BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Năm, ngày 02 tháng 10, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 45, Tương Ưng Đạo. SN 45.4
Bài 516. CỖ XE PHÁP - Kinh Bà-la-môn Jāṇussoṇi (Jāṇussoṇibrāhmaṇasuttaṃ)

... .
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-516.jpg
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png
Một cỗ xe vận hành là một kết hợp của nhiều cơ phận tạo thành một bộ máy. Bát chánh đạo với tám chi phần chánh kiến, chánh tư duy,  chánh ngữ, chánh nghiệp .. chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định cùng với những tố chất nội tại kết cấu thành một hệ thống tu tập. Phải hiểu sự kết cấu nầy với cái nhìn toàn diện chứ không thể chỉ chấp trì một pháp riêng lẻ. Đây là một đặt điểm của “Đạo” theo Phật Pháp.

Kinh Văn

 4. sāvatthinidānaṃ. atha kho āyasmā ānando pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṃ piṇḍāya pāvisi. addasā kho āyasmā ānando jāṇussoṇiṃ brāhmaṇaṃ sabbasetena vaḷavābhirathena {vaḷabhīrathena (sī.)} sāvatthiyā niyyāyantaṃ. setā sudaṃ assā yuttā honti setālaṅkārā, seto ratho, setaparivāro, setā rasmiyo, setā patodalaṭṭhi, setaṃ chattaṃ, setaṃ uṇhīsaṃ, setāni vatthāni, setā upāhanā, setāya sudaṃ vālabījaniyā bījīyati. tamenaṃ jano disvā evamāha — “brahmaṃ vata, bho, yānaṃ! brahmayānarūpaṃ vata, bho”ti!! Atha kho āyasmā ānando sāvatthiyaṃ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṃ piṇḍapātapaṭikkanto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṃ etadavoca — “idhāhaṃ, bhante, pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṃ piṇḍāya pāvisiṃ. addasaṃ khvāhaṃ, bhante, jāṇussoṇiṃ brāhmaṇaṃ sabbasetena vaḷavābhirathena sāvatthiyā niyyāyantaṃ. setā sudaṃ assā yuttā honti setālaṅkārā, seto ratho, setaparivāro, setā rasmiyo, setā patodalaṭṭhi, setaṃ chattaṃ, setaṃ uṇhīsaṃ, setāni vatthāni, setā upāhanā, setāya sudaṃ vālabījaniyā bījīyati. tamenaṃ jano disvā evamāha — ‘brahmaṃ vata, bho, yānaṃ! brahmayānarūpaṃ vata, bho’ti!! sakkā nu kho, bhante, imasmiṃ dhammavinaye brahmayānaṃ paññāpetun”ti? “sakkā, ānandā”ti bhagavā avoca — “imasseva kho etaṃ, ānanda, ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassa adhivacanaṃ — ‘brahmayānaṃ’ itipi, ‘dhammayānaṃ’ itipi, ‘anuttaro saṅgāmavijayo’ itipī”ti. “sammādiṭṭhi, ānanda, bhāvitā bahulīkatā rāgavinayapariyosānā hoti, dosavinayapariyosānā hoti, mohavinayapariyosānā hoti. sammāsaṅkappo, ānanda, bhāvito bahulīkato rāgavinayapariyosāno hoti, dosavinayapariyosāno hoti, mohavinayapariyosāno hoti. sammāvācā, ānanda, bhāvitā bahulīkatā rāgavinayapariyosānā hoti, dosa ... pe ... mohavinayapariyosānā hoti. sammākammanto, ānanda, bhāvito bahulīkato rāgavinayapariyosāno hoti, dosa... mohavinayapariyosāno hoti. sammāājīvo, ānanda, bhāvito bahulīkato rāgavinayapariyosāno hoti, dosa... mohavinayapariyosāno hoti. sammāvāyāmo, ānanda, bhāvito bahulīkato rāgavinayapariyosāno hoti, dosa... mohavinayapariyosāno hoti. sammāsati, ānanda, bhāvitā bahulīkatā rāgavinayapariyosānā hoti, dosa... mohavinayapariyosānā hoti. sammāsamādhi, ānanda, bhāvito bahulīkato rāgavinayapariyosāno hoti, dosa... mohavinayapariyosāno hoti. “iminā kho etaṃ, ānanda, pariyāyena veditabbaṃ yathā imassevetaṃ ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassa adhivacanaṃ — ‘brahmayānaṃ’ itipi, ‘dhammayānaṃ’ itipi, ‘anuttaro saṅgāmavijayo’ itipī”ti. idamavoca bhagavā. idaṃ vatvāna sugato athāparaṃ etadavoca satthā — “yassa saddhā ca paññā ca, dhammā yuttā sadā dhuraṃ. hirī īsā mano yottaṃ, sati ārakkhasārathi. “ratho sīlaparikkhāro, jhānakkho cakkavīriyo. upekkhā dhurasamādhi, anicchā parivāraṇaṃ. “abyāpādo avihiṃsā, viveko yassa āvudhaṃ. titikkhā cammasannāho {vammasannāho (sī.)}, yogakkhemāya vattati. “etadattani sambhūtaṃ, brahmayānaṃ anuttaraṃ. niyyanti dhīrā lokamhā, aññadatthu jayaṃ jayan”ti. catutthaṃ.

Duyên sự tại Sāvatthı̄.

Bấy giờ, vào buổi sáng, Tôn giả Ānanda mặc y, mang bát, đi vào Xá-vệ khất thực. Ngài thấy Bà-la-môn Jāṇussoṇi từ Xá-vệ đi ra trên một cỗ xe toàn trắng, kéo bởi những con ngựa cái. Những con ngựa đều trắng, các trang sức đều trắng, cỗ xe trắng, nệm phủ trắng, dây cương, roi ngựa, tán lọng đều trắng; khăn đội đầu, y phục, giày dép của ông đều trắng, và ông còn được quạt bằng phất trần trắng.

Dân chúng nhìn thấy liền nói: “Thật là xe thù thắng! Quả thật là một cỗ xe thù thắng!”

Sau khi khất thực tại Xá-vệ, rồi trở về, thọ thực xong, Tôn giả Ānanda đi đến Thế Tôn, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, sáng nay con thấy Bà-la-môn Jāṇussoṇi từ Xá-vệ đi ra trên một cỗ xe toàn trắng … Dân chúng nói: ‘Thật là xe thù thắng! Quả là một cỗ xe thù thắng!’ Bạch Thế Tôn, có thể nào chỉ ra một cỗ xe thù thắng trong Pháp và Luật này không?”

“Có thể, Ānanda,” Thế Tôn đáp. “Chính Thánh đạo Tám Chi Phần này được gọi là ‘Phạm xa’, là ‘Pháp thừa’, là ‘chiến xa vô đối’.

“Này Ānanda, chánh kiến khi được tu tập và phát triển, có mục đích tối hậu là đoạn trừ tham ái, đoạn trừ sân hận, đoạn trừ si mê. Chánh tư duy …  chánh ngữ, chánh nghiệp .. chánh mạng … chánh tinh tấn ...chánh niệm …chánh định khi được tu tập và phát triển, cũng có mục đích tối hậu là đoạn trừ tham ái, đoạn trừ sân hận, đoạn trừ si mê.

“Bằng cách này, này Ānanda, có thể hiểu Thánh đạo Tám Chi Phần được gọi là: ‘Phạm xa’, là ‘Pháp thừa’, là ‘chiến xa vô đối’.

Đức Thế Tôn dạy như vậy. Sau khi nói xong, bậc Đạo Sư - Đấng Thiện Thệ - lại nói thêm kệ ngôn:

“Lòng tin và trí tuệ,
Luôn luôn đi song đôi.
Tàm là cây ách ngựa,
Tâm là dây buộc yên,
Niệm làm người cầm cương,
Luôn tỉnh giác canh giữ.

Giới làm đẹp xe,
Trục xe là thiền định,
Tinh tấn chính là bánh,
Xả giữ cho thăng bằng,
Vô tham làm nệm êm.

Từ mẫn và  bất hại,
Viễn ly là khí giới;
Nhẫn nại làm giáp che,
Chạy tới chỗ giải thoát.

Xe thù thắng vô thượng,
Phát sinh ở tự thân.
Bậc trí xuất thế gian,
Chắc chắc đạt chiến thắng.”

Chú Thích

Bà-la-môn
ussoi là quốc sư của vua Pasenadi. Ông cũng xuất hiện trên cỗ xe trắng được ghi trong Trung Bộ MN I 175, 15–17MN I 208, 24–25. Theo Sớ giải, cứ sáu tháng một lần, ông lại đi vòng quanh thành phố trên cỗ xe trắng của mình, “như thể đang rải khắp thành phố ánh hào quang và sự thịnh vượng của mình.”

Câu “Brahmaṃ vata bho yānaṃ, brahmayānarūpaṃ vata hoti”. Ở đây, từ brahma mang nghĩa là tối thắng, thù thắng, tuyệt hảo (seṭṭha). Vì vậy, “brahmayāna” ở đây dịch là cỗ xe thù thắng, cỗ xe tối thắng. Bản chữ Hán cũng dịch là “Phạm xa” một cách diễn tả sự cao quý trong văn học Phạn ngữ.

Các bài kệ mở đầu bằng đại từ yassa, và chỉ được kết thúc bằng đại từ chỉ định etad ở câu kệ cuối cùng. Vì cấu trúc phức tạp này khó dịch sát, bản dịch lấy  buộc phải chia thành nhiều câu ngắn hơn theo các dịch bản tiếng Anh của ngài Bodhi. Cách diễn giải ở đây dựa theo Sớ giải. So sánh thêm hình ảnh cỗ xe khác ở SN 1.46.

Jhānakkho (trục xe là thiền định) được Sớ giải chú thích: “Trục xe làm bằng thiền (jhāna) theo nghĩa năm chi thiền đi kèm với tuệ quán.”

  • Năm chi thiền: tầm (vitakka), tứ (vicāra), hỷ (pīti), lạc (sukha), nhất tâm (ekaggatā).
  • Khi thành thục, năm chi này đưa tâm đến sơ thiền; tuy nhiên, chúng cũng hiện diện, dù mờ nhạt hơn, trong định đi kèm với tuệ quán.

Sớ giải chú thích câu “cỗ xe này khởi lên từ bên trong chính mình” attanisambhūtaṃ): nghĩa là đạo xa (maggayāna) được gọi như vậy vì nó đạt được nhờ nỗ lực cá nhân (purisakāra) của chính hành giả.

“Cỗ xe thần thánh” chính là ẩn dụ cho Bát Thánh Đạo, được ví như một cỗ xe chiến thắng, với các thành phần:

  • Niềm tin và trí tuệ được hiểu là đôi ngựa kéo cân bằng.
  • Tàm (hổ thẹn tội lỗi )được hiểu là cái ách ngựa.
  • Tâm được hiểu là dây buộc.
  • Niệm được hiểu là người đánh xe.
  • Giới được hiểu là trang sức xe.
  • Thiền định (jhāna) được hiểu là trục xe.
  • Tinh tấn được hiểu là bánh xe.
  • Xả được hiểu là giữ thăng bằng.
  • Không tham được hiểu là nệm ngồi.
  • Từ mẫn, bất hại, viễn ly được hiểu là vũ khí.
  • Nhẫn nhục được hiểu là giáp che và khiên.

Và toàn bộ cỗ xe này phát sinh từ chính nỗ lực tu tập của hành giả, không do ai ban tặng.

Nên lưu ý chữ “yāna - cỗ xe” để chỉ cho hệ thống giáo nghĩa về sau nầy trong thời kỳ phân hoá của Phật giáo được khai thác triệt để tạo thành những thuật ngữ “Mahayāna - Đại Thừa”, “Hinayāna - Tiểu Thừa”, “Vajirayāna – Kim Cang Thừa” … là cách chỉ cho các bộ phái từ quan điểm của hệ Phật Giáo Phát Triển.

Sớ Giải

4. catutthe sabbasetena vaavābhirathenāti sakalasetena catūhi vaavāhi yuttarathena. so kira sabbo sacakkapañjarakubbaro rajataparikkhitto hoti. ratho ca nāmesa duvidho hoti — yodharatho, alakārarathoti. tattha yodharatho caturassasaṇṭhāno hoti nātimahā dvinna tiṇṇa vā janāna gahaasamattho. alakāraratho mahā hoti dīghato dīgho puthulato puthulo ca, tattha chattaggāhako vālabījaniggāhako tālavaṇṭaggāhakoti eva aṭṭha vā dasa vā sukheneva hātu vā nisīditu vā nipajjitu vā sakkonti. ayampi alakārarathoyeva. setā suda assāti tā vaavā pakatiyā setavaṇṇāva. setālakārāti pasādhana tāsa rajatamaya ahosi. seto rathoti rathopi vuttanayeneva rajataparikkhittattā tattha tattha dantakammakhacitattā ca setova. setaparivāroti yathā aññe rathā sīhacammaparivārāpi honti, byagghacammaparivārāpi paṇḍukambalaparivārāpi honti, na eva esa. esa pana ghanadukūlena parivārito ahosi. setā rasmiyoti rasmiyopi rajatapanāisuparikkhittā. setā patodalaṭṭhīti patodalaṭṭhipi rajataparikkhittā. seta chattanti rathamajjhe ussāpitachattampi setameva ahosi. seta uhīsanti aṭṭhagulavitthāro rajatamayo uhīsapaṭṭo seto. setāni vatthānīti vatthānipi setāni pheapuñjavaṇṇāni. tesu nivāsana pañcasatagghanaka, uttarāsago sahassagghanako. setā upāhanāti upāhanā nāma maggāruhassa vā honti aavi vā pavisantassa. aya pana ratha abhiruho, tenassa tadanucchaviko rajatapaisevito pādālakāro nāma esa eva vuttoti veditabbo. setāya suda vālabījaniyāti phalikamayadaṇḍāya setacamaravālabījaniyā. na kevalañca ettakamevassa seta ahosi, so pana brāhmao setavilepana vilimpi, setamāla piandhi, dasasu agulīsu agulimuddikā kaṇṇesu kuṇḍalānīti evamādi alakāropissa rajatamayova ahosi. parivārabrāhmaāpissa dasasahassamattā tatheva setavatthavilepanamālālakārā ahesu. ya paneta sāvatthiyā niyyāyantanti vutta, tatrāya niyyāyanavibhāvanā — so kira channa channa māsāna ekavāra nagara padakkhia karoti — “ito ettakehi divasehi nagara padakkhia karissatī”ti puretarameva ghosanā kayirati. ta sutvā ye nagarato na pakkantā, te na pakkamanti. yepi pakkantā, tepi “puññavato sirisampatti passissāmā”ti āgacchanti. ya divasa brāhmao nagara anuvicarati, tadā pātova nagaravīthiyo sammajjitvā vālika okiritvā lājapañcamehi pupphehi vippakiritvā puṇṇaghae hapetvā kadaliyo ca dhaje ca ussāpetvā sakalanagara dhūpitavāsita karonti. brāhmao pātova sīsa nhāyitvā purebhatta bhuñjitvā vuttanayeneva setavatthādīhi attāna alakaritvā pāsādā oruyha ratha abhiruhati. atha na te brāhmaā sabbasetavatthavilepanamālālakārā setacchattāni gahetvā parivārenti. tato mahājanassa sannipātattha pahamayeva taruadārakāna phalāphalāni vikiranti, tadanantara māsakarūpādīni, tadanantara kahāpae vikiranti. mahājano sannipatati, ukkuṭṭhiyo ceva celukkhepā ca vattanti. atha brāhmao magalikasovatthikādīsu magalāni ceva suvatthiyo ca karontesu mahāsampattiyā nagara anuvicarati. puññavantā manussā ekabhūmikādipāsāde āruyha sukapattasadisāni vātapānakavāāni vivaritvā olokenti. brāhmaopi attano yasasirisampattiyā nagara ajjhottharanto viya dakkhiadvārābhimukho hoti. ta sandhāyeta vutta. tamena jano disvāti mahājano ta ratha disvā. brahmanti seṭṭhādhivacanameta. brahma vata bho yānanti seṭṭhayānasadisa vata bho yānanti ayamettha attho. imasseva kho etanti, ānanda, manussā nāma vaṇṇabhāakāna dhana datvā attano dārikāna vaṇṇagīta gāyāpenti “abhirūpo hoti dassanīyo mahaddhano mahābhogo”ti, na ca tena vaṇṇabhaanamattena abhirūpā vā honti mahaddhanā vā, evameva mahājano brāhmaassa ratha disvā — “brahma vata bho yānan”ti kiñcāpi eva vaṇṇa bhaati, na paneta yāna vaṇṇabhaanamatteneva brahmayāna nāma hoti. lāmakañhi eta chava. paramatthena pana imasseva kho eta, ānanda, ariyassa aṭṭhagikassa maggassa adhivacana. ayañhi sabbadosavigamena seṭṭho, iminā ca ariyā nibbāna yantīti brahmayāna itipi, dhammabhūtattā yānattā ca dhammayāna itipi, anuttarattā kilesasagāmassa ca vijitattā anuttaro sagāmavijayo itipi vattu vaṭṭati. idānissa niddosabhāvañceva sagāmavijayabhāvañca dassento rāgavinayapariyosānātiādimāha. tattha rāga vinayamānā pariyosāpeti pariyosāna gacchati nipphajjatīti rāgavinayapariyosānā. esa nayo sabbattha. yassa saddhā ca paññā cāti yassa ariyamaggayānassa saddhānusārivasena saddhā, dhammānusārivasena paññāti ime dve dhammā sadā dhura yuttā, tatramajjhattatāyuge yuttāti attho. hirī īsāti attanā saddhi adhiviṭṭhena bahiddhāsamuṭṭhānena ottappena saddhi ajjhattasamuṭṭhānā hirī yassa maggarathassa īsā. mano yottanti vipassanācittañca maggacittañca yotta. yathā hi rathassa vākādimaya yotta goe ekābaddhe karoti ekasagahite, eva maggarathassa lokiyavipassanācitta atirekapaññāsa, lokuttaravipassanācitta atirekasaṭṭhi kusaladhamme ekābaddhe ekasagahe karoti. tena vutta “mano yottan”ti. sati ārakkhasārathīti maggasampayuttā sati ārakkhasārathi. yathā hi rathassa ārakkho sārathi nāma yoggiyo. dhura vāheti yojeti akkha abbhañjati ratha peseti rathayuttake nibbisevane karoti, eva maggarathassa sati. ayañhi ārakkhapaccupaṭṭhānā ceva kusalākusalānañca dhammāna gatiyo samanvesatīti vuttā. rathoti ariyāṭṭhagikamaggaratho. sīlaparikkhāroti catupārisuddhisīlālakāro. jhānakkhoti vipassanāsampayuttāna pañcanna jhānagāna vasena jhānamayākkho. cakkavīriyoti vīriyacakko, kāyikacetasikasakhātāni dve vīriyāni assa cakkānīti attho. upekkhā dhurasamādhīti dhurassa samādhi, unnatonatākārassa abhāvena dvinnampi yugapadesāna samatāti attho. ayañhi tatramajjhattupekkhā cittuppādassa līnuddhaccabhāva haritvā payogamajjhatte citta hapeti, tasmā imassa maggarathassa “dhurasamādhī”ti vuttā. anicchā parivāraanti bāhirakarathassa sīhacammādīni viya imassāpi ariyamaggarathassa alobhasakhātā anicchā parivāraa nāma. abyāpādoti mettā ca mettāpubbabhāgo ca. avihisāti karuā ca karuāpubbabhāgo ca. vivekoti kāyavivekādi tividhaviveko. yassa āvudhanti yassa ariyamaggarathe hitassa kulaputtassa eta pañcavidha āvudha. yathā hi rathe hito pañcahi āvudhehi sapatte vijjhati, eva yogāvacaropi imasmi lokiyalokuttaramaggarathe hito mettāya dosa vijjhati, karuāya vihisa, kāyavivekena gaasagaika, cittavivekena kilesasagaika, upadhivivekena sabbākusala vijjhati. tenasseta pañcavidha “āvudhan”ti vutta. titikkhāti duruttāna durāgatāna vacanapathāna adhivāsanakkhanti. cammasannāhoti sannaddhacammo. yathā hi rathe hito rathiko paimukkacammo āgatāgate sare khamati, na na te vijjhanti, eva adhivāsanakkhantisamannāgato bhikkhu āgatāgate vacanapathe khamati, na na te vijjhanti. tasmā “titikkhā cammasannāho”ti vutto. yogakkhemāya vattatīti catūhi yogehi khemāya nibbānāya vattati, nibbānābhimukho gacchatiyeva, na tiṭṭhati na bhijjatīti attho. etadattani sambhūtanti eta maggayāna attano purisakāra nissāya laddhattā attani sambhūta nāma hoti. brahmayāna anuttaranti asadisa seṭṭhayāna. niyyanti dhīrā lokamhāti yesa eta yāna atthi, te dhīrā paṇḍitapurisā lokamhā niyyanti gacchanti. aññadatthūti ekasena. jaya jayanti rāgādayo sapatte jinantā jinantā.

Sớ giải kinh  Brāhmaṇo Jāṇussoṇi

“Cỗ xe toàn trắng, kéo bởi ngựa cái”: nghĩa là chiếc xe được kéo bởi bốn con ngựa cái, toàn thân đều trắng. Toàn bộ bánh, trục, khung, mui đều được trang sức bằng bạc.

Xe có hai loại: chiến xa (yodharatha) xe vận chuyển (alaṅkāraratha).

  • Chiến xa: vuông vắn, không lớn, chỉ chở được 2–3 người.
  • Xe vận chuyển: lớn hơn, dài và rộng, có thể chứa nhiều người đứng, ngồi hay nằm thoải mái; người cầm lọng, người cầm quạt, người hầu có thể đi cùng. Xe của Jāṇussoṇi thuộc loại này.

Ngựa trắng: bốn con ngựa trắng tự nhiên, lại được trang sức bằng đồ bạc.
Xe trắng: vì được viền bạc, khảm xương voi nên nhìn toàn trắng.
Vải phủ trắng: thay vì da sư tử, da cọp, v.v. như các xe khác, xe này phủ bằng lụa mịn trắng.
Dây cương trắng: làm bằng xích bạc.
Roi trắng: cũng bằng bạc.
Lọng trắng: dựng ở giữa xe, toàn trắng.
Mão trắng (uṇhīsa): vành bạc rộng tám ngón tay.
Y phục trắng: quần áo như bọt trắng, hạ y trị giá 500, thượng y trị giá 1.000.
Giày trắng: vì ông ngồi trên xe, giày được trang sức bằng bạc, gọi là “pādālaṅkāra”.
Phất trần trắng: cán bằng pha lê, lông đuôi trắng.

Không chỉ vậy, bản thân Jāṇussoṇi còn bôi phấn trắng, đeo hoa trắng, nhẫn ngón tay, vòng tai đều bằng bạc. Các Bà-la-môn tùy tùng khoảng 10.000 người cũng mặc đồ trắng, trang sức bạc, tay cầm lọng trắng đi theo.

Cách diễu hành: Cứ sáu tháng một lần, ông đi vòng quanh thành phố. Trước đó có thông báo, dân chúng ở lại để xem. Ngày diễu hành, đường phố được quét sạch, rải cát, rải hoa, dựng cờ lọng. Sáng hôm ấy ông tắm gội, ăn sáng, trang sức toàn trắng, lên xe, các Bà-la-môn vây quanh. Trẻ con ném trái cây, sau đó là đồng tiền, khiến dân chúng kéo đến đông, reo hò, tung khăn. Người giàu trèo lên lầu cao để nhìn xuống. Jāṇussoṇi đi quanh thành phố như bao phủ nó bằng hào quang vinh hiển.

“Brahmaṃ vata bho yānaṃ”: “Quả thật là cỗ xe tối thượng.” Nhưng giống như cha mẹ thuê người hát ca ngợi con gái: “Đẹp thay, giàu thay”, lời ca ngợi ấy không khiến cô đẹp giàu thật sự. Cũng thế, dân chúng ca ngợi “cỗ xe thần thánh” nhưng thật ra chỉ là lời nói, không phải chân thật. Thực chất, cỗ xe tối thượng chính là Bát Thánh đạo.

[Giải thích bài kệ ví dụ cỗ xe]

  • “Yassa saddhā ca paññā ca …”:
    • Niềm tin và trí tuệ là đôi ngựa kéo, cân bằng.
    • Hiri (tàm) là cái ách.
    • Mano (ý) là dây buộc.
    • Sati (niệm) là người đánh xe, giữ gìn, hướng dẫn, kiểm soát.
  • “Sīlaṃ alaṅkāro rathassa …”:
    • Giới là trang sức.
    • Jhāna (thiền, gồm 5 chi thiền đi kèm tuệ quán) là trục xe.
    • Viriya (tinh tấn) là bánh xe.
    • Upekkhā (xả, quân bình) là sự cân bằng sức kéo.
    • Alobha (không tham) là lớp nệm.
  • “Abyāpādaṃ, avihiṃsā, viveko …”:
    • Mettā (từ) và phần đầu của từ tâm → chống lại sân hận.
    • Karuṇā (bi) và phần đầu của bi tâm → chống lại bạo hại.
    • Viveka (viễn ly – thân, tâm, pháp) → tách rời các tập hợp bất thiện.
    • Đây là năm loại vũ khí của người hành giả trên “xe Đạo”.
  • “Titikkhā cammasannāho …”:
    • Khanti (nhẫn nhục) là áo giáp da. Như áo giáp giúp xe vượt qua mũi tên, nhẫn nhục giúp hành giả vượt qua lời mắng chửi.
  • Yogakkhemāya vattati”:
    • Cỗ xe này lăn bánh hướng đến Niết-bàn, nơi an ổn, không còn trói buộc.
  • “Etadattani sambhūtaṃ …”:
    • Cỗ xe Đạo này “khởi lên từ bên trong” vì đạt được nhờ nỗ lực cá nhân (purisakāra).
    • Nó là brahmayāna – cỗ xe tối thượng hay phạm xa, đưa bậc trí rời khỏi thế gian, chiến thắng kẻ thù là tham, sân, si.

  Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tương Ưng Ðạo (a)

-ooOoo-

I. Phẩm Vô Minh

4.IV. Bà La Môn (S.iv,4)

1) Nhân duyên ở Sàvatthi.

2) Tôn giả Ananda, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthi để khất thực.

3) Rồi Tôn giả Ananda thấy Bà-la-môn Jànusoni đi xe ra khỏi Sàvatthi, cỗ xe toàn ngựa trắng kéo. Trắng là những con ngựa kéo xe. Trắng là những đồ trang sức. Trắng là cỗ xe. Trắng là những bộ phận tùy thuộc (parivàro). Trắng là những sợi dây cương. Trắng là cây gậy thúc ngựa. Trắng là cái lọng. Trắng là cái khăn đội. Trắng là những quần áo. Trắng là giày mang. Và được quạt với cái quạt trắng. Quần chúng thấy vậy, liền nói: "Thật là cỗ xe thù thắng. Thật là cỗ xe thù thắng về dung sắc!"

4) Rồi Tôn giả Ananda đi khất thực ở Sàvatthi xong, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

-- Ở đây, bạch Thế Tôn, vào buổi sáng, con đắp y, cầm y bát và đi vào Sàvatthi để khất thực. Bạch Thế Tôn, con thấy Bà-la-môn Jànusoni đi xe ra khỏi Sàvatthi, cỗ xe toàn ngựa trắng kéo. Trắng là những con ngựa kéo xe... Thật là cỗ xe thù thắng về dung sắc! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể nói lên cỗ xe thù thắng trong Pháp và Luật này?

Thế Tôn nói:

-- Có thể được, này Ananda. Thánh đạo Tám ngành này, này Ananda, là đồng nghĩa với cỗ xe thù thắng, cỗ xe pháp này. Vô thượng là sự chinh phục trong chiến trận.

5) Chánh tri kiến, này Ananda, được tu tập, được làm cho viên mãn, cuối cùng đưa đến nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si. Chánh tư duy, này Ananda, cuối cùng đưa đến nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si. Chánh ngữ... Chánh nghiệp... Chánh mạng... Chánh tinh tấn... Chánh niệm... Chánh định, này Ananda, được tu tập, được làm cho viên mãn, cuối cùng đưa đến nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si.

Này Ananda, chính với pháp môn này, các Ông cần phải hiểu như thế này: "Cỗ xe thù thắng, cỗ xe pháp, vô thượng là sự chinh phục trong chiến trận, là đồng nghĩa với Thánh đạo Tám ngành này".

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Bậc Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

Ai được tín, trí tuệ,
Thường xuyên liên kết lại,
Lấy hổ thẹn làm cán,
Lấy ý làm ách xe.
Niệm là người đánh xe,
Biết hộ trì, phòng hộ,
Cỗ xe lấy giới luật
Làm vật dụng cho xe.
Thiền là trục bánh xe,
Tinh tấn là bánh xe,
Xả là định thường hằng,
Vô dục là nệm xe.
Vô sân và vô hại,
Viễn ly là binh khí,
Nhẫn nhục là áo giáp,
An ổn khỏi khổ ách,
Làm mục đích đạt đến,
Cỗ xe được chuyển vận.
Pháp này tự ngã làm,
Trở thành thuộc tự ngã.
Là cỗ xe thù thắng,
Vô thượng, không sánh bằng.
Ngồi trên cỗ xe ấy,
Bậc Trí thoát ly đời,
Chắc chắn, không sai chạy,
Họ đạt được chiến thắng.

ooOoo