|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 01 tháng 10, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 514. PHẬT LÀ THIỆN HỮU CỦA CHÚNG SANH - Kinh Một Nữa (Upaḍḍhasuttaṃ) ... .
Tác động và ảnh hưởng từ người thân cận rất lớn lao
đối với đời người. Điều nầy rõ nét hơn với người tu tập. Dù muốn
dù không thì mỗi người lớn lên luôn mang theo những di sản đón
nhận, hấp thụ từ cha mẹ, thầy tổ, gia đình, xã hội, văn hoá.
Những ai có được sự ảnh hưởng tích cực từ người thân là một
phước duyên lớn trong cuộc hành trình của kiếp nhân sinh.
Kinh Văn
2. Evaṃ me sutaṃ — ekaṃ samayaṃ bhagavā sakyesu viharati
nagarakaṃ nāma {nāgarakaṃ nāma (sī.), sakkaraṃ nāma (syā. ka.)}
sakyānaṃ nigamo. atha kho āyasmā ānando yena bhagavā
tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ
nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṃ
etadavoca — “upaḍḍhamidaṃ, bhante, brahmacariyaṃ, yadidaṃ —
kalyāṇamittatā kalyāṇasahāyatā kalyāṇasampavaṅkatā”ti.
“mā hevaṃ, ānanda, mā hevaṃ, ānanda! sakalamevidaṃ, ānanda,
brahmacariyaṃ, yadidaṃ — kalyāṇamittatā kalyāṇasahāyatā
kalyāṇasampavaṅkatā. kalyāṇamittassetaṃ, ānanda, bhikkhuno
pāṭikaṅkhaṃ kalyāṇasahāyassa kalyāṇasampavaṅkassa — ariyaṃ
aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ bhāvessati, ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ
bahulīkarissati.
“kathañcānanda, bhikkhu kalyāṇamitto kalyāṇasahāyo
kalyāṇasampavaṅko ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ bhāveti, ariyaṃ
aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ bahulīkaroti? idhānanda, bhikkhu sammādiṭṭhiṃ
bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ
vossaggapariṇāmiṃ; sammāsaṅkappaṃ bhāveti vivekanissitaṃ ... pe
... sammāvācaṃ bhāveti ... pe ... sammākammantaṃ bhāveti ... pe
... sammāājīvaṃ bhāveti ... pe ... sammāvāyāmaṃ bhāveti ... pe
... sammāsatiṃ bhāveti ... pe ... sammāsamādhiṃ bhāveti
vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ.
evaṃ kho, ānanda, bhikkhu kalyāṇamitto kalyāṇasahāyo
kalyāṇasampavaṅko ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ bhāveti, ariyaṃ
aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ bahulīkaroti.
“tadamināpetaṃ, ānanda, pariyāyena veditabbaṃ yathā
sakalamevidaṃ brahmacariyaṃ, yadidaṃ — kalyāṇamittatā
kalyāṇasahāyatā kalyāṇasampavaṅkatā. mamañhi, ānanda,
kalyāṇamittaṃ āgamma jātidhammā sattā jātiyā parimuccanti;
jarādhammā sattā jarāya parimuccanti; maraṇadhammā sattā
maraṇena parimuccanti; sokaparidevadukkhadomanassupāyāsadhammā
sattā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsehi parimuccanti. iminā
kho etaṃ, ānanda, pariyāyena veditabbaṃ yathā sakalamevidaṃ
brahmacariyaṃ, yadidaṃ — kalyāṇamittatā kalyāṇasahāyatā
kalyāṇasampavaṅkatā”ti. dutiyaṃ.2. Nửa đời sống phạm hạnh
Như vầy tôi nghe. Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân Sākya, tại một thị trấn
của người Sākya tên là Nāgaraka. Bấy giờ, Tôn giả Ānanda đi đến
Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên,
bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, (con nghĩ) có được thiện hữu, thiện pháp lữ, thiện đồng
hành là có một nửa đời sống phạm hạnh, ”
“Không phải vậy, Ānanda! Không phải vậy, Ānanda!
Có được thiện hữu, thiện pháp lữ, thiện đồng hành là có
được toàn phần phạm hạnh. Này Ānanda, khi một Tỳ khưu có thiện
hữu, thiện pháp lữ, thiện đồng hành, có thể chờ đợi rằng vị ấy
sẽ tu tập, hành trì Thánh Đạo Tám Chi Phần.
Và này Ānanda, thế nào là Tỳ khưu có thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện đồng
hành, tu tập và hành trì Thánh đạo Tám ngành? Ở đây, này Ānanda,
Tỳ khưu tu tập Chánh kiến, nương trên viễn ly, ly tham, đoạn
diệt, hướng đến an tịnh giải thoát.
Vị ấy tu tập Chánh tư duy … Chánh ngữ … Chánh nghiệp … Chánh mạng … Chánh
tinh tấn … Chánh niệm … Chánh định, nương trên viễn ly, ly tham,
đoạn diệt, hướng đến an tịnh giải thoát.
Chính bằng cách này, này Ānanda, Tỳ khưu có thiện hữu, thiện pháp lữ,
thiện đồng hành, tu tập và hành trì Thánh đạo Tám ngành.
Và cũng bằng phương pháp sau, này Ānanda, có thể hiểu được toàn bộ đời
sống phạm hạnh là thiện hữu, thiện pháp lữ, thiện đồng hành: do
nương tựa Ta như một thiện hữu, này Ānanda, các hữu tình chịu
sanh được giải thoát khỏi sanh; các hữu tình chịu già được giải
thoát khỏi già; các hữu tình chịu chết được giải thoát khỏi
chết; các hữu tình chịu sầu, bi, khổ, ưu, ai được giải thoát
khỏi sầu, bi, khổ, ưu, ai.
Bằng phương pháp này, này Ānanda, có thể hiểu được toàn bộ đời sống phạm
hạnh là thiện hữu, thiện pháp lữ, thiện đồng hành.”
Chú Thích
Sớ giải ghi là: Giống như đối với con cái, không thể nói “bao nhiêu phần
từ cha, bao nhiêu phần từ mẹ,” thì trong trường hợp này cũng
vậy. Không thể nói “bao nhiêu phần chánh kiến… do thiện hữu, bao
nhiêu phần do nỗ lực bản thân.” Đức Phật nói rằng: “Bốn Thánh
đạo, bốn Thánh quả… tất cả đều đặt nền tảng trên thiện hữu.”
Có một số giải thích ý nghĩa của bài kinh nầy là “lấy thiện pháp làm bạn
lành”, thực sự thì kalyāṇamitta - bạn lành ở đây chỉ cho
sự thân cận, gắn kết với người tốt mà “Đức Phật là bạn lành tối
thượng của chúng sanh hành trình thoát khổ”
Ngay cả sau khi Đức Phật đã viên tịch nhưng “Pháp và Luật đã được Đức Phật
truyền dạy là Thầy của những thế hệ mai hậu” thì sự y chỉ ở
Pháp, ở Phật vẫn được xem là “Có Phật là thiện hữu” trong cuộc
sống.
Theo Sớ giải, viễn ly (viveka)
theo năm cách:
1.
Tadaṅga-viveka: viễn ly “từng phần” – tạm thời, qua
hành thiền quán.
2.
Vikkhambhana-viveka: viễn ly bằng “đè nén” – tạm thời, qua chứng đắc thiền định.
3.
Samuccheda-viveka: viễn ly bằng “nhổ tận gốc” – vĩnh viễn, qua Đạo siêu thế.
4.
Paṭippassaddhi-viveka: viễn ly bằng “an tịnh” – vĩnh viễn,
trong Quả.
5.
Nissaraṇa-viveka: viễn ly bằng “thoát ly” – vĩnh viễn, ở
Niết-bàn.
Vị hành giả khi phát triển Thánh đạo:
Theo Sớ giải, “vossagga” (xả, buông bỏ)
có hai loại:
1.
Xả như từ bỏ (pariccāga): buông bỏ phiền não –
§
theo tadaṅga (tạm thời, trong tuệ quán),
§
theo samuccheda (nhổ tận gốc, ở Đạo siêu thế).
2.
Xả như thâm nhập (pakkhandana): chứng ngộ
Niết-bàn –
§
bằng khuynh hướng (tad-ninnabhāva) trong tuệ quán,
§
bằng cách lấy Niết-bàn làm đối tượng (ārammaṇa) ở thời điểm chứng Đạo.
Bản Sớ giải kinh nầy dùng chung với bài kinh trước nên một vài chú thích
lấy ở bản Sớ giải những bài kinh sau.
Sớ Giải
1-2. mahāvaggassa paṭhame pubbaṅgamāti sahajātavasena ca
upanissayavasena cāti dvīhākārehi pubbaṅgamā. samāpattiyāti
samāpajjanāya sabhāvapaṭilābhāya, uppattiyāti attho. anvadeva
ahirikaṃ anottappanti sā panesā yadetaṃ alajjanākārasaṇṭhikaṃ
ahirikaṃ, abhāyanākārasaṇṭhitañca anottappaṃ, etaṃ anudeva
saheva ekatova, na vinā tena uppajjatīti attho. avijjāgatassāti
avijjāya upagatassa samannāgatassa. micchādiṭṭhīti
ayāthāvadiṭṭhi aniyyānikadiṭṭhi. pahotīti hoti uppajjati.
micchāsaṅkappādīsupi ayāthāvāniyyānikavaseneva micchābhāvo
veditabbo. iti imāni aṭṭhapi akusaladhammasamāpattiyā
micchattāṅgāni nāma honti. tāni pana na ekakkhaṇe sabbāni
labbhanti, nānakkhaṇe labbhanti.
Kathaṃ? yadā hi diṭṭhisampayuttacittaṃ kāyaviññattiṃ
samuṭṭhāpentaṃ uppajjati, tadā micchādiṭṭhi micchāsaṅkappo
micchāvāyāmo micchāsati micchāsamādhi micchākammantoti cha
aṅgāni honti. yadā diṭṭhivippayuttaṃ, tadā micchādiṭṭhivajjāni
pañca. yadā tāneva dve vacīviññattiṃ samuṭṭhāpenti, tadā
micchākammantaṭṭhāne micchāvācāya saddhiṃ tāneva cha vā pañca
vā. ayaṃ ājīvo nāma kuppamāno kāyavacīdvāresuyeva aññatarasmiṃ
kuppati, na manodvāre. tasmā yadā ājīvasīsena tāneva cittāni
kāyavacīviññattiyo samuṭṭhāpenti, tadā kāyakammaṃ micchājīvo
nāma hoti, tathā vacīkammanti micchājīvassa vasena tāneva cha vā
pañca vā. yadā pana viññattiṃ asamuṭṭhāpetvā tāni cittāni
uppajjanti, tadā
micchādiṭṭhimicchāsaṅkappamicchāvāyāmamicchāsatimicchāsamādhivasena
pañca vā, micchāsaṅkappādivasena cattāri vā hontīti evaṃ na
ekakkhaṇe sabbāni labbhanti, nānakkhaṇe labbhantīti.
Sukkapakkhe vijjāti kammassakatañāṇaṃ. ihāpi sahajātavasena
ca upanissayavasena cāti dvīhākārehi pubbaṅgamatā veditabbā.
hirottappanti hirī ca ottappañca. tattha lajjanākārasaṇṭhitā
hirī, bhāyanākārasaṇṭhitaṃ ottappaṃ. ayamettha saṅkhepo,
vitthāro pana visuddhimagge vuttova. vijjāgatassāti vijjāya
upagatassa samannāgatassa. viddasunoti viduno paṇḍitassa.
sammādiṭṭhīti yāthāvadiṭṭhi niyyānikadiṭṭhi. sammākammantādīsupi
eseva nayo. iti kusaladhammasamāpattiyā imāni aṭṭhaṅgāni honti,
tāni lokiyamaggakkhaṇe na ekato sabbāni labbhanti,
lokuttaramaggakkhaṇe pana labbhanti. tāni ca kho
paṭhamajjhānikamagge, dutiyajjhānikādīsu pana
sammāsaṅkappavajjāni satteva honti.
Tattha yo evaṃ vadeyya “yasmā majjhimanikāyamhi
mahāsaḷāyatanikasutte (ma. ni. 3.431) ‘yā tathābhūtassa diṭṭhi,
sāssa hoti sammādiṭṭhi. yo tathābhūtassa, saṅkappo, svāssa hoti
sammāsaṅkappo. yo tathābhūtassa vāyāmo, svāssa hoti sammāvāyāmo.
yā tathābhūtassa sati, svāssa hoti sammāsati. yo tathābhūtassa
samādhi, svāssa hoti sammāsamādhi. pubbeva kho panassa
kāyakammaṃ vacīkammaṃ ājīvo ca suparisuddho’ti vuttaṃ tasmā
pañcaṅgikopi lokuttaramaggo hotī”ti so vattabbo — tasmiṃyeva
sutte “evamassāyaṃ ariyo aṭṭhaṅgiko maggo bhāvanāpāripūriṃ
gacchatī”ti idaṃ kasmā na passasi? yaṃ panetaṃ “pubbeva kho
panassā”ti vuttaṃ, taṃ pabbajitadivasato paṭṭhāya
parisuddhabhāvadassanatthaṃ. pabbajitadivasato paṭṭhāya hi
parisuddhāni kāyakammādīni lokuttaramaggakkhaṇe atiparisuddhāni
hontīti ayamattho dīpito.
Yampi abhidhamme vuttaṃ “tasmiṃ kho pana samaye pañcaṅgiko
maggo hotī”ti (vibha. 212), taṃ ekaṃ kiccantaraṃ dassetuṃ
vuttaṃ. yasmiñhi kāle micchākammantaṃ pahāya sammākammantaṃ
pūreti, tasmiṃ kāle micchāvācā vā micchājīvo vā na hoti, diṭṭhi
saṅkappo vāyāmo sati samādhīti imesuyeva pañcasu kārakaṅgesu
sammākammanto pūrati. virativasena hi sammākammanto pūrati nāma.
sammāvācāsammāājīvesupi eseva nayo. iti imaṃ kiccantaraṃ
dassetuṃ evaṃ vuttaṃ. lokiyamaggakkhaṇe ca pañceva honti, virati
pana aniyatā. tasmā “chāṅgiko”ti avatvā “pañcaṅgiko”tveva
vuttaṃ. “yā ca, bhikkhave, ariyacittassa anāsavacittassa
ariyamaggasamaṅgino ariyamaggaṃ bhāvayato tīhi kāyaduccaritehi
ārati virati paṭivirati veramaṇī akiriyā akaraṇaṃ, ayaṃ
bhikkhave sammākammanto ariyo anāsavo lokuttaramaggo”ti (ma. ni.
3.139). evaṃ pana mahācattālīsakasuttādīsu anekesu suttesu
sammākammantādīnañca lokuttaramaggassa aṅgabhāvasiddhito
aṭṭhaṅgikova lokuttaramaggo hotīti veditabboti. imasmiṃ sutte
ayaṃ aṭṭhaṅgiko maggo lokiyalokuttaramissakova kathito. dutiyaṃ
kosalasaṃyutte vuttameva.
1–2. Mở đầu Mahāvagga (Đại Phẩm)
“Pubbaṅgamā” (tiên đạo, đi trước) nghĩa là đi trước theo hai cách:
“Samāpattiyā” (sự đạt được): nghĩa là đạt được, thành tựu một cách
bản chất.
“Uppattiyā”: nghĩa là sự sinh khởi.
“Anvadeva ahirikaṃ anottappaṃ” — nghĩa là hai thuộc tánh vô tàm (ahirika) và vô quý (anottappa):Ahirika
là trạng thái không biết hổ thẹn với việc ác. Anottappa là trạng
thái không sợ hãi đối với điều ác. Hai pháp này luôn đi kèm với
nhau, cùng sinh, không thể có cái này mà thiếu cái kia.
“Avijjāgatassa”: là người đã rơi vào vô minh, bị vô minh
bao phủ, có mặt vô minh.
“Micchādiṭṭhi”: là tà kiến, quan kiến không đúng như thật, không dẫn đến giải thoát.
“Pahoti”:
là sinh khởi, xuất hiện.
Tương tự như vậy, trong các pháp micchā-saṅkappa (tà tư duy) và các yếu tố
tiếp theo, trạng thái “micchā” (sai lệch, tà) cũng nên hiểu là
không đúng như thật, không đưa đến giải thoát.
Như vậy, tám chi phần này là các chi phần tà đạo (micchā-aṅga) của con
đường bất thiện. Tuy nhiên, chúng không sinh khởi đồng thời
trong cùng một sát-na tâm, mà xuất hiện vào các thời điểm khác
nhau. Ví dụ: Khi tâm có tà kiến khởi lên cùng với sự phát động
của thân hành (kāyaviññatti), thì sẽ có sáu chi phần tà đồng
thời khởi sinh: Tà kiến thi sanh khởi tà tư duy, tà tinh tấn, tà
niệm, tà định, tà nghiệp (qua thân).
Khi tâm không có tà kiến, thì chỉ còn năm chi phần tà khởi sinh. Khi tâm
tác động thân hành và khẩu hành, thì có thể có sự thay đổi giữa
tà nghiệp và tà ngữ. Trong trường hợp không có phát động hành
vi, mà chỉ có tâm khởi sinh, thì có thể có năm hoặc bốn chi phần
tà như: Tà tư duy, tà tinh tấn, tà niệm, tà định,
Do đó, không phải tất cả tám yếu tố
tà cùng khởi sinh một lúc, mà chúng phát sinh ở những thời điểm
khác nhau.
Về mặt thiện pháp:
“Vijjā” ở đây là trí tuệ hiểu về nghiệp và quả
của nghiệp (kammassakatā-ñāṇa). Và ở đây cũng nên hiểu là vijjā
đi trước theo hai cách: đồng sinh (sahajāta) và tác động
(upanissaya)
Hiri-ottappa (tàm và quý) là: Hiri: biết hổ thẹn, có đặc tính là xấu hổ
trước việc xấu và Ottappa: biết sợ hãi, có đặc tính là lo sợ hậu
quả ác nghiệp
“Vijjāgatassa”: nghĩa là người có mặt trí tuệ, được trí tuệ hướng dẫn.
“Viddasuno”: nghĩa là người trí, bậc có hiểu biết sâu sắc.
“Sammādiṭṭhi”: là chánh kiến, tức là quan kiến đúng như thật, dẫn đến giải thoát.
Các chi phần như chánh nghiệp, chánh ngữ, chánh mạng… cũng theo cách phân
tích tương tự. Các yếu tố này là tám chi phần của thiện pháp
(kusaladhamma).
Tuy nhiên trong diễn trình tâm hiệp thế (lokiya-magga-khaṇa), chúng không
khởi sinh đồng thời.
Trong diễn trình tâm siêu thế (lokuttara-magga-khaṇa), thì chúng khởi sinh
đồng thời. Cụ thể hơn, trong tầng thiền đầu tiên, tám yếu tố đều
có mặt. Nhưng trong tầng thiền thứ hai trở đi, chánh tư duy
(sammā-saṅkappa) không còn, nên chỉ còn bảy yếu tố.
Giải thích các điểm nghi vấn:
Có người nói rằng: “Trong bài kinh Mahāsaḷāyatanika (TrTr 3.431):
Trả lời: Trong chính bài kinh đó, cũng có câu: “Như vậy, Bát Chánh Đạo đi
đến sự thành tựu viên mãn nhờ tu tập.”
Nếu vậy, sao lại không
thấy đoạn này?
Câu “trước đó, thân nghiệp, khẩu nghiệp và mạng sống đã được thanh tịnh” —
Trong Thắng Pháp (Abhidhamma), đoạn nói: “Trong sát-na đó, chỉ có năm yếu
tố của tám chi đạo có mặt”
được nói để chỉ ra sự khác biệt trong chức năng. Khi một
người từ bỏ tà nghiệp, thành tựu chánh nghiệp, thì trong thời
điểm đó không có tà ngữ, tà mạng, mà chỉ có năm yếu tố còn lại:
Trong đó, chánh nghiệp được thành tựu nhờ vào từ bỏ ác nghiệp. Tương tự,
chánh ngữ, chánh mạng cũng như vậy. (ba thuộc tánh kiêng
tránh là chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng không thể đồng sanh
trong tâm hiệp thế - chú thích của người dịch)
Do đó, để chỉ ra chức năng đặc biệt này, nên nói là “năm chi phần”, chứ
không phải “tám”. Ví dụ trong kinh: “Này các Tỳ-khưu, đối với
bậc Thánh với tâm không lậu hoặc, hành giả đang tu tập đạo, thì
việc từ bỏ ba ác nghiệp thân hành là: không làm, không tạo,
không hành xử — đó là chánh nghiệp siêu thế, vô lậu.”
Trong nhiều bài kinh khác như Mahācattārīsakasutta, cũng chứng minh rằng
chánh nghiệp và các yếu tố khác là chi phần của Đạo siêu thế, và
do vậy Bát Chánh Đạo trọn vẹn
là con đường siêu thế, chứ không phải chỉ năm hay
sáu yếu tố.
Trong bài kinh này, Bát Chánh Đạo được giảng giải với cả hai phạm trù: Thế
gian (lokiya) và Siêu thế (lokuttara) Tương tự như cách đã nói
trong chương Kosalasaṁyutta.
Tương Ưng Ðạo (a)
-ooOoo-
I. Phẩm Vô Minh
2.II. Một Nửa (Upaddham)
(S.v,1)
1) Một thời, Thế Tôn trú giữa các dân chúng Sakka, tại thị trấn
của dân chúng Sakka tên là Sakkara.
2) Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế
Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ananda bạch
Thế Tôn:
-- Một nửa Phạm hạnh này, bạch Thế Tôn, là thiện bạn hữu
(kalyàsamittatà), thiện bạn đãng (kalyànasahàyatà), thiện thân
tình (kalyàsam-pavankatà).
3) -- Chớ có nói vậy, này Ananda! Chớ có nói vậy, này Ananda!
Toàn bộ Phạm hạnh này, này Ananda, là thiện bạn hữu, thiện bạn
đãng, thiện thân tình. Với Tỳ khưu thiện bạn hữu, thiện bạn
đãng, thiện thân tình, này Ananda, thời được chờ đợi Thánh đạo
Tám ngành được tu tập, Thánh đạo Tám ngành được làm cho viên
mãn.
4) Và này Ananda, thế nào là Tỳ khưu thiện bạn hữu, thiện bạn
đãng, thiện thân tình, tu tập và làm cho viên mãn Thánh đạo Tám
ngành? Ở đây, này Ananda, Tỳ khưu tu tập chánh tri kiến liên hệ
đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng
đến từ bỏ. Tỳ khưu tu tập chánh tư duy... tu tập chánh ngữ... tu
tập chánh nghiệp... tu tập chánh mạng... tu tập chánh tinh
tấn... tu tập chánh niệm... tu tập chánh định liên hệ đến viễn
ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.
Như vậy, này Ananda, là Tỳ khưu thiện bạn hữu, thiện bạn đãng,
thiện thân tình, tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn
Thánh đạo Tám ngành.
5) Này Ananda, chính với pháp môn này, các Ông cần phải hiểu thế
nào toàn bộ Phạm hạnh này là thiện bạn hữu, thiện bạn đãng,
thiện thân tình. Do Ta lấy thiện làm bạn hữu, này Ananda, nên
các chúng sanh bị sanh được giải thoát khỏi sanh; các chúng sanh
bị già được giải thoát khỏi già; các chúng sanh bị chết được
giải thoát khỏi chết; các chúng sanh bị sầu, bi, khổ, ưu, não
được giải thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não. Chính với pháp môn
này, này Ananda, các Ông cần phải hiểu thế nào toàn bộ Phạm hạnh
này là thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình. ooOoo |