|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, ngày 02 tháng 10, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 516. CỖ XE PHÁP - Kinh Bà-la-môn Jāṇussoṇi (Jāṇussoṇibrāhmaṇasuttaṃ) ... .
Một cỗ xe vận hành là một kết hợp của nhiều cơ phận
tạo thành một bộ máy. Bát chánh đạo với tám chi phần chánh kiến,
chánh tư duy, chánh
ngữ, chánh nghiệp .. chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm,
chánh định cùng với những tố chất nội tại kết cấu thành một hệ
thống tu tập. Phải hiểu sự kết cấu nầy với cái nhìn toàn diện
chứ không thể chỉ chấp trì một pháp riêng lẻ. Đây là một đặt
điểm của “Đạo” theo Phật Pháp.
Kinh Văn
4. sāvatthinidānaṃ. atha kho āyasmā ānando pubbaṇhasamayaṃ
nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṃ piṇḍāya pāvisi. addasā kho
āyasmā ānando jāṇussoṇiṃ brāhmaṇaṃ sabbasetena vaḷavābhirathena
{vaḷabhīrathena (sī.)} sāvatthiyā niyyāyantaṃ. setā sudaṃ assā
yuttā honti setālaṅkārā, seto ratho, setaparivāro, setā rasmiyo,
setā patodalaṭṭhi, setaṃ chattaṃ, setaṃ uṇhīsaṃ, setāni
vatthāni, setā upāhanā, setāya sudaṃ vālabījaniyā bījīyati.
tamenaṃ jano disvā evamāha — “brahmaṃ vata, bho, yānaṃ!
brahmayānarūpaṃ vata, bho”ti!! Atha kho āyasmā ānando
sāvatthiyaṃ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṃ piṇḍapātapaṭikkanto
yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ
abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho āyasmā
ānando bhagavantaṃ etadavoca — “idhāhaṃ, bhante, pubbaṇhasamayaṃ
nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṃ piṇḍāya pāvisiṃ. addasaṃ
khvāhaṃ, bhante, jāṇussoṇiṃ brāhmaṇaṃ sabbasetena
vaḷavābhirathena sāvatthiyā niyyāyantaṃ. setā sudaṃ assā yuttā
honti setālaṅkārā, seto ratho, setaparivāro, setā rasmiyo, setā
patodalaṭṭhi, setaṃ chattaṃ, setaṃ uṇhīsaṃ, setāni vatthāni,
setā upāhanā, setāya sudaṃ vālabījaniyā bījīyati. tamenaṃ jano
disvā evamāha — ‘brahmaṃ vata, bho, yānaṃ! brahmayānarūpaṃ vata,
bho’ti!! sakkā nu kho, bhante, imasmiṃ dhammavinaye brahmayānaṃ
paññāpetun”ti? “sakkā, ānandā”ti bhagavā avoca — “imasseva kho
etaṃ, ānanda, ariyassa aṭṭhaṅgikassa maggassa adhivacanaṃ —
‘brahmayānaṃ’ itipi, ‘dhammayānaṃ’ itipi, ‘anuttaro
saṅgāmavijayo’ itipī”ti. “sammādiṭṭhi, ānanda, bhāvitā
bahulīkatā rāgavinayapariyosānā hoti, dosavinayapariyosānā hoti,
mohavinayapariyosānā hoti. sammāsaṅkappo, ānanda, bhāvito
bahulīkato rāgavinayapariyosāno hoti, dosavinayapariyosāno hoti,
mohavinayapariyosāno hoti. sammāvācā, ānanda, bhāvitā bahulīkatā
rāgavinayapariyosānā hoti, dosa ... pe ... mohavinayapariyosānā
hoti. sammākammanto, ānanda, bhāvito bahulīkato
rāgavinayapariyosāno hoti, dosa... mohavinayapariyosāno hoti.
sammāājīvo, ānanda, bhāvito bahulīkato rāgavinayapariyosāno
hoti, dosa... mohavinayapariyosāno hoti. sammāvāyāmo, ānanda,
bhāvito bahulīkato rāgavinayapariyosāno hoti, dosa...
mohavinayapariyosāno hoti. sammāsati, ānanda, bhāvitā bahulīkatā
rāgavinayapariyosānā hoti, dosa... mohavinayapariyosānā hoti.
sammāsamādhi, ānanda, bhāvito bahulīkato rāgavinayapariyosāno
hoti, dosa... mohavinayapariyosāno hoti. “iminā kho etaṃ,
ānanda, pariyāyena veditabbaṃ yathā imassevetaṃ ariyassa
aṭṭhaṅgikassa maggassa adhivacanaṃ — ‘brahmayānaṃ’ itipi,
‘dhammayānaṃ’ itipi, ‘anuttaro saṅgāmavijayo’ itipī”ti.
idamavoca bhagavā. idaṃ vatvāna sugato athāparaṃ etadavoca
satthā — “yassa saddhā ca paññā ca, dhammā yuttā sadā dhuraṃ.
hirī īsā mano yottaṃ, sati ārakkhasārathi. “ratho
sīlaparikkhāro, jhānakkho cakkavīriyo. upekkhā dhurasamādhi,
anicchā parivāraṇaṃ. “abyāpādo avihiṃsā, viveko yassa āvudhaṃ.
titikkhā cammasannāho {vammasannāho (sī.)}, yogakkhemāya
vattati. “etadattani sambhūtaṃ, brahmayānaṃ anuttaraṃ. niyyanti
dhīrā lokamhā, aññadatthu jayaṃ jayan”ti. catutthaṃ.
Duyên sự tại Sāvatthı̄.
Bấy giờ, vào buổi sáng, Tôn giả Ānanda mặc y, mang bát, đi vào Xá-vệ khất
thực. Ngài thấy Bà-la-môn Jāṇussoṇi từ Xá-vệ đi ra trên một cỗ
xe toàn trắng, kéo bởi những con ngựa cái. Những con ngựa đều
trắng, các trang sức đều trắng, cỗ xe trắng, nệm phủ trắng, dây
cương, roi ngựa, tán lọng đều trắng; khăn đội đầu, y phục, giày
dép của ông đều trắng, và ông còn được quạt bằng phất trần
trắng.
Dân chúng nhìn thấy liền nói: “Thật là xe thù thắng! Quả thật là một cỗ xe
thù thắng!”
Sau khi khất thực tại Xá-vệ, rồi trở về, thọ thực xong, Tôn giả Ānanda đi
đến Thế Tôn, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, sáng nay con thấy Bà-la-môn Jāṇussoṇi từ Xá-vệ đi ra trên
một cỗ xe toàn trắng … Dân chúng nói: ‘Thật là xe thù thắng! Quả
là một cỗ xe thù thắng!’ Bạch Thế Tôn, có thể nào chỉ ra một cỗ
xe thù thắng trong Pháp và Luật này không?”
“Có thể, Ānanda,” Thế Tôn đáp. “Chính Thánh đạo Tám Chi Phần này được gọi
là ‘Phạm xa’, là ‘Pháp thừa’, là ‘chiến xa vô đối’.
“Này Ānanda, chánh kiến khi được tu tập và phát triển, có mục đích tối hậu
là đoạn trừ tham ái, đoạn trừ sân hận, đoạn trừ si mê. Chánh tư
duy … chánh ngữ, chánh
nghiệp .. chánh mạng … chánh tinh tấn ...chánh niệm …chánh định
khi được tu tập và phát triển, cũng có mục đích tối hậu là đoạn
trừ tham ái, đoạn trừ sân hận, đoạn trừ si mê.
“Bằng cách này, này Ānanda, có thể hiểu Thánh đạo Tám Chi Phần được gọi
là: ‘Phạm xa’, là ‘Pháp thừa’, là ‘chiến xa vô đối’.
Đức Thế Tôn dạy như vậy. Sau khi nói xong, bậc Đạo Sư - Đấng Thiện Thệ -
lại nói thêm kệ ngôn:
“Lòng tin và trí tuệ,
Giới làm đẹp xe,
Từ mẫn và bất hại,
Xe thù thắng vô thượng,
Chú Thích
Câu “Brahmaṃ vata bho yānaṃ, brahmayānarūpaṃ vata hoti”. Ở đây, từ brahma
mang nghĩa là tối thắng, thù thắng, tuyệt hảo (seṭṭha). Vì vậy,
“brahmayāna” ở đây dịch là cỗ xe thù thắng, cỗ xe tối thắng. Bản
chữ Hán cũng dịch là “Phạm xa” một cách diễn tả sự cao quý trong
văn học Phạn ngữ.
Các bài kệ mở đầu bằng đại từ yassa, và chỉ được kết thúc bằng đại từ chỉ
định etad ở câu kệ cuối cùng. Vì cấu trúc phức tạp này khó dịch
sát, bản dịch lấy buộc
phải chia thành nhiều câu ngắn hơn theo các dịch bản tiếng Anh
của ngài Bodhi. Cách diễn giải ở đây dựa theo Sớ giải. So sánh
thêm hình ảnh cỗ xe khác ở SN 1.46.
Jhānakkho (trục xe là thiền định) được Sớ giải chú thích: “Trục xe làm
bằng thiền (jhāna) theo nghĩa năm chi thiền đi kèm với tuệ
quán.”
Sớ giải chú thích câu “cỗ xe này khởi lên từ bên trong chính mình”
attanisambhūtaṃ): nghĩa là đạo xa (maggayāna) được gọi như vậy
vì nó đạt được nhờ nỗ lực cá nhân (purisakāra) của chính hành
giả.
“Cỗ xe thần thánh” chính là ẩn dụ cho Bát
Thánh Đạo, được ví như một cỗ xe chiến thắng, với các
thành phần:
Và toàn bộ cỗ xe này phát sinh từ chính nỗ
lực tu tập của hành giả, không do ai ban tặng.
Nên lưu ý chữ “yāna - cỗ xe” để chỉ cho hệ
thống giáo nghĩa về sau nầy trong thời kỳ phân hoá của Phật giáo
được khai thác triệt để tạo thành những thuật ngữ “Mahayāna -
Đại Thừa”, “Hinayāna - Tiểu Thừa”, “Vajirayāna – Kim Cang Thừa”
… là cách chỉ cho các bộ phái từ quan điểm của hệ Phật Giáo Phát
Triển.
Sớ Giải
4. catutthe sabbasetena vaḷavābhirathenāti
sakalasetena catūhi vaḷavāhi
yuttarathena. so kira sabbo sacakkapañjarakubbaro
rajataparikkhitto hoti. ratho ca nāmesa duvidho hoti —
yodharatho, alaṅkārarathoti.
tattha yodharatho caturassasaṇṭhāno
hoti nātimahā dvinnaṃ
tiṇṇaṃ
vā janānaṃ
gahaṇasamattho.
alaṅkāraratho
mahā hoti dīghato dīgho puthulato puthulo ca, tattha
chattaggāhako vālabījaniggāhako tālavaṇṭaggāhakoti
evaṃ
aṭṭha
vā dasa vā sukheneva
ṭhātuṃ
vā nisīdituṃ
vā nipajjituṃ
vā sakkonti. ayampi alaṅkārarathoyeva.
♦
setā sudaṃ
assāti tā vaḷavā
pakatiyā setavaṇṇāva.
setālaṅkārāti
pasādhanaṃ
tāsaṃ
rajatamayaṃ
ahosi. seto rathoti rathopi vuttanayeneva rajataparikkhittattā
tattha tattha dantakammakhacitattā ca setova. setaparivāroti
yathā aññe rathā sīhacammaparivārāpi honti,
byagghacammaparivārāpi paṇḍukambalaparivārāpi
honti, na evaṃ
esa. esa pana ghanadukūlena parivārito ahosi. setā rasmiyoti
rasmiyopi rajatapanāḷisuparikkhittā.
setā patodalaṭṭhīti
patodalaṭṭhipi
rajataparikkhittā.
♦
setaṃ
chattanti rathamajjhe ussāpitachattampi setameva ahosi. setaṃ
uṇhīsanti
aṭṭhaṅgulavitthāro
rajatamayo uṇhīsapaṭṭo
seto. setāni vatthānīti vatthānipi setāni pheṇapuñjavaṇṇāni.
tesu nivāsanaṃ
pañcasatagghanakaṃ,
uttarāsaṅgo
sahassagghanako. setā upāhanāti upāhanā nāma maggāruḷhassa
vā honti aṭaviṃ
vā pavisantassa. ayaṃ
pana rathaṃ
abhiruḷho,
tenassa tadanucchaviko rajatapaṭisevito
pādālaṅkāro
nāma esa evaṃ
vuttoti veditabbo. setāya sudaṃ
vālabījaniyāti phalikamayadaṇḍāya
setacamaravālabījaniyā. na kevalañca ettakamevassa setaṃ
ahosi, so pana brāhmaṇo
setavilepanaṃ
vilimpi, setamālaṃ
piḷandhi,
dasasu aṅgulīsu
aṅgulimuddikā
kaṇṇesu
kuṇḍalānīti
evamādi alaṅkāropissa
rajatamayova ahosi. parivārabrāhmaṇāpissa
dasasahassamattā tatheva setavatthavilepanamālālaṅkārā
ahesuṃ.
♦
yaṃ
panetaṃ
sāvatthiyā niyyāyantanti vuttaṃ,
tatrāyaṃ
niyyāyanavibhāvanā — so kira channaṃ
channaṃ
māsānaṃ
ekavāraṃ
nagaraṃ
padakkhiṇaṃ
karoti — “ito ettakehi divasehi nagaraṃ
padakkhiṇaṃ
karissatī”ti puretarameva ghosanā kayirati. taṃ
sutvā ye nagarato na pakkantā, te na pakkamanti. yepi pakkantā,
tepi “puññavato sirisampattiṃ
passissāmā”ti āgacchanti. yaṃ
divasaṃ
brāhmaṇo
nagaraṃ
anuvicarati, tadā pātova nagaravīthiyo sammajjitvā vālikaṃ
okiritvā lājapañcamehi pupphehi vippakiritvā puṇṇaghaṭe
ṭhapetvā
kadaliyo ca dhaje ca ussāpetvā sakalanagaraṃ
dhūpitavāsitaṃ
karonti.
♦
brāhmaṇo
pātova sīsaṃ
nhāyitvā purebhattaṃ
bhuñjitvā vuttanayeneva setavatthādīhi attānaṃ
alaṅkaritvā
pāsādā oruyha rathaṃ
abhiruhati. atha naṃ
te brāhmaṇā
sabbasetavatthavilepanamālālaṅkārā
setacchattāni gahetvā parivārenti. tato mahājanassa
sannipātatthaṃ
paṭhamaṃyeva
taruṇadārakānaṃ
phalāphalāni vikiranti, tadanantaraṃ
māsakarūpādīni, tadanantaraṃ
kahāpaṇe
vikiranti. mahājano sannipatati, ukkuṭṭhiyo
ceva celukkhepā ca vattanti. atha brāhmaṇo
maṅgalikasovatthikādīsu
maṅgalāni
ceva suvatthiyo ca karontesu mahāsampattiyā nagaraṃ
anuvicarati. puññavantā manussā ekabhūmikādipāsāde āruyha
sukapattasadisāni vātapānakavāṭāni
vivaritvā olokenti. brāhmaṇopi
attano yasasirisampattiyā nagaraṃ
ajjhottharanto viya dakkhiṇadvārābhimukho
hoti. taṃ
sandhāyetaṃ
vuttaṃ.
♦
tamenaṃ
jano disvāti mahājano taṃ
rathaṃ
disvā. brahmanti seṭṭhādhivacanametaṃ.
brahmaṃ
vata bho yānanti seṭṭhayānasadisaṃ
vata bho yānanti ayamettha attho. imasseva kho etanti, ānanda,
manussā nāma vaṇṇabhāṇakānaṃ
dhanaṃ
datvā attano dārikānaṃ
vaṇṇagītaṃ
gāyāpenti “abhirūpo hoti dassanīyo mahaddhano mahābhogo”ti, na
ca tena vaṇṇabhaṇanamattena
abhirūpā vā honti mahaddhanā vā, evameva mahājano brāhmaṇassa
rathaṃ
disvā — “brahmaṃ
vata bho yānan”ti kiñcāpi evaṃ
vaṇṇaṃ
bhaṇati,
na panetaṃ
yānaṃ
vaṇṇabhaṇanamatteneva
brahmayānaṃ
nāma hoti. lāmakañhi etaṃ
chavaṃ.
paramatthena pana imasseva kho etaṃ,
ānanda, ariyassa aṭṭhaṅgikassa
maggassa adhivacanaṃ.
ayañhi sabbadosavigamena seṭṭho,
iminā ca ariyā nibbānaṃ
yantīti brahmayānaṃ
itipi, dhammabhūtattā yānattā ca dhammayānaṃ
itipi, anuttarattā kilesasaṅgāmassa
ca vijitattā anuttaro saṅgāmavijayo
itipi vattuṃ
vaṭṭati.
♦
idānissa niddosabhāvañceva saṅgāmavijayabhāvañca
dassento rāgavinayapariyosānātiādimāha. tattha rāgaṃ
vinayamānā pariyosāpeti pariyosānaṃ
gacchati nipphajjatīti rāgavinayapariyosānā. esa nayo sabbattha.
♦
yassa saddhā ca paññā cāti yassa ariyamaggayānassa
saddhānusārivasena saddhā, dhammānusārivasena paññāti ime dve
dhammā sadā dhuraṃ
yuttā, tatramajjhattatāyuge yuttāti attho. hirī īsāti attanā
saddhiṃ
adhiviṭṭhena
bahiddhāsamuṭṭhānena
ottappena saddhiṃ
ajjhattasamuṭṭhānā
hirī yassa maggarathassa īsā. mano yottanti vipassanācittañca
maggacittañca yottaṃ.
yathā hi rathassa vākādimayaṃ
yottaṃ
goṇe
ekābaddhe karoti ekasaṅgahite,
evaṃ
maggarathassa lokiyavipassanācittaṃ
atirekapaññāsa, lokuttaravipassanācittaṃ
atirekasaṭṭhi
kusaladhamme ekābaddhe ekasaṅgahe
karoti. tena vuttaṃ
“mano yottan”ti. sati ārakkhasārathīti maggasampayuttā sati
ārakkhasārathi. yathā hi rathassa ārakkho sārathi nāma yoggiyo.
dhuraṃ
vāheti yojeti akkhaṃ
abbhañjati rathaṃ
peseti rathayuttake nibbisevane karoti, evaṃ
maggarathassa sati. ayañhi ārakkhapaccupaṭṭhānā
ceva kusalākusalānañca dhammānaṃ
gatiyo samanvesatīti vuttā.
♦
rathoti ariyāṭṭhaṅgikamaggaratho.
sīlaparikkhāroti catupārisuddhisīlālaṅkāro.
jhānakkhoti vipassanāsampayuttānaṃ
pañcannaṃ
jhānaṅgānaṃ
vasena jhānamayākkho. cakkavīriyoti vīriyacakko,
kāyikacetasikasaṅkhātāni
dve vīriyāni assa cakkānīti attho. upekkhā dhurasamādhīti
dhurassa samādhi, unnatonatākārassa abhāvena dvinnampi
yugapadesānaṃ
samatāti attho. ayañhi tatramajjhattupekkhā cittuppādassa
līnuddhaccabhāvaṃ
haritvā payogamajjhatte cittaṃ
ṭhapeti,
tasmā imassa maggarathassa “dhurasamādhī”ti vuttā. anicchā
parivāraṇanti
bāhirakarathassa sīhacammādīni viya imassāpi ariyamaggarathassa
alobhasaṅkhātā
anicchā parivāraṇaṃ
nāma.
♦
abyāpādoti mettā ca mettāpubbabhāgo ca. avihiṃsāti
karuṇā
ca karuṇāpubbabhāgo
ca. vivekoti kāyavivekādi tividhaviveko. yassa āvudhanti yassa
ariyamaggarathe
ṭhitassa
kulaputtassa etaṃ
pañcavidhaṃ
āvudhaṃ.
yathā hi rathe
ṭhito
pañcahi āvudhehi sapatte vijjhati, evaṃ
yogāvacaropi imasmiṃ
lokiyalokuttaramaggarathe
ṭhito
mettāya dosaṃ
vijjhati, karuṇāya
vihiṃsaṃ,
kāyavivekena gaṇasaṅgaṇikaṃ,
cittavivekena kilesasaṅgaṇikaṃ,
upadhivivekena sabbākusalaṃ
vijjhati. tenassetaṃ
pañcavidhaṃ
“āvudhan”ti vuttaṃ.
titikkhāti duruttānaṃ
durāgatānaṃ
vacanapathānaṃ
adhivāsanakkhanti. cammasannāhoti sannaddhacammo. yathā hi rathe
ṭhito
rathiko paṭimukkacammo
āgatāgate sare khamati, na naṃ
te vijjhanti, evaṃ
adhivāsanakkhantisamannāgato bhikkhu āgatāgate vacanapathe
khamati, na naṃ
te vijjhanti. tasmā “titikkhā cammasannāho”ti vutto.
yogakkhemāya vattatīti catūhi yogehi khemāya nibbānāya vattati,
nibbānābhimukho gacchatiyeva, na tiṭṭhati
na bhijjatīti attho.
♦
etadattani sambhūtanti etaṃ
maggayānaṃ
attano purisakāraṃ
nissāya laddhattā attani sambhūtaṃ
nāma hoti. brahmayānaṃ
anuttaranti asadisaṃ
seṭṭhayānaṃ.
niyyanti dhīrā lokamhāti yesaṃ
etaṃ
yānaṃ
atthi, te dhīrā paṇḍitapurisā
lokamhā niyyanti gacchanti. aññadatthūti ekaṃsena.
jayaṃ
jayanti rāgādayo sapatte jinantā jinantā.
Sớ giải kinh Brāhmaṇo
Jāṇussoṇi
“Cỗ xe toàn trắng, kéo bởi ngựa cái”:
nghĩa là chiếc xe được kéo bởi bốn con ngựa cái, toàn thân đều
trắng. Toàn bộ bánh, trục, khung, mui đều được trang sức bằng
bạc.
Xe có hai loại: chiến xa (yodharatha) và
xe vận chuyển (alaṅkāraratha).
Ngựa trắng:
bốn con ngựa trắng tự nhiên, lại được trang sức bằng đồ bạc.
Không chỉ vậy, bản thân Jāṇussoṇi còn bôi phấn trắng, đeo hoa
trắng, nhẫn ngón tay, vòng tai đều bằng bạc. Các Bà-la-môn tùy
tùng khoảng 10.000 người cũng mặc đồ trắng, trang sức bạc, tay
cầm lọng trắng đi theo.
Cách diễu hành:
Cứ sáu tháng một lần, ông đi vòng quanh thành phố. Trước đó có
thông báo, dân chúng ở lại để xem. Ngày diễu hành, đường phố
được quét sạch, rải cát, rải hoa, dựng cờ lọng. Sáng hôm ấy ông
tắm gội, ăn sáng, trang sức toàn trắng, lên xe, các Bà-la-môn
vây quanh. Trẻ con ném trái cây, sau đó là đồng tiền, khiến dân
chúng kéo đến đông, reo hò, tung khăn. Người giàu trèo lên lầu
cao để nhìn xuống. Jāṇussoṇi đi quanh thành phố như bao phủ nó
bằng hào quang vinh hiển.
“Brahmaṃ vata bho yānaṃ”:
“Quả thật là cỗ xe tối thượng.” Nhưng giống như cha mẹ thuê
người hát ca ngợi con gái: “Đẹp thay, giàu thay”, lời ca ngợi ấy
không khiến cô đẹp giàu thật sự. Cũng thế, dân chúng ca ngợi “cỗ
xe thần thánh” nhưng thật ra chỉ là lời nói, không phải chân
thật. Thực chất, cỗ xe tối thượng chính là Bát Thánh đạo.
[Giải thích bài kệ ví dụ cỗ xe]
Tương Ưng Ðạo (a)
-ooOoo-
I. Phẩm Vô Minh
4.IV. Bà La Môn (S.iv,4)
1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
2) Tôn giả Ananda, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi vào
Sàvatthi để khất thực.
3) Rồi Tôn giả Ananda thấy Bà-la-môn Jànusoni đi xe ra khỏi
Sàvatthi, cỗ xe toàn ngựa trắng kéo. Trắng là những con ngựa kéo
xe. Trắng là những đồ trang sức. Trắng là cỗ xe. Trắng là những
bộ phận tùy thuộc (parivàro). Trắng là những sợi dây cương.
Trắng là cây gậy thúc ngựa. Trắng là cái lọng. Trắng là cái khăn
đội. Trắng là những quần áo. Trắng là giày mang. Và được quạt
với cái quạt trắng. Quần chúng thấy vậy, liền nói: "Thật là cỗ
xe thù thắng. Thật là cỗ xe thù thắng về dung sắc!"
4) Rồi Tôn giả Ananda đi khất thực ở Sàvatthi xong, sau bữa ăn,
trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn; sau khi đến,
đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả
Ananda bạch Thế Tôn:
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, vào buổi sáng, con đắp y, cầm y bát và
đi vào Sàvatthi để khất thực. Bạch Thế Tôn, con thấy Bà-la-môn
Jànusoni đi xe ra khỏi Sàvatthi, cỗ xe toàn ngựa trắng kéo.
Trắng là những con ngựa kéo xe... Thật là cỗ xe thù thắng về
dung sắc! Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể nói lên cỗ xe thù thắng
trong Pháp và Luật này?
Thế Tôn nói:
-- Có thể được, này Ananda. Thánh đạo Tám ngành này, này Ananda,
là đồng nghĩa với cỗ xe thù thắng, cỗ xe pháp này. Vô thượng là
sự chinh phục trong chiến trận.
5) Chánh tri kiến, này Ananda, được tu tập, được làm cho viên
mãn, cuối cùng đưa đến nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp
phục si. Chánh tư duy, này Ananda, cuối cùng đưa đến nhiếp phục
tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si. Chánh ngữ... Chánh
nghiệp... Chánh mạng... Chánh tinh tấn... Chánh niệm... Chánh
định, này Ananda, được tu tập, được làm cho viên mãn, cuối cùng
đưa đến nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si.
Này Ananda, chính với pháp môn này, các Ông cần phải hiểu như
thế này: "Cỗ xe thù thắng, cỗ xe pháp, vô thượng là sự chinh
phục trong chiến trận, là đồng nghĩa với Thánh đạo Tám ngành
này".
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Bậc Thiện Thệ nói như vậy xong,
bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Ai được tín, trí tuệ, ooOoo |