BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 04 tháng 10, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 45, Tương Ưng Đạo. Phẩm Vô Minh. SN 45.5, 45.6, 45.7
Bài 517. MỤC ĐÍCH CỦA CUỘC TU - Kinh Mục Đích Là Gì? (Kimatthiyasuttaṃ), Kinh Một Tỳ Khưu Nọ I (Paṭhamāññatarabhikkhusuttaṃ), Kinh Một Tỳ Khưu Nọ II (Dutiyāññatarabhikkhusuttaṃ).

... .
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-517.jpg
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png
Cuộc tu là một hành trình nhiều thử thách. Người tu tập cần khẳng định rõ mục đích tối hậu là gì để không bị trôi dạt. Đức Phật nêu rõ cứu cánh của phạm hạnh là đoạn tận phiền não, thành tựu chánh trí, giải thoát tất cả khổ đau. Một khi đã khẳng định được điều nầy sẽ hướng cầu đại nguyện giác ngộ giải thoát mà không sợ sai đường.

Kinh Văn

Kinh Mục Đích Là Gì?

5. sāvatthinidānaṃ. atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṃsu ... pe ... ekamantaṃ nisīdiṃsu. ekamantaṃ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṃ etadavocuṃ — “idha no, bhante, aññatitthiyā paribbājakā amhe evaṃ pucchanti — ‘kimatthiyaṃ, āvuso, samaṇe gotame brahmacariyaṃ vussatī’ti? evaṃ puṭṭhā mayaṃ, bhante, tesaṃ aññatitthiyānaṃ paribbājakānaṃ evaṃ byākaroma — ‘dukkhassa kho, āvuso, pariññatthaṃ bhagavati brahmacariyaṃ vussatī’ti. kacci mayaṃ, bhante, evaṃ puṭṭhā evaṃ byākaramānā vuttavādino ceva bhagavato homa, na ca bhagavantaṃ abhūtena abbhācikkhāma, dhammassa cānudhammaṃ byākaroma, na ca koci sahadhammiko vādānuvādo gārayhaṃ ṭhānaṃ āgacchatī”ti? “taggha tumhe, bhikkhave, evaṃ puṭṭhā evaṃ byākaramānā vuttavādino ceva me hotha, na ca maṃ abhūtena abbhācikkhatha, dhammassa cānudhammaṃ byākarotha, na ca koci sahadhammiko vādānuvādo gārayhaṃ ṭhānaṃ āgacchati. dukkhassa hi pariññatthaṃ mayi brahmacariyaṃ vussati. sace vo, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā evaṃ puccheyyuṃ — ‘atthi panāvuso, maggo, atthi paṭipadā etassa dukkhassa pariññāyā’ti, evaṃ puṭṭhā tumhe, bhikkhave, tesaṃ aññatitthiyānaṃ paribbājakānaṃ evaṃ byākareyyātha — ‘atthi kho, āvuso, maggo, atthi paṭipadā etassa dukkhassa pariññāyā’”ti. “katamo ca, bhikkhave, maggo, katamā paṭipadā etassa dukkhassa pariññāyāti? ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṃ — sammādiṭṭhi ... pe ... sammāsamādhi. ayaṃ, bhikkhave, maggo, ayaṃ paṭipadā etassa dukkhassa pariññāyāti. evaṃ puṭṭhā tumhe, bhikkhave, tesaṃ aññatitthiyānaṃ paribbājakānaṃ evaṃ byākareyyāthā”ti. pañcamaṃ. .Nhân duyên ở Sāvatthī.

Bấy giờ, một số tỳ khưu đi đến Đức Thế Tôn, đảnh lễ và ngồi xuống một bên và bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, có những du sĩ ngoại giáo hỏi chúng con rằng: ‘Này các hiền giả, vì mục đích gì mà đời sống phạm hạnh được sống dưới sự hướng dẫn của Sa-môn Gotama?’

Khi được hỏi như vậy, bạch Thế Tôn, chúng con trả lời họ rằng: ‘Này các hiền giả, đời sống phạm hạnh được sống dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn là để thành tựu sự liễu tri khổ đau.’

Bạch Thế Tôn, chúng con hy vọng rằng, khi trả lời như vậy, chúng con đã nói đúng những gì Thế Tôn đã dạy, không xuyên tạc Ngài bằng những điều trái sự thật, rằng chúng con giải thích đúng với Pháp, và lời tuyên bố ấy không có căn cứ hợp lý nào để chỉ trích.”

“Này các Tỳ khưu, thật vậy, khi các Thầy trả lời như thế, các Thầy đã nói đúng những gì Như Lai đã dạy, không xuyên tạc Như Lai bằng điều trái sự thật; các Thầy đã giảng đúng với Chánh Pháp, và lời tuyên bố ấy không có căn cứ hợp lý nào để chỉ trích.”

Vì, này các Tỳ khưu, chính để liễu tri khổ đau mà đời sống phạm hạnh được sống dưới sự hướng dẫn của Như Lai.

“Nếu, này các Tỳ khưu, những du sĩ thuộc các giáo phái khác hỏi các ông rằng:
‘Này các hiền giả, có con đường, có phương pháp nào để liễu tri khổ đau ấy chăng?’

Khi được hỏi như vậy, các Thầy nên trả lời rằng: ‘Có con đường, này các hiền giả, có phương pháp để liễu tri khổ đau ấy.’ “Và con đường nào, phương pháp nào để liễu tri khổ đau ấy? Chính là Bát Thánh Đạo này, tức là: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.

Đây là con đường, đây là phương pháp để liễu tri khổ đau ấy.

“Khi được hỏi vậy, này các Tỳ khưu, các Thầy nên trả lời những du sĩ ngoại giáo như thế.”


Kinh Một Tỳ Khưu Nọ I

6. sāvatthinidānaṃ. atha kho aññataro bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami ... pe ... ekamantaṃ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṃ etadavoca — “‘brahmacariyaṃ, brahmacariyan’ti, bhante, vuccati. katamaṃ nu kho, bhante, brahmacariyaṃ, katamaṃ brahmacariyapariyosānan”ti? “ayameva kho, bhikkhu, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo brahmacariyaṃ, seyyathidaṃ — sammādiṭṭhi ... pe ... sammāsamādhi. yo kho, bhikkhu, rāgakkhayo dosakkhayo mohakkhayo — idaṃ brahmacariyapariyosānan”ti. chaṭṭhaṃ. .Nhân duyên ở Sāvatthī.

Bấy giờ, một tỳ khưu đi đến Đức Thế Tôn, đảnh lễ và ngồi xuống một bên và bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, bảo rằng: ‘Đời sống phạm hạnh, đời sống phạm hạnh.’
Bạch Thế Tôn, thế nào là đời sống phạm hạnh? Mục đích tối hậu của đời sống phạm hạnh là gì?”

Đức Thế Tôn dạy:
“Này Tỳ khưu, Bát Thánh Đạo này chính là đời sống phạm hạnh, tức là:
Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Và, sự đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si — đó là mục đích tối hậu của đời sống phạm hạnh.”


Kinh Một Tỳ Khưu Nọ II

7. sāvatthinidānaṃ. atha kho aññataro bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami ... pe ... ekamantaṃ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṃ etadavoca — “‘rāgavinayo dosavinayo mohavinayo’ti, bhante, vuccati. kissa nu kho etaṃ, bhante, adhivacanaṃ — ‘rāgavinayo dosavinayo mohavinayo’”ti? “nibbānadhātuyā kho etaṃ, bhikkhu, adhivacanaṃ — ‘rāgavinayo dosavinayo mohavinayo’ti. āsavānaṃ khayo tena vuccatī”ti. evaṃ vutte so bhikkhu bhagavantaṃ etadavoca — “‘amataṃ, amatan’ti, bhante, vuccati. katamaṃ nu kho, bhante, amataṃ, katamo amatagāmimaggo”ti? “yo kho, bhikkhu, rāgakkhayo dosakkhayo mohakkhayo — idaṃ vuccati amataṃ. ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo amatagāmimaggo, seyyathidaṃ — sammādiṭṭhi ... pe ... sammāsamādhī”ti. sattamaṃ. . “Bạch Thế Tôn, bảo rằng: ‘Sự đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si .’ Bạch Thế Tôn, dùng để gọi pháp nào?”

Thế Tôn dạy:
“Này Tỳ-kheo, đây là danh xưng của Niết-bàn giới (Nibbanadhātu): ‘Sự đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si ’ — sự đoạn diệt các lậu hoặc được gọi như vậy.”

Khi điều ấy được nói, vị Tỳ-kheo ấy lại bạch Thế Tôn rằng:
“Bạch Thế Tôn, bảo rằng: ‘Bất tử, Bất tử.’ Bạch Thế Tôn, thế nào là Bất tử? Con đường nào đưa đến Bất tử?”

Thế Tôn dạy:
“Sự đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si — đó gọi là Bất tử. Và Bát Thánh Đạo này là con đường đưa đến Bất tử, tức là: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.”

Chú Thích
Ba bài kinh nầy tuy có khác về duyên sự và ngôn từ nhưng có cùng nội dung nói về mục đích tối hậu của cuộc tu. Cứu cánh của Phạm hạnh là đoạn tận phiền não, thành tựu chánh trí, chứng ngộ niết bàn. Do vậy gom chung ba bài cho một buổi giảng.

Từ eva trong câu “Ayam eva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo” (Chính con đường Thánh tám ngành này) mang nghĩa duy nhất, không có con đường nào khác.

“Vaṭṭadukkha” là khổ của luân hồi, tức khổ được chịu đựng trong vòng sinh tử.

Theo Sớ Giải, “Missaka-magga” là con đường kết hợp, tức bao gồm cả định và tuệ, không chỉ thiên về một mặt.

Amata: “Bất tử” – từ gốc a+mara, nghĩa là “không chết”, “vượt ngoài tử sanh”; một danh từ đồng nghĩa với Nibbāna.“Niết-bàn được gọi là Bất tử, bởi vì ở đó không còn sự sanh diệt.” Và con đường để chứng đạt trạng thái Bất tử ấy chính là Bát Thánh Đạo.Do đó, câu trả lời của Thế Tôn cho vị Tỳ-kheo là một sự tổng hợp toàn diện: chỉ rõ đối tượng cứu cánh (Niết-bàn), đặc tính của niết bàn (Bất tử),và phương pháp để chứng ngộ (Bát Thánh Đạo).

Sớ Giải

5-6. pañcame ayamevāti evasaddo niyamattho. tena aññaṃ maggaṃ paṭikkhipati. imasmiṃ sutte vaṭṭadukkhañceva missakamaggo ca kathito. chaṭṭhaṃ uttānameva.

(Kinh thứ năm và thứ sáu)
Trong kinh thứ năm, chữ “eva” (chính là, chỉ có vậy) mang nghĩa xác định, nhấn mạnh (niyamattha). Bằng chữ ấy, Thế Tôn phủ nhận mọi con đường khác, ngoài con đường này. Trong bài kinh này, Ngài nói về cả khổ trong luân hồi (vaṭṭadukkha) và con đường hỗn hợp (missaka-magga) – tức con đường gồm cả thiền định và trí tuệ.
Còn bài kinh thứ sáu thì rất rõ ràng, hiển nhiên (uttānameva).


Chú giải về Kinh thứ bảy

Sattame rāgādīnaṃ pahānanti nibbānadhātuyā adhivacanaṃ. “Amataṃ amataṃ”ti vuttanti nibbānassa nāmaṃ. “Amatassa maggo”ti ariyo aṭṭhaṅgiko maggo. Tena amatadhātuyā sacchikiriyāya maggo kathito hoti.

(Kinh thứ bảy)
Cụm từ “sự đoạn trừ tham ái, sân hận, si mê” (rāgādīnaṃ pahānaṃ)
— là một cách gọi (adhivacana) của Niết-bàn giới (nibbānadhātu).

Câu nói “Bất tử, Bất tử” (Amataṃ, amataṃ)
— là một danh xưng của Niết-bàn (nibbānassa nāmaṃ).

Và “Con đường đưa đến Bất tử” (amatassa maggo)
— chính là Thánh đạo tám chi phần (ariyo aṭṭhaṅgiko maggo).

Do vậy, ở đây, con đường được nói đến là con đường dẫn đến chứng ngộ Niết-bàn giới (amatadhātuyā sacchikiriyāya maggo kathito hoti).

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tương Ưng Ðạo (a)

-ooOoo-

I. Phẩm Vô Minh

5.V. Với Mục Ðích Gì? (S.v,6)

1) Nhân duyên ở Sàvatthi.

2) Rồi rất nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3) Ngồi một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- Ở đây, bạch Thế Tôn, các du sĩ ngoại đạo đến hỏi chúng con: "Này chư Hiền, vì mục đích gì, Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama?" Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, chúng con trả lời các du sĩ ngoại đạo ấy như sau: "Này chư Hiền, với mục đích liễu tri đau khổ, Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama". Ðược hỏi như vậy và trả lời như vậy, bạch Thế Tôn, có phải chúng con trả lời đúng với lời nói Thế Tôn, chúng con không xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật, chúng con trả lời đúng pháp và thuận pháp, và những ai là vị đồng pháp, nói lời đúng pháp và thuận pháp, không có cơ hội để chỉ trích?

4) -- Này các Tỷ-kheo, các Ông được hỏi như vậy và trả lời như vậy là các Ông trả lời đúng với lời của Ta, các Ông không xuyên tạc Ta với điều không thật, các Ông trả lời đúng pháp và thuận pháp, và những ai là vị đồng pháp, nói lời đúng pháp và thuận pháp, không có cơ hội để chỉ trích. Này các Tỷ-kheo, do mục đích liễu tri đau khổ mà Phạm hạnh được sống dưới Ta. Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi các Ông: "Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến liễu tri đau khổ này?" Ðược hỏi vậy, thời các Ông hãy trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như sau: "Này chư Hiền, có con đường, có đạo lộ đưa đến liễu tri đau khổ này".

5) Này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường, thế nào là đạo lộ đưa đến liễu tri đau khổ? Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này các Tỷ-kheo, đây là con đường, đây là đạo lộ đưa đến liễu tri sự đau khổ này.

6) Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như vậy.

6.VI. Một Tỷ Kheo Khác (1) (S.iv,7)

1) Nhân duyên ở Sàvatthi.

2) Rồi một Tỷ-kheo khác đi đến Thế Tôn...

3) Ngồi một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- "Phạm hạnh, Phạm hạnh", bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, thế nào là Phạm hạnh? Thế nào là cứu cánh Phạm hạnh?

-- Này Tỷ-kheo, con đường Thánh đạo Tám ngành này là Phạm hạnh, tức là chánh tri kiến... chánh định. Này Tỷ-kheo, đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, đây là cứu cánh Phạm hạnh.

7.VII. Một Tỷ Kheo Khác (2) (S.iv,8)

1) Nhân duyên ở Sàvatthi.

2) Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến...

3) Ngồi một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

--"Nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si", bạch Thế Tôn, được gọi là như vậy. Ðồng nghĩa với gì, bạch Thế Tôn, là nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si?

-- Ðồng nghĩa với Niết-bàn giới là nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si, cũng được gọi là đoạn tận các lậu hoặc.

4) Khi được nói vậy, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- "Bất tử, bất tử", bạch Thế Tôn, được gọi là như vậy. Thế nào là bất tử, bạch Thế Tôn? Thế nào là con đường đưa đến bất tử?

-- Ðoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, này Tỷ-kheo, được gọi là bất tử. Con đường Thánh đạo Tám ngành này là con đường đưa đến bất tử, tức là chánh tri kiến... chánh định.

ooOoo