BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Tư, ngày 01 tháng 10, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 45, Tương Ưng Đạo. SN 45.2
Bài 514. PHẬT LÀ THIỆN HỮU CỦA CHÚNG SANH - Kinh Một Nữa (Upaḍḍhasuttaṃ)

... .
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-514.jpg
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png
Tác động và ảnh hưởng từ người thân cận rất lớn lao đối với đời người. Điều nầy rõ nét hơn với người tu tập. Dù muốn dù không thì mỗi người lớn lên luôn mang theo những di sản đón nhận, hấp thụ từ cha mẹ, thầy tổ, gia đình, xã hội, văn hoá. Những ai có được sự ảnh hưởng tích cực từ người thân là một phước duyên lớn trong cuộc hành trình của kiếp nhân sinh.

Kinh Văn

2. Evaṃ me sutaṃ — ekaṃ samayaṃ bhagavā sakyesu viharati nagarakaṃ nāma {nāgarakaṃ nāma (sī.), sakkaraṃ nāma (syā. ka.)} sakyānaṃ nigamo. atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṃ etadavoca — “upaḍḍhamidaṃ, bhante, brahmacariyaṃ, yadidaṃ — kalyāṇamittatā kalyāṇasahāyatā kalyāṇasampavaṅkatā”ti.

“mā hevaṃ, ānanda, mā hevaṃ, ānanda! sakalamevidaṃ, ānanda, brahmacariyaṃ, yadidaṃ — kalyāṇamittatā kalyāṇasahāyatā kalyāṇasampavaṅkatā. kalyāṇamittassetaṃ, ānanda, bhikkhuno pāṭikaṅkhaṃ kalyāṇasahāyassa kalyāṇasampavaṅkassa — ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ bhāvessati, ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ bahulīkarissati.

“kathañcānanda, bhikkhu kalyāṇamitto kalyāṇasahāyo kalyāṇasampavaṅko ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ bhāveti, ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ bahulīkaroti? idhānanda, bhikkhu sammādiṭṭhiṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ; sammāsaṅkappaṃ bhāveti vivekanissitaṃ ... pe ... sammāvācaṃ bhāveti ... pe ... sammākammantaṃ bhāveti ... pe ... sammāājīvaṃ bhāveti ... pe ... sammāvāyāmaṃ bhāveti ... pe ... sammāsatiṃ bhāveti ... pe ... sammāsamādhiṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ. evaṃ kho, ānanda, bhikkhu kalyāṇamitto kalyāṇasahāyo kalyāṇasampavaṅko ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ bhāveti, ariyaṃ aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ bahulīkaroti.

“tadamināpetaṃ, ānanda, pariyāyena veditabbaṃ yathā sakalamevidaṃ brahmacariyaṃ, yadidaṃ — kalyāṇamittatā kalyāṇasahāyatā kalyāṇasampavaṅkatā. mamañhi, ānanda, kalyāṇamittaṃ āgamma jātidhammā sattā jātiyā parimuccanti; jarādhammā sattā jarāya parimuccanti; maraṇadhammā sattā maraṇena parimuccanti; sokaparidevadukkhadomanassupāyāsadhammā sattā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsehi parimuccanti. iminā kho etaṃ, ānanda, pariyāyena veditabbaṃ yathā sakalamevidaṃ brahmacariyaṃ, yadidaṃ — kalyāṇamittatā kalyāṇasahāyatā kalyāṇasampavaṅkatā”ti. dutiyaṃ.2. Nửa đời sống phạm hạnh

Như vầy tôi nghe. Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân Sākya, tại một thị trấn của người Sākya tên là Nāgaraka. Bấy giờ, Tôn giả Ānanda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên, bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, (con nghĩ) có được thiện hữu, thiện pháp lữ, thiện đồng hành là có một nửa đời sống phạm hạnh, ”

“Không phải vậy, Ānanda! Không phải vậy, Ānanda!  Có được thiện hữu, thiện pháp lữ, thiện đồng hành là có được toàn phần phạm hạnh. Này Ānanda, khi một Tỳ khưu có thiện hữu, thiện pháp lữ, thiện đồng hành, có thể chờ đợi rằng vị ấy sẽ tu tập, hành trì Thánh Đạo Tám Chi Phần.

Và này Ānanda, thế nào là Tỳ khưu có thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện đồng hành, tu tập và hành trì Thánh đạo Tám ngành? Ở đây, này Ānanda, Tỳ khưu tu tập Chánh kiến, nương trên viễn ly, ly tham, đoạn diệt, hướng đến an tịnh giải thoát.

Vị ấy tu tập Chánh tư duy … Chánh ngữ … Chánh nghiệp … Chánh mạng … Chánh tinh tấn … Chánh niệm … Chánh định, nương trên viễn ly, ly tham, đoạn diệt, hướng đến an tịnh giải thoát.

Chính bằng cách này, này Ānanda, Tỳ khưu có thiện hữu, thiện pháp lữ, thiện đồng hành, tu tập và hành trì Thánh đạo Tám ngành.

Và cũng bằng phương pháp sau, này Ānanda, có thể hiểu được toàn bộ đời sống phạm hạnh là thiện hữu, thiện pháp lữ, thiện đồng hành: do nương tựa Ta như một thiện hữu, này Ānanda, các hữu tình chịu sanh được giải thoát khỏi sanh; các hữu tình chịu già được giải thoát khỏi già; các hữu tình chịu chết được giải thoát khỏi chết; các hữu tình chịu sầu, bi, khổ, ưu, ai được giải thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu, ai.

Bằng phương pháp này, này Ānanda, có thể hiểu được toàn bộ đời sống phạm hạnh là thiện hữu, thiện pháp lữ, thiện đồng hành.”

Chú Thích

Kalyāṇamittatā, kalyāṇasahāyatā, kalyāṇasampavaṅkatā: cả ba đều đồng nghĩa tuy vậy trong nghĩa đen thì kalyāṇamittatā nghĩa là bạn hữu tốt (tiếng Anh là good friend), kalyāṇasahāyatā là bạn đồng hành tốt (good companion), kalyāṇasampavaṅkatā là bạn cùng chí hướng (good comrade). Theo Sớ giải, khi ở nơi tĩnh lặng, Tôn giả Ānanda nghĩ rằng: “Hạnh tu của một vị sa-môn thành công nhờ dựa vào thiện hữu và vào nỗ lực tinh tấn của chính mình, do đó một nửa tùy thuộc vào thiện hữu, một nửa tùy thuộc vào nỗ lực của bản thân.” Thực ra, kalyāṇamitta với tư cách danh từ độc lập có nghĩa là “thiện hữu” – người bạn tâm linh, đưa ra lời khuyên, hướng dẫn, khích lệ. Nhưng khi đi kèm bhikkhu, nó là một bahubbīhi-samāsa (hợp từ tính từ), nghĩa là: “một Tỳ khưu có thiện hữu” (yassa bhikkhuno kalyāṇamittaṃ hoti → so kalyāṇamittabhikkhu).

Sớ giải ghi là: Giống như đối với con cái, không thể nói “bao nhiêu phần từ cha, bao nhiêu phần từ mẹ,” thì trong trường hợp này cũng vậy. Không thể nói “bao nhiêu phần chánh kiến… do thiện hữu, bao nhiêu phần do nỗ lực bản thân.” Đức Phật nói rằng: “Bốn Thánh đạo, bốn Thánh quả… tất cả đều đặt nền tảng trên thiện hữu.”

Có một số giải thích ý nghĩa của bài kinh nầy là “lấy thiện pháp làm bạn lành”, thực sự thì kalyāṇamitta - bạn lành ở đây chỉ cho sự thân cận, gắn kết với người tốt mà “Đức Phật là bạn lành tối thượng của chúng sanh hành trình thoát khổ”

Ngay cả sau khi Đức Phật đã viên tịch nhưng “Pháp và Luật đã được Đức Phật truyền dạy là Thầy của những thế hệ mai hậu” thì sự y chỉ ở Pháp, ở Phật vẫn được xem là “Có Phật là thiện hữu” trong cuộc sống.

Theo Sớ giải, viễn ly (viveka) theo năm cách:

1.    Tadaṅga-viveka: viễn ly “từng phần” – tạm thời, qua hành thiền quán.

2.    Vikkhambhana-viveka: viễn ly bằng “đè nén” – tạm thời, qua chứng đắc thiền định.

3.    Samuccheda-viveka: viễn ly bằng “nhổ tận gốc” – vĩnh viễn, qua Đạo siêu thế.

4.    Paṭippassaddhi-viveka: viễn ly bằng “an tịnh” – vĩnh viễn, trong Quả.

5.    Nissaraṇa-viveka: viễn ly bằng “thoát ly” – vĩnh viễn, ở Niết-bàn.

Vị hành giả khi phát triển Thánh đạo:

    • Lúc tuệ quán: phát triển Chánh kiến nương viễn ly từng phần (tadaṅga) như công năng, và nương viễn ly thoát ly (nissaraṇa) như khuynh hướng (vì hướng đến Niết-bàn).
    • Lúc chứng Đạo: phát triển Chánh kiến nương viễn ly tận diệt (samuccheda) như công năng, và nương viễn ly thoát ly (nissaraṇa) như đối tượng (vì Đạo lấy Niết-bàn làm đối tượng).
    • Cách giải thích này cũng áp dụng tương tự cho “nương ly tham” (virāga-nissita) và “nương đoạn diệt” (nirodha-nissita).

Theo Sớ giải, “vossagga” (xả, buông bỏ) có hai loại:

1.    Xả như từ bỏ (pariccāga): buông bỏ phiền não –

§  theo tadaṅga (tạm thời, trong tuệ quán),

§  theo samuccheda (nhổ tận gốc, ở Đạo siêu thế).

2.    Xả như thâm nhập (pakkhandana): chứng ngộ Niết-bàn –

§  bằng khuynh hướng (tad-ninnabhāva) trong tuệ quán,

§  bằng cách lấy Niết-bàn làm đối tượng (ārammaṇa) ở thời điểm chứng Đạo.

  • Đạo được gọi là “vossaggapariṇāmi” (chín muồi trong xả) vì:
    • nó trưởng thành hướng đến xả (buông bỏ lậu hoặc),
    • và chín muồi trong xả (nhập Niết-bàn).
  • Khi dịch “vossagga” là “giải thoát, buông bỏ”, nên hiểu là hành động buông bỏ hoặc tình trạng đã buông bỏ, chứ không phải trải nghiệm tự do. Nó gần nghĩa với Niết-bàn – mục đích của đạo lộ.
  • Liên hệ:
    • Paṭinissagga (xả ly, phóng xả) thường xuất hiện trong giai đoạn tuệ quán, nghĩa là loại bỏ phiền não nhờ quán vô thường.
    • Vossagga (xả, buông bỏ hoàn toàn) là tình trạng chín muồi khi tất cả chấp thủ đã đoạn tận, gần nghĩa với Niết-bàn.

Bản Sớ giải kinh nầy dùng chung với bài kinh trước nên một vài chú thích lấy ở bản Sớ giải những bài kinh sau.

Sớ Giải

1-2. mahāvaggassa paṭhame pubbaṅgamāti sahajātavasena ca upanissayavasena cāti dvīhākārehi pubbaṅgamā. samāpattiyāti samāpajjanāya sabhāvapaṭilābhāya, uppattiyāti attho. anvadeva ahirikaṃ anottappanti sā panesā yadetaṃ alajjanākārasaṇṭhikaṃ ahirikaṃ, abhāyanākārasaṇṭhitañca anottappaṃ, etaṃ anudeva saheva ekatova, na vinā tena uppajjatīti attho. avijjāgatassāti avijjāya upagatassa samannāgatassa. micchādiṭṭhīti ayāthāvadiṭṭhi aniyyānikadiṭṭhi. pahotīti hoti uppajjati. micchāsaṅkappādīsupi ayāthāvāniyyānikavaseneva micchābhāvo veditabbo. iti imāni aṭṭhapi akusaladhammasamāpattiyā micchattāṅgāni nāma honti. tāni pana na ekakkhaṇe sabbāni labbhanti, nānakkhaṇe labbhanti.

Kathaṃ? yadā hi diṭṭhisampayuttacittaṃ kāyaviññattiṃ samuṭṭhāpentaṃ uppajjati, tadā micchādiṭṭhi micchāsaṅkappo micchāvāyāmo micchāsati micchāsamādhi micchākammantoti cha aṅgāni honti. yadā diṭṭhivippayuttaṃ, tadā micchādiṭṭhivajjāni pañca. yadā tāneva dve vacīviññattiṃ samuṭṭhāpenti, tadā micchākammantaṭṭhāne micchāvācāya saddhiṃ tāneva cha vā pañca vā. ayaṃ ājīvo nāma kuppamāno kāyavacīdvāresuyeva aññatarasmiṃ kuppati, na manodvāre. tasmā yadā ājīvasīsena tāneva cittāni kāyavacīviññattiyo samuṭṭhāpenti, tadā kāyakammaṃ micchājīvo nāma hoti, tathā vacīkammanti micchājīvassa vasena tāneva cha vā pañca vā. yadā pana viññattiṃ asamuṭṭhāpetvā tāni cittāni uppajjanti, tadā micchādiṭṭhimicchāsaṅkappamicchāvāyāmamicchāsatimicchāsamādhivasena pañca vā, micchāsaṅkappādivasena cattāri vā hontīti evaṃ na ekakkhaṇe sabbāni labbhanti, nānakkhaṇe labbhantīti.

Sukkapakkhe vijjāti kammassakatañāṇaṃ. ihāpi sahajātavasena ca upanissayavasena cāti dvīhākārehi pubbaṅgamatā veditabbā. hirottappanti hirī ca ottappañca. tattha lajjanākārasaṇṭhitā hirī, bhāyanākārasaṇṭhitaṃ ottappaṃ. ayamettha saṅkhepo, vitthāro pana visuddhimagge vuttova. vijjāgatassāti vijjāya upagatassa samannāgatassa. viddasunoti viduno paṇḍitassa. sammādiṭṭhīti yāthāvadiṭṭhi niyyānikadiṭṭhi. sammākammantādīsupi eseva nayo. iti kusaladhammasamāpattiyā imāni aṭṭhaṅgāni honti, tāni lokiyamaggakkhaṇe na ekato sabbāni labbhanti, lokuttaramaggakkhaṇe pana labbhanti. tāni ca kho paṭhamajjhānikamagge, dutiyajjhānikādīsu pana sammāsaṅkappavajjāni satteva honti.

Tattha yo evaṃ vadeyya “yasmā majjhimanikāyamhi mahāsaḷāyatanikasutte (ma. ni. 3.431) ‘yā tathābhūtassa diṭṭhi, sāssa hoti sammādiṭṭhi. yo tathābhūtassa, saṅkappo, svāssa hoti sammāsaṅkappo. yo tathābhūtassa vāyāmo, svāssa hoti sammāvāyāmo. yā tathābhūtassa sati, svāssa hoti sammāsati. yo tathābhūtassa samādhi, svāssa hoti sammāsamādhi. pubbeva kho panassa kāyakammaṃ vacīkammaṃ ājīvo ca suparisuddho’ti vuttaṃ tasmā pañcaṅgikopi lokuttaramaggo hotī”ti so vattabbo — tasmiṃyeva sutte “evamassāyaṃ ariyo aṭṭhaṅgiko maggo bhāvanāpāripūriṃ gacchatī”ti idaṃ kasmā na passasi? yaṃ panetaṃ “pubbeva kho panassā”ti vuttaṃ, taṃ pabbajitadivasato paṭṭhāya parisuddhabhāvadassanatthaṃ. pabbajitadivasato paṭṭhāya hi parisuddhāni kāyakammādīni lokuttaramaggakkhaṇe atiparisuddhāni hontīti ayamattho dīpito.

Yampi abhidhamme vuttaṃ “tasmiṃ kho pana samaye pañcaṅgiko maggo hotī”ti (vibha. 212), taṃ ekaṃ kiccantaraṃ dassetuṃ vuttaṃ. yasmiñhi kāle micchākammantaṃ pahāya sammākammantaṃ pūreti, tasmiṃ kāle micchāvācā vā micchājīvo vā na hoti, diṭṭhi saṅkappo vāyāmo sati samādhīti imesuyeva pañcasu kārakaṅgesu sammākammanto pūrati. virativasena hi sammākammanto pūrati nāma. sammāvācāsammāājīvesupi eseva nayo. iti imaṃ kiccantaraṃ dassetuṃ evaṃ vuttaṃ. lokiyamaggakkhaṇe ca pañceva honti, virati pana aniyatā. tasmā “chāṅgiko”ti avatvā “pañcaṅgiko”tveva vuttaṃ. “yā ca, bhikkhave, ariyacittassa anāsavacittassa ariyamaggasamaṅgino ariyamaggaṃ bhāvayato tīhi kāyaduccaritehi ārati virati paṭivirati veramaṇī akiriyā akaraṇaṃ, ayaṃ bhikkhave sammākammanto ariyo anāsavo lokuttaramaggo”ti (ma. ni. 3.139). evaṃ pana mahācattālīsakasuttādīsu anekesu suttesu sammākammantādīnañca lokuttaramaggassa aṅgabhāvasiddhito aṭṭhaṅgikova lokuttaramaggo hotīti veditabboti. imasmiṃ sutte ayaṃ aṭṭhaṅgiko maggo lokiyalokuttaramissakova kathito. dutiyaṃ kosalasaṃyutte vuttameva.

1–2. Mở đầu Mahāvagga (Đại Phẩm)

“Pubbaṅgamā” (tiên đạo, đi trước) nghĩa là đi trước theo hai cách:

  • theo đồng sinh (sahajātavasena) — nghĩa là cùng sinh khởi với các tâm sở bất thiện
  • và tác động (upanissayavasena) — tức là làm nhân duyên mạnh mẽ cho các pháp bất thiện khởi lên sau đó.

“Samāpattiyā” (sự đạt được): nghĩa là đạt được, thành tựu một cách bản chất.

“Uppattiyā”: nghĩa là sự sinh khởi.

“Anvadeva ahirikaṃ anottappaṃ” — nghĩa là hai thuộc tánh vô tàm (ahirika) và vô quý (anottappa):Ahirika là trạng thái không biết hổ thẹn với việc ác. Anottappa là trạng thái không sợ hãi đối với điều ác. Hai pháp này luôn đi kèm với nhau, cùng sinh, không thể có cái này mà thiếu cái kia.

“Avijjāgatassa”: là người đã rơi vào vô minh, bị vô minh bao phủ, có mặt vô minh.

“Micchādiṭṭhi”: là tà kiến, quan kiến không đúng như thật, không dẫn đến giải thoát.

“Pahoti”: là sinh khởi, xuất hiện.

Tương tự như vậy, trong các pháp micchā-saṅkappa (tà tư duy) và các yếu tố tiếp theo, trạng thái “micchā” (sai lệch, tà) cũng nên hiểu là không đúng như thật, không đưa đến giải thoát.

Như vậy, tám chi phần này là các chi phần tà đạo (micchā-aṅga) của con đường bất thiện. Tuy nhiên, chúng không sinh khởi đồng thời trong cùng một sát-na tâm, mà xuất hiện vào các thời điểm khác nhau. Ví dụ: Khi tâm có tà kiến khởi lên cùng với sự phát động của thân hành (kāyaviññatti), thì sẽ có sáu chi phần tà đồng thời khởi sinh: Tà kiến thi sanh khởi tà tư duy, tà tinh tấn, tà niệm, tà định, tà nghiệp (qua thân).

Khi tâm không có tà kiến, thì chỉ còn năm chi phần tà khởi sinh. Khi tâm tác động thân hành và khẩu hành, thì có thể có sự thay đổi giữa tà nghiệp và tà ngữ. Trong trường hợp không có phát động hành vi, mà chỉ có tâm khởi sinh, thì có thể có năm hoặc bốn chi phần tà như: Tà tư duy, tà tinh tấn, tà niệm, tà định,

 Do đó, không phải tất cả tám yếu tố tà cùng khởi sinh một lúc, mà chúng phát sinh ở những thời điểm khác nhau.

Về mặt thiện pháp:

“Vijjā” ở đây là trí tuệ hiểu về nghiệp và quả của nghiệp (kammassakatā-ñāṇa). Và ở đây cũng nên hiểu là vijjā đi trước theo hai cách: đồng sinh (sahajāta) và tác động (upanissaya)

Hiri-ottappa (tàm và quý) là: Hiri: biết hổ thẹn, có đặc tính là xấu hổ trước việc xấu và Ottappa: biết sợ hãi, có đặc tính là lo sợ hậu quả ác nghiệp

“Vijjāgatassa”: nghĩa là người có mặt trí tuệ, được trí tuệ hướng dẫn.

“Viddasuno”: nghĩa là người trí, bậc có hiểu biết sâu sắc.

“Sammādiṭṭhi”: là chánh kiến, tức là quan kiến đúng như thật, dẫn đến giải thoát.

Các chi phần như chánh nghiệp, chánh ngữ, chánh mạng… cũng theo cách phân tích tương tự. Các yếu tố này là tám chi phần của thiện pháp (kusaladhamma).

Tuy nhiên trong diễn trình tâm hiệp thế (lokiya-magga-khaṇa), chúng không khởi sinh đồng thời.

Trong diễn trình tâm siêu thế (lokuttara-magga-khaṇa), thì chúng khởi sinh đồng thời. Cụ thể hơn, trong tầng thiền đầu tiên, tám yếu tố đều có mặt. Nhưng trong tầng thiền thứ hai trở đi, chánh tư duy (sammā-saṅkappa) không còn, nên chỉ còn bảy yếu tố.

Giải thích các điểm nghi vấn:

Có người nói rằng: “Trong bài kinh Mahāsaḷāyatanika (TrTr 3.431):
‘Khi có quan kiến đúng như thật thì đó là chánh kiến; tư duy đúng như thật là chánh tư duy; nỗ lực đúng như thật là chánh tinh tấn…’ Và cũng nói: ‘Trước đó, thân nghiệp, khẩu nghiệp và mạng sống đã được thanh tịnh hoàn toàn’, vậy thì lẽ nào chỉ có năm yếu tố (pañcaṅgika magga)?”

Trả lời: Trong chính bài kinh đó, cũng có câu: “Như vậy, Bát Chánh Đạo đi đến sự thành tựu viên mãn nhờ tu tập.”  Nếu vậy, sao lại không thấy đoạn này?

Câu “trước đó, thân nghiệp, khẩu nghiệp và mạng sống đã được thanh tịnh” —
được nói nhằm cho thấy rằng từ ngày xuất gia, vị ấy đã giữ gìn thân khẩu ý trong sạch, và vào sát-na đạo siêu thế, chúng trở nên cực kỳ thanh tịnh.

Trong Thắng Pháp (Abhidhamma), đoạn nói: “Trong sát-na đó, chỉ có năm yếu tố của tám chi đạo có mặt”  được nói để chỉ ra sự khác biệt trong chức năng. Khi một người từ bỏ tà nghiệp, thành tựu chánh nghiệp, thì trong thời điểm đó không có tà ngữ, tà mạng, mà chỉ có năm yếu tố còn lại:

    • Chánh kiến
    • Chánh tư duy
    • Chánh tinh tấn
    • Chánh niệm
    • Chánh định

Trong đó, chánh nghiệp được thành tựu nhờ vào từ bỏ ác nghiệp. Tương tự, chánh ngữ, chánh mạng cũng như vậy. (ba thuộc tánh kiêng tránh là chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng không thể đồng sanh trong tâm hiệp thế - chú thích của người dịch)

Do đó, để chỉ ra chức năng đặc biệt này, nên nói là “năm chi phần”, chứ không phải “tám”. Ví dụ trong kinh: “Này các Tỳ-khưu, đối với bậc Thánh với tâm không lậu hoặc, hành giả đang tu tập đạo, thì việc từ bỏ ba ác nghiệp thân hành là: không làm, không tạo, không hành xử — đó là chánh nghiệp siêu thế, vô lậu.”

Trong nhiều bài kinh khác như Mahācattārīsakasutta, cũng chứng minh rằng chánh nghiệp và các yếu tố khác là chi phần của Đạo siêu thế, và do vậy Bát Chánh Đạo trọn vẹncon đường siêu thế, chứ không phải chỉ năm hay sáu yếu tố.

Trong bài kinh này, Bát Chánh Đạo được giảng giải với cả hai phạm trù: Thế gian (lokiya) và Siêu thế (lokuttara) Tương tự như cách đã nói trong chương Kosalasaṁyutta.

  Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tương Ưng Ðạo (a)

-ooOoo-

I. Phẩm Vô Minh

2.II. Một Nửa (Upaddham) (S.v,1)

1) Một thời, Thế Tôn trú giữa các dân chúng Sakka, tại thị trấn của dân chúng Sakka tên là Sakkara.

2) Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

-- Một nửa Phạm hạnh này, bạch Thế Tôn, là thiện bạn hữu (kalyàsamittatà), thiện bạn đãng (kalyànasahàyatà), thiện thân tình (kalyàsam-pavankatà).

3) -- Chớ có nói vậy, này Ananda! Chớ có nói vậy, này Ananda! Toàn bộ Phạm hạnh này, này Ananda, là thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình. Với Tỳ khưu thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình, này Ananda, thời được chờ đợi Thánh đạo Tám ngành được tu tập, Thánh đạo Tám ngành được làm cho viên mãn.

4) Và này Ananda, thế nào là Tỳ khưu thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình, tu tập và làm cho viên mãn Thánh đạo Tám ngành? Ở đây, này Ananda, Tỳ khưu tu tập chánh tri kiến liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Tỳ khưu tu tập chánh tư duy... tu tập chánh ngữ... tu tập chánh nghiệp... tu tập chánh mạng... tu tập chánh tinh tấn... tu tập chánh niệm... tu tập chánh định liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Như vậy, này Ananda, là Tỳ khưu thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình, tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành.

5) Này Ananda, chính với pháp môn này, các Ông cần phải hiểu thế nào toàn bộ Phạm hạnh này là thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình. Do Ta lấy thiện làm bạn hữu, này Ananda, nên các chúng sanh bị sanh được giải thoát khỏi sanh; các chúng sanh bị già được giải thoát khỏi già; các chúng sanh bị chết được giải thoát khỏi chết; các chúng sanh bị sầu, bi, khổ, ưu, não được giải thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não. Chính với pháp môn này, này Ananda, các Ông cần phải hiểu thế nào toàn bộ Phạm hạnh này là thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình.

ooOoo