|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 04 tháng 10, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 517. MỤC ĐÍCH CỦA CUỘC TU - Kinh Mục Đích Là Gì? (Kimatthiyasuttaṃ), Kinh Một Tỳ Khưu Nọ I (Paṭhamāññatarabhikkhusuttaṃ), Kinh Một Tỳ Khưu Nọ II (Dutiyāññatarabhikkhusuttaṃ). ... .
Cuộc tu là một hành trình nhiều thử thách. Người tu
tập cần khẳng định rõ mục đích tối hậu là gì để không bị trôi
dạt. Đức Phật nêu rõ cứu cánh của phạm hạnh là đoạn tận phiền
não, thành tựu chánh trí, giải thoát tất cả khổ đau. Một khi đã
khẳng định được điều nầy sẽ hướng cầu đại nguyện giác ngộ giải
thoát mà không sợ sai đường.
Kinh Văn
Kinh Mục Đích Là Gì?
5. sāvatthinidānaṃ. atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā
tenupasaṅkamiṃsu ... pe ... ekamantaṃ nisīdiṃsu. ekamantaṃ
nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṃ etadavocuṃ — “idha no,
bhante, aññatitthiyā paribbājakā amhe evaṃ pucchanti —
‘kimatthiyaṃ, āvuso, samaṇe gotame brahmacariyaṃ vussatī’ti?
evaṃ puṭṭhā mayaṃ, bhante, tesaṃ aññatitthiyānaṃ paribbājakānaṃ
evaṃ byākaroma — ‘dukkhassa kho, āvuso, pariññatthaṃ bhagavati
brahmacariyaṃ vussatī’ti. kacci mayaṃ, bhante, evaṃ puṭṭhā evaṃ
byākaramānā vuttavādino ceva bhagavato homa, na ca bhagavantaṃ
abhūtena abbhācikkhāma, dhammassa cānudhammaṃ byākaroma, na ca
koci sahadhammiko vādānuvādo gārayhaṃ ṭhānaṃ āgacchatī”ti?
“taggha tumhe, bhikkhave, evaṃ puṭṭhā evaṃ byākaramānā
vuttavādino ceva me hotha, na ca maṃ abhūtena abbhācikkhatha,
dhammassa cānudhammaṃ byākarotha, na ca koci sahadhammiko
vādānuvādo gārayhaṃ ṭhānaṃ āgacchati. dukkhassa hi pariññatthaṃ
mayi brahmacariyaṃ vussati. sace vo, bhikkhave, aññatitthiyā
paribbājakā evaṃ puccheyyuṃ — ‘atthi panāvuso, maggo, atthi
paṭipadā etassa dukkhassa pariññāyā’ti, evaṃ puṭṭhā tumhe,
bhikkhave, tesaṃ aññatitthiyānaṃ paribbājakānaṃ evaṃ
byākareyyātha — ‘atthi kho, āvuso, maggo, atthi paṭipadā etassa
dukkhassa pariññāyā’”ti. “katamo ca, bhikkhave, maggo, katamā
paṭipadā etassa dukkhassa pariññāyāti? ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko
maggo, seyyathidaṃ — sammādiṭṭhi ... pe ... sammāsamādhi. ayaṃ,
bhikkhave, maggo, ayaṃ paṭipadā etassa dukkhassa pariññāyāti.
evaṃ puṭṭhā tumhe, bhikkhave, tesaṃ aññatitthiyānaṃ
paribbājakānaṃ evaṃ byākareyyāthā”ti. pañcamaṃ.
ṃ.
Bấy giờ, một số tỳ khưu đi đến Đức Thế Tôn, đảnh lễ và ngồi xuống một bên
và bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, có những du sĩ ngoại giáo hỏi chúng con rằng: ‘Này các hiền
giả, vì mục đích gì mà đời sống phạm hạnh được sống dưới sự
hướng dẫn của Sa-môn Gotama?’
Khi được hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, chúng con trả lời họ rằng: ‘Này các
hiền giả, đời sống phạm hạnh được sống dưới sự hướng dẫn của Thế
Tôn là để thành tựu sự liễu tri khổ đau.’
Bạch Thế Tôn, chúng con hy vọng rằng, khi trả lời như vậy, chúng con đã
nói đúng những gì Thế Tôn đã dạy, không xuyên tạc Ngài bằng
những điều trái sự thật, rằng chúng con giải thích đúng với
Pháp, và lời tuyên bố ấy không có căn cứ hợp lý nào để chỉ
trích.”
“Này các Tỳ khưu, thật vậy, khi các Thầy trả lời như thế, các Thầy đã nói
đúng những gì Như Lai đã dạy, không xuyên tạc Như Lai bằng điều
trái sự thật; các Thầy đã giảng đúng với Chánh Pháp, và lời
tuyên bố ấy không có căn cứ hợp lý nào để chỉ trích.”
Vì, này các Tỳ khưu, chính để liễu tri khổ đau mà đời sống phạm hạnh được
sống dưới sự hướng dẫn của Như Lai.
“Nếu, này các Tỳ khưu, những du sĩ thuộc các giáo phái khác hỏi các ông
rằng:
Khi được hỏi như vậy, các Thầy nên trả lời rằng: ‘Có con đường, này các
hiền giả, có phương pháp để liễu tri khổ đau ấy.’ “Và con đường
nào, phương pháp nào để liễu tri khổ đau ấy? Chính là Bát Thánh
Đạo này, tức là: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh
nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.
Đây là con đường, đây là phương pháp để liễu tri khổ đau ấy.
“Khi được hỏi vậy, này các Tỳ khưu, các Thầy nên trả lời những du sĩ ngoại
giáo như thế.”
Kinh Một Tỳ Khưu Nọ
I
6. sāvatthinidānaṃ. atha kho aññataro bhikkhu yena bhagavā
tenupasaṅkami ... pe ... ekamantaṃ nisinno kho so bhikkhu
bhagavantaṃ etadavoca — “‘brahmacariyaṃ, brahmacariyan’ti,
bhante, vuccati. katamaṃ nu kho, bhante, brahmacariyaṃ, katamaṃ
brahmacariyapariyosānan”ti? “ayameva kho, bhikkhu, ariyo
aṭṭhaṅgiko maggo brahmacariyaṃ, seyyathidaṃ — sammādiṭṭhi ... pe
... sammāsamādhi. yo kho, bhikkhu, rāgakkhayo dosakkhayo
mohakkhayo — idaṃ brahmacariyapariyosānan”ti. chaṭṭhaṃ.
ṃ.
Bấy giờ, một tỳ khưu đi đến Đức Thế Tôn, đảnh lễ và ngồi xuống một bên và
bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, bảo rằng: ‘Đời sống phạm hạnh, đời sống phạm hạnh.’
Đức Thế Tôn dạy:
Kinh Một Tỳ Khưu Nọ
II
7. sāvatthinidānaṃ. atha kho aññataro bhikkhu yena bhagavā
tenupasaṅkami ... pe ... ekamantaṃ nisinno kho so bhikkhu
bhagavantaṃ etadavoca — “‘rāgavinayo dosavinayo mohavinayo’ti,
bhante, vuccati. kissa nu kho etaṃ, bhante, adhivacanaṃ —
‘rāgavinayo dosavinayo mohavinayo’”ti? “nibbānadhātuyā kho etaṃ,
bhikkhu, adhivacanaṃ — ‘rāgavinayo dosavinayo mohavinayo’ti.
āsavānaṃ khayo tena vuccatī”ti. evaṃ vutte so bhikkhu
bhagavantaṃ etadavoca — “‘amataṃ, amatan’ti, bhante, vuccati.
katamaṃ nu kho, bhante, amataṃ, katamo amatagāmimaggo”ti? “yo
kho, bhikkhu, rāgakkhayo dosakkhayo mohakkhayo — idaṃ vuccati
amataṃ. ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo amatagāmimaggo,
seyyathidaṃ — sammādiṭṭhi ... pe ... sammāsamādhī”ti. sattamaṃ.
ṃ.
Thế Tôn dạy:
Khi điều ấy được nói, vị Tỳ-kheo ấy lại bạch Thế Tôn rằng:
Thế Tôn dạy:
Chú Thích
Từ eva trong câu “Ayam eva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo” (Chính
con đường Thánh tám ngành này) mang nghĩa duy nhất, không có con
đường nào khác.
“Vaṭṭadukkha” là khổ của luân hồi, tức khổ được chịu đựng
trong vòng sinh tử.
Theo Sớ Giải, “Missaka-magga” là con đường kết hợp, tức bao
gồm cả định và tuệ, không chỉ thiên về một mặt.
Amata: “Bất tử” – từ gốc a+mara, nghĩa là
“không chết”, “vượt ngoài tử sanh”; một danh từ đồng nghĩa với
Nibbāna.“Niết-bàn được gọi là Bất tử, bởi vì ở đó không còn sự
sanh diệt.” Và con đường để chứng đạt trạng thái Bất tử ấy chính
là Bát Thánh Đạo.Do đó, câu trả lời của Thế Tôn cho vị Tỳ-kheo
là một sự tổng hợp toàn diện: chỉ rõ đối tượng cứu cánh
(Niết-bàn), đặc tính của niết bàn (Bất tử),và phương pháp để
chứng ngộ (Bát Thánh Đạo).
Sớ Giải
5-6. pañcame ayamevāti evasaddo niyamattho. tena aññaṃ
maggaṃ paṭikkhipati. imasmiṃ sutte vaṭṭadukkhañceva missakamaggo
ca kathito. chaṭṭhaṃ uttānameva.
(Kinh thứ năm và thứ sáu)
Chú giải về Kinh thứ bảy
Sattame rāgādīnaṃ pahānanti nibbānadhātuyā adhivacanaṃ.
“Amataṃ amataṃ”ti vuttanti nibbānassa nāmaṃ. “Amatassa maggo”ti
ariyo aṭṭhaṅgiko maggo. Tena amatadhātuyā sacchikiriyāya maggo
kathito hoti.
(Kinh thứ bảy)
Câu nói “Bất tử, Bất tử” (Amataṃ, amataṃ)
Và “Con đường đưa đến Bất tử” (amatassa maggo)
Do vậy, ở đây, con đường được nói đến là con đường dẫn đến chứng ngộ
Niết-bàn giới (amatadhātuyā sacchikiriyāya maggo kathito hoti).
Tương Ưng Ðạo (a)
-ooOoo-
I. Phẩm Vô Minh
5.V. Với Mục Ðích
Gì? (S.v,6)
1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
2) Rồi rất nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh
lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
3) Ngồi một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, các du sĩ ngoại đạo đến hỏi chúng
con: "Này chư Hiền, vì mục đích gì, Phạm hạnh được sống dưới
Sa-môn Gotama?" Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, chúng con trả lời
các du sĩ ngoại đạo ấy như sau: "Này chư Hiền, với mục đích liễu
tri đau khổ, Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama". Ðược hỏi
như vậy và trả lời như vậy, bạch Thế Tôn, có phải chúng con trả
lời đúng với lời nói Thế Tôn, chúng con không xuyên tạc Thế Tôn
với điều không thật, chúng con trả lời đúng pháp và thuận pháp,
và những ai là vị đồng pháp, nói lời đúng pháp và thuận pháp,
không có cơ hội để chỉ trích?
4) -- Này các Tỷ-kheo, các Ông được hỏi như vậy và trả lời
như vậy là các Ông trả lời đúng với lời của Ta, các Ông không
xuyên tạc Ta với điều không thật, các Ông trả lời đúng pháp và
thuận pháp, và những ai là vị đồng pháp, nói lời đúng pháp và
thuận pháp, không có cơ hội để chỉ trích. Này các Tỷ-kheo, do
mục đích liễu tri đau khổ mà Phạm hạnh được sống dưới Ta. Này
các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi các Ông: "Này Hiền giả,
có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến liễu tri đau khổ này?"
Ðược hỏi vậy, thời các Ông hãy trả lời cho các du sĩ ngoại đạo
ấy như sau: "Này chư Hiền, có con đường, có đạo lộ đưa đến liễu
tri đau khổ này".
5) Này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường, thế nào là đạo lộ
đưa đến liễu tri đau khổ? Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành,
tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp,
chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này các
Tỷ-kheo, đây là con đường, đây là đạo lộ đưa đến liễu tri sự đau
khổ này.
6) Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải trả lời
cho các du sĩ ngoại đạo ấy như vậy.
6.VI. Một Tỷ Kheo
Khác (1) (S.iv,7)
1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
2) Rồi một Tỷ-kheo khác đi đến Thế Tôn...
3) Ngồi một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- "Phạm hạnh, Phạm hạnh", bạch Thế Tôn, được nói đến như
vậy. Bạch Thế Tôn, thế nào là Phạm hạnh? Thế nào là cứu cánh
Phạm hạnh?
-- Này Tỷ-kheo, con đường Thánh đạo Tám ngành này là Phạm
hạnh, tức là chánh tri kiến... chánh định. Này Tỷ-kheo, đoạn tận
tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, đây là cứu cánh Phạm hạnh.
7.VII. Một Tỷ Kheo
Khác (2) (S.iv,8)
1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
2) Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến...
3) Ngồi một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
--"Nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si", bạch Thế
Tôn, được gọi là như vậy. Ðồng nghĩa với gì, bạch Thế Tôn, là
nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si?
-- Ðồng nghĩa với Niết-bàn giới là nhiếp phục tham, nhiếp
phục sân, nhiếp phục si, cũng được gọi là đoạn tận các lậu hoặc.
4) Khi được nói vậy, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- "Bất tử, bất tử", bạch Thế Tôn, được gọi là như vậy. Thế
nào là bất tử, bạch Thế Tôn? Thế nào là con đường đưa đến bất
tử?
-- Ðoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, này Tỷ-kheo,
được gọi là bất tử. Con đường Thánh đạo Tám ngành này là con
đường đưa đến bất tử, tức là chánh tri kiến... chánh định. ooOoo |