sở hữu xứ".
VIII. Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ
1-6) Một thời, Tôn giả Sàriputta trú ở Sàvatthi.
... Tôn giả Ananda thấy... với sự an trú nào?
7-8) -- Ở đây, này Hiền giả, vượt qua hoàn toàn Vô sở hữu
xứ, tôi chứng đạt và an trú Phi
tưởng phi phi tưởng xứ... hay
"... đã ra khỏi Phi tưởng phi
phi tưởng xứ".
IX. Diệt Tận Ðịnh (Tạp
18, Ðại 2, 131) (S.iii,238)
1-6) Một thời Tôn giả Sàriputta trú ở Sàvatthi...
... Tôn giả Ananda thấy... với sự an trú nào?
7-8) -- Ở đây, này Hiền giả, vượt qua hoàn toàn Phi tưởng
phi phi tưởng xứ, tôi chứng đạt
và an trú Diệt thọ tưởng định.
Nhưng này Hiền giả, tôi không
khởi lên ý nghĩ: "Tôi đang chứng
nhập Diệt thọ tưởng định", hay "
Tôi đã chứng nhập Diệt thọ tưởng
định", hay "Tôi đã ra khỏi Diệt
thọ tưởng định".
-- Như vậy, chắc chắn Hiền giả trong một thời gian dài đã
khéo nhổ tận gốc các tùy miên
ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn.
Do vậy Tôn giả Sàriputta không
khởi lên ý nghĩ: "Tôi đang chứng
nhập Diệt thọ tưởng định", hay
"Tôi đã chứng nhập Diệt thọ
tưởng định", hay "Tôi đã ra khỏi
Diệt thọ tưởng định".
Chú Thích
Tên kinh Vivekaja có nghĩa là “sanh ra từ độc cư” chỉ cho một người trong
trạng thái thân tâm thanh tịnh
vì vừa rời khỏi cảnh giới của
thiền tịnh độc cư. Không hiểu vì
sao bản dịch của Hoà thượng
Thích Minh Châu dịch là “Lý” (có
lẽ do sơ xuất khi đưa văn bản
vào vi tính.)
Câu “nhập và trú trong sơ thiền, với tầm và tứ, một trạng thái hỷ
lạc thanh tịnh do ly dục
sanh, tách biệt khỏi các trạng
thái bất thiện” là một cách mô
tả cổ điển chứ ở đây không có
nghĩa là tôn giả Sāriputta còn
các trạng thái bất thiện trong
tâm.
Chứng nhập một trạng thái thiền là thành tựu của chỉ (samatha) trong lúc
khả năng không chấp thủ đối với
những gì chứng đạt thuộc tuệ
giác của quán (vipassana). Tôn
giả Sāriputta được Đức Phật tán
thán là vị thiện xảo trong sự
hồi quán đối với những gì chứng
đạt bằng cái nhìn vô sở chấp.
Tỳ khưu Giác Đẳng
dịch vàbiên soạn giáo trình
Dưới đây là chánh văn Pāli cùng với bản Việt dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
Sớ Giải Các Bài Kinh Từ Kinh SN.
28.1 tới SN. 28.9
322-331. kilesasaṃyutte cittasseso
upakkilesoti kataracittassa? catubhūmakacittassa.
tebhūmakacittassa tāva hotu, lokuttarassa kathaṃ upakkileso
hotīti? uppattinivāraṇato. so hi tassa uppajjituṃ appadānena
upakkilesoti veditabbo. nekkhammaninnanti
navalokuttaradhammaninnaṃ. cittanti samathavipassanācittaṃ.
abhiññā sacchikaraṇīyesu dhammesūti paccavekkhaṇañāṇena
abhijānitvā sacchikātabbesu chaḷabhiññādhammesu, ekaṃ dhammaṃ vā
gaṇhantena nekkhammanti gahetabbaṃ. sesaṃ sabbattha
uttānamevāti.
Không có Sớ Giải riêng cho phẩm nầy
-ooOoo- |