BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Hai, ngày 06 tháng 10, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 45, Tương Ưng Đạo. Phẩm Vô Minh. SN 45.8
Bài 518. ĐỂ HIỂU BÁT CHÁNH ĐẠO - Kinh Phân Tích (Vibhaṅgasuttaṃ) .

... .
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-518.jpg
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png
Bát chánh đạo là câu trả lời của Đức Phật đối với câu: Thế nào là con đường thoát khổ?. Chính vì thế gọi bát chánh đạo là “đạo đế”. Đức Phật cũng đưa ra lời dạy cụ thể từng chi phần của tám pháp nầy. Sự tế nhị nhận thức qua pháp học, pháp hành, pháp thành với cách liệt kê và định nghĩa qua tam học, bát thánh đạo, tám đạo chi cho thấy sự kết hợp nhuần nhuyễn của tám pháp không phải là khái niệm đạo đức mà là  những pháp thực tánh cần tự thân tu tập và chứng nghiệm.

Kinh Văn

 8. sāvatthinidānaṃ. “ariyaṃ vo, bhikkhave, aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ desessāmi vibhajissāmi.
taṃ suṇātha, sādhukaṃ manasi karotha; bhāsissāmī”ti. “evaṃ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato
paccassosuṃ. bhagavā etadavoca —
“katamo ca, bhikkhave, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo? seyyathidaṃ — sammādiṭṭhi ... pe ... sammāsamādhi.
“katamā ca, bhikkhave, sammādiṭṭhi? yaṃ kho, bhikkhave, dukkhe ñāṇaṃ, dukkhasamudaye ñāṇaṃ,
dukkhanirodhe ñāṇaṃ, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya ñāṇaṃ — ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammādiṭṭhi. “katamo ca, bhikkhave, sammāsaṅkappo? yo kho, bhikkhave, nekkhammasaṅkappo, abyāpādasaṅkappo, avihiṃsāsaṅkappo — ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammāsaṅkappo.
“katamā ca, bhikkhave, sammāvācā? yā kho, bhikkhave, musāvādā veramaṇī, pisuṇāya vācāya veramaṇī, pharusāya vācāya veramaṇī, samphappalāpā veramaṇī — ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammāvācā. “katamo ca, bhikkhave, sammākammanto? yā kho, bhikkhave, pāṇātipātā veramaṇī, adinnādānā veramaṇī, abrahmacariyā veramaṇī — ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammākammanto.
“katamo ca, bhikkhave, sammāājīvo? idha, bhikkhave, ariyasāvako micchāājīvaṃ pahāya sammāājīvena jīvitaṃ kappeti — ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammāājīvo.
“katamo ca, bhikkhave, sammāvāyāmo? idha, bhikkhave, bhikkhu anuppannānaṃ pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ anuppādāya chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahati, uppannānaṃ pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ pahānāya chandaṃ janeti ... pe ... anuppannānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ uppādāya chandaṃ janeti ... pe ... uppannānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ ṭhitiyā asammosāya bhiyyobhāvāya vepullāya bhāvanāya pāripūriyā chandaṃ janeti vāyamati vīriyaṃ ārabhati cittaṃ paggaṇhāti padahati — ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammāvāyāmo.
“katamā ca, bhikkhave, sammāsati? idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī
sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; vedanāsu vedanānupassī viharati ātāpī
sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; citte cittānupassī viharati ātāpī sampajāno
satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ — ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammāsati.
“katamo ca, bhikkhave, sammāsamādhi? idha, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi
dhammehi savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja viharati.
vitakkavicārānaṃ vūpasamā ajjhattaṃ sampasādanaṃ cetaso ekodibhāvaṃ avitakkaṃ avicāraṃ samādhijaṃ pītisukhaṃ dutiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṃvedeti, yaṃ taṃ ariyā ācikkhanti — ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva  somanassadomanassānaṃ atthaṅgamā adukkhamasukhaṃ upekkhāsatipārisuddhiṃ catutthaṃ jhānaṃ upasampajja viharati — ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammāsamādhī”ti. aṭṭhamaṃ.

Nhân duyên tại Sāvatthī.

“Này các Tỳ khưu, Như Lai sẽ giảng và phân tích cho các Thầy về Bát Thánh Đạo.
Hãy lắng nghe kỹ và chú tâm, Như Lai sẽ nói.”

“Dạ thưa vâng, bạch Thế Tôn,” các Tỳ khưu trả lời. Đức Thế Tôn nói:

“Và này các Tỳ khưu, thế nào là Bát Thánh Đạo?
Đó là: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

“Này các Tỳ khưu, thế nào là chánh kiến?
Đó là tri kiến về khổ, tri kiến về tập khởi của khổ, tri kiến về sự diệt tận của khổ, và tri kiến về con đường đưa đến sự diệt tận của khổ — đây được gọi là chánh kiến.

“Này các Tỳ khưu, thế nào là chánh tư duy?
Đó là tư duy ly tham, tư duy vô sân, tư duy bất hại — đây được gọi là chánh tư duy.

“Này các Tỳ khưu, , thế nào là chánh ngữ?
Đó là: Từ bỏ nói dối, từ bỏ nói hai lưỡi (chia rẽ), từ bỏ nói lời thô ác, và từ bỏ nói lời phù phiếm, vô ích — đây được gọi là chánh ngữ.

“Này các Tỳ khưu, , thế nào là chánh nghiệp? Đó là:
Từ bỏ sát sanh,từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ trược hạnh — đây được gọi là chánh nghiệp.

“Này các Tỳ khưu, , thế nào là chánh mạng (sammāājīva)?
Ở đây, vị Thánh đệ tử từ bỏ tà mạng, và nuôi sống bằng chánh mạng — đây được gọi là chánh mạng.

“Này các Tỳ khưu, thế nào là chánh tinh tấn?
Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu khởi lên ước muốn, nỗ lực và tinh cần để:Ngăn ngừa các pháp bất thiện chưa sanh không cho sanh khởi; diệt trừ các pháp bất thiện đã sanh; làm phát sanh các pháp thiện chưa sanh; duy trì, tăng trưởng, mở rộng và viên mãn các pháp thiện đã sanh. Vị ấy tinh cần, kiên trì, chuyên tâm và tinh tấn. Đó được gọi là chánh tinh tấn.

“Này các Tỳ khưu, thế nào là chánh niệm (sammāsati)?
Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu sống quán thân nơi thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đoạn trừ tham ưu ở đời. Sống quán thọ nơi thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đoạn trừ tham ưu ở đời. Sống quán tâm nơi tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đoạn trừ tham ưu ở đời. Sống quán pháp nơi pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đoạn trừ tham ưu ở đời. Đó được gọi là chánh niệm.

“Này các Tỳ khưu, thế nào là chánh định (sammāsamādhi)?
Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu, ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và an trú sơ thiền, có tầm, tứ, hỷ lạc sinh do ly dục.

Diệt tầm và tứ, nội tâm nhất tâm, không tầm không tứ, có hỷ lạc sinh do định, chứng và an trú nhị thiền.

Do ly hỷ, trú xả, niệm và tỉnh giác, cảm thọ lạc thọ nơi thân, mà các bậc Thánh nói:

“Vị này sống xả, niệm, lạc trú.” — vị ấy chứng và an trú tam thiền.

Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, vị ấy chứng và an trú tứ thiền, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.

Đây được gọi là chánh định.”

Chú Thích

Các định nghĩa về các chi phần của Thánh đạo được trình bày dưới đây cũng có trong Trường Bộ Kinh (DN I, 311–313) và Trung Bộ Kinh (MN I, 251–252).

Trong Thắng Pháp Tạng (Abhidhamma Piṭaka), các định nghĩa này được đưa vào phần trình bày chính thức về Thánh đạo theo phương pháp Kinh tạng (Suttantabhājaniya) tại Vibhaṅga (Vibh 235–236) — (nhưng xem chú thích kế tiếp).Còn trong phần Abhidhamma-bhājaniya của cùng bộ, các chi phần của Thánh đạo được xem là hoàn toàn thuộc siêu thế (lokuttara), tức là chỉ xuất hiện trong tâm đạo (magga-citta) và quả tâm (phala-citta), chứ không được xem là hữu lậu hay thế tục.

Mỗi chi đạo trước khi chứng ngộ thì có nhiều hình thái khác nhau trong đời sống bình thường (trong tập hiệp thế). Khi tâm đạo – maggacitta-  khởi lên, tất cả hợp nhất thành tám yếu tố siêu thế (lokuttara maggaṅga) — Bát Thánh Đạo đích thực; là đỉnh điểm của tuệ minh sát, là tâm siêu thế diệt trừ phiền não, chứng ngộ Niết-bàn.

Tất cả các ấn bản của Tương Ưng Bộ Kinh (Saṃyutta Nikāya) ở chỗ này đều ghi là “abrahmacariyā veramaṇī” — nghĩa là “từ bỏ phi phạm hạnh hay trược hạnh chỉ cho quan hệ nhục dục”, nhưng ở những chỗ khác lại có bản đọc “kāmesu micchācārā veramaṇī”, nghĩa là “từ bỏ tà hạnh nghĩa là quan hệ nam nữ bất chính” (xem: DN I 312, 12–13; MN I 74, 22; MN I 251, 24–25; Vibh 235, 18–19). Cụm “abrahmacariyā veramaṇī” là câu được dùng trong giới luật của Tỳ khưu và Tỳ khưu ni, trong khi “kāmesu micchācārā veramaṇī” là câu được dùng trong giới của cư sĩ tại gia. Sớ giải Tương Ưng Bộ không bình luận gì về điểm này. Ngài Bodhi đã chọn dịch theo bản đọc đúng hơn là “kāmesu micchācārā veramaṇī” — “từ bỏ tà hạnh” theo cách nhất quán đối với phần lớn bản kinh khác nêu trên và cũng cho phần chú thích điểm nầy.

Bát Chánh Đạo là trọng tâm của toàn bộ giáo pháp Đức Phật, là con đường thực tiễn đưa đến chấm dứt khổ đau (dukkhanirodha), và là sự triển khai cụ thể của Trung đạo (Majjhimā Paṭipadā) — con đường tránh xa hai cực đoan: đắm nhiễm dục lạc và hành hạ thân xác.

Bát Chánh Đạo là con đường toàn diện và phải thực hành với sự kết hợp nhuần nhuyễn. Tám yếu tố của đạo — Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định — không phải là tám con đường riêng biệt, mà là tám mặt của một lối sống giải thoát duy nhất.

Trên phương diện ứng dụng có thể ghi nhận theo cách sau:

  • Chánh kiến là nền tảng — thấy biết đúng như thật về khổ, nhân của khổ, sự diệt khổ và con đường diệt khổ.
  • Chánh tư duy là định hướng của tâm — hướng về từ bỏ, từ bi và bất hại.
  • Chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng là sự thanh tịnh về hành vi, biểu hiện của giới (sīla).
  • Chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định là sự phát triển của tâm, thuộc phần định (samādhi) và tuệ (paññā).

Như vậy, Bát Chánh Đạo là sự hòa hợp giữa Giới – Định – Tuệ, không thiên lệch về bất kỳ mặt nào.

Đây là con đường tự thân hành trì và chứng nghiệm chứ không phải cầu xin. Bát Chánh Đạo không phải là điều để cầu nguyện hay mong ban phát, mà là con đường mỗi người phải tự mình đi. Đức Phật chỉ chỉ đường, nhưng người đi phải là chính ta. “Các con hãy tự mình là hòn đảo cho chính mình, tự mình là nơi nương tựa, không nương tựa nơi nào khác.”(Mahāparinibbāna Sutta). Thực hành Bát Chánh Đạo chính là trở về với nội tâm, thanh lọc từng hành vi, từng lời nói, từng ý nghĩ, để đạt tới tâm thuần tịnh và trí tuệ giải thoát.

Mục tiêu của bát chánh đạo là dẫn đến đích điểm giác ngộ, giải thoát. Khi tám yếu tố này hỗ trợ và thấm nhập lẫn nhau, hành giả vượt qua vô minh và ái dục, đạt tới tự do tối thượng – Niết-bàn (Nibbāna).

Sớ Giải

 8. Aṭṭhame katamā ca bhikkhave sammādiṭṭhīti ekena pariyāyena aṭṭhaṅgikamaggaṃ vibhajitvā
puna aparena pariyāyena vibhajitukāmo idaṃ desanaṃ ārabhi. tattha dukkhe ñāṇanti
savanasammasanapaṭivedhapaccavekkhaṇavasena catūhākārehi uppannaṃ ñāṇaṃ. samudayepi
eseva nayo. sesesu pana dvīsu sammasanassa abhāvā tividhameva vaṭṭati. evametaṃ “dukkhe
ñāṇan”tiādinā catusaccakammaṭṭhānaṃ dassitaṃ. ♦ tattha purimāni dve saccāni vaṭṭaṃ, pacchimāni
vivaṭṭaṃ. tesu bhikkhuno vaṭṭe kammaṭṭhānābhiniveso hoti, vivaṭṭe natthi abhiniveso.
purimāni hi dve saccāni “pañcakkhandhā dukkhaṃ, taṇhā samudayo”ti evaṃ saṅkhepena ca,
“katame pañcakkhandhā rūpakkhandho”tiādinā nayena vitthārena ca ācariyasantike uggaṇhitvā
vācāya punappunaṃ parivattento yogāvacaro kammaṃ karoti. itaresu pana dvīsu saccesu
— “nirodhasaccaṃ iṭṭhaṃ kantaṃ manāpaṃ, maggasaccaṃ iṭṭhaṃ kantaṃ manāpan”ti evaṃ
savaneneva kammaṃ karoti. so evaṃ karonto cattāri saccāni ekapaṭivedhena paṭivijjhati,
ekābhisamayena abhisameti. dukkhaṃ pariññāpaṭivedhena paṭivijjhati, samudayaṃ pahānapaṭivedhena, nirodhaṃ sacchikiriyapaṭivedhena, maggaṃ bhāvanāpaṭivedhena paṭivijjhati. dukkhaṃ pariññābhisamayena ... pe ... maggaṃ bhāvanābhisamayena abhisameti. ♦ evamassa pubbabhāge dvīsu saccesu uggahaparipucchāsavanadhāraṇasammasanapaṭivedho hoti, dvīsu savanapaṭivedhoyeva.
aparabhāge tīsu kiccato paṭivedho hoti, nirodhe ārammaṇapaṭivedho. paccavekkhaṇā
pana pattasaccassa hoti. imassa bhikkhuno pubbe pariggahato — “dukkhaṃ parijānāmi,
samudayaṃ pajahāmi, nirodhaṃ sacchikaromi, maggaṃ bhāvemī”ti ābhogasamannāhāramanasikārapaccavekkhaṇā natthi, pariggahato paṭṭhāya hoti. aparabhāge pana dukkhaṃ pariññātameva hoti ... pe ...
maggo bhāvitova hoti. ♦ tattha dve saccāni duddasattā gambhīrāni, dve gambhīrattā duddasāni.
dukkhasaccañhi uppattito pākaṭaṃ, khāṇukaṇṭakapahārādīsu “aho dukkhan”ti vattabbatampi
āpajjati. samudayampi khāditukāmatābhuñjitukāmatādivasena uppattito pākaṭaṃ.
lakkhaṇapaṭivedhato pana ubhayampi gambhīraṃ. iti tāni duddasattā gambhīrāni.
itaresaṃ dvinnaṃ dassanatthāya payogo bhavaggaggahaṇatthaṃ hatthapasāraṇaṃ viya
avīciphusanatthaṃ pādapasāraṇaṃ viya satadhā bhinnassa vālassa koṭiyā koṭiṃ paṭipādanaṃ
viya ca hoti. iti tāni gambhīrattā duddasāni. evaṃ duddasattā gambhīresu gambhīrattā ca duddasesu
catūsu saccesu uggahādivasena idaṃ “dukkhe ñāṇan”tiādi vuttaṃ. paṭivedhakkhaṇe pana ekameva
taṃ ñāṇaṃ hoti. ♦ nekkhammasaṅkappādīsu kāmapaccanīkaṭṭhena kāmato nissaṭabhāvena vā,
kāmaṃ sammasantassa uppannoti vā, kāmapadaghātaṃ kāmavūpasamaṃ karonto uppannoti vā,
kāmavivittante uppannoti vā nekkhammasaṅkappo. sesapadadvayepi eseva nayo. sabbepi
ca te nekkhammasaṅkappādayo kāmabyāpādavihiṃsāviramaṇasaññānaṃ nānattā pubbabhāge nānā,
maggakkhaṇe pana imesu tīsu ṭhānesu uppannassa akusalasaṅkappassa padacchedato anuppattisādhanavasena maggaṅgaṃ pūrayamāno ekova kusalasaṅkappo uppajjati. ayaṃ sammāsaṅkappo nāma. ♦ musāvādā veramaṇīādayopi musāvādādīhi viramaṇasaññānaṃ nānattā pubbabhāge nānā, maggakkhaṇe pana imesu catūsu ṭhānesu uppannāya
akusaladussīlyacetanāya padacchedato anuppattisādhanavasena maggaṅgaṃ pūrayamānā ekāva kusalaveramaṇī uppajjati. ayaṃ sammāvācā nāma. ♦ pāṇātipātā veramaṇī ādayopi pāṇātipātādīhi viramaṇasaññānaṃ nānattā pubbabhāge nānā, maggakkhaṇe pana imesu tīsu ṭhānesu uppannāya akusaladussīlyacetanāya akiriyato padacchedato anuppattisādhanavasena maggaṅgaṃ pūrayamānā ekāva kusalaveramaṇī uppajjati.
ayaṃ sammākammanto nāma. ♦ micchāājīvanti khādanīyabhojanīyādīnaṃ atthāya pavattitaṃ kāyavacīduccaritaṃ. pahāyāti vajjetvā. sammāājīvenāti buddhapasatthena ājīvena. jīvikaṃ kappetīti jīvitavuttiṃ pavatteti. sammājīvopi kuhanādīhi viramaṇasaññānaṃ nānattā pubbabhāge nānā. maggakkhaṇe pana imesuyeva sattasu ṭhānesu uppannāya micchājīvadussīlyacetanāya padacchedato anuppattisādhanavasena maggaṅgaṃ pūrayamānā ekāva kusalaveramaṇī uppajjati. ayaṃ sammāājīvo nāma. ♦ anuppannānanti ekasmiṃ bhave tathārūpe vā ārammaṇe  attano na uppannānaṃ, parassa pana uppajjamāne disvā — “aho vata me evarūpā pāpakā dhammā na uppajjeyyun”ti evaṃ anuppannānaṃ pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ anuppādāya. chandanti tesaṃ
akusalānaṃ anuppādakapaṭipattisādhakaṃ vīriyacchandaṃ janeti. vāyamatīti vāyāmaṃ karoti. br /> vīriyaṃ ārabhatīti vīriyaṃ pavatteti. cittaṃ paggaṇhātīti vīriyena cittaṃ paggahitaṃ karoti.
padahatīti “kāmaṃ taco ca nhāru ca aṭṭhi ca avasissatū”ti (ma. ni. 2.184) padhānaṃ pavatteti.
uuppannānanti samudācāravasena attano uppannapubbānaṃ. idāni tādise na uppādessāmīti tesaṃ pahānāya chandaṃ janeti. ♦ anuppannānaṃ kusalānanti apaṭiladdhānaṃ paṭhamajjhānādīnaṃ. uppannānanti tesaṃyeva paṭiladdhānaṃ. ṭhitiyāti punappunaṃ uppattipabandhavasena ṭhitatthaṃ. asammosāyāti avināsatthaṃ. bhiyyobhāvāyāti uparibhāvāya. vepullāyāti vipulabhāvāya. pāripūriyāti bhāvanāya paripūraṇatthaṃ. ayampi sammāvāyāmo anuppannānaṃ akusalānaṃ anuppādanādicittanānattā pubbabhāge nānā. maggakkhaṇe pana imesuyeva catūsu
ṭhānesu kiccasādhanavasena maggaṅgaṃ pūrayamānaṃ ekameva kusalavīriyaṃ uppajjati. ayaṃ sammāvāyāmo nāma. ♦ sammāsatipi kāyādipariggāhakacittānaṃ nānattā pubbabhāge nānā, maggakkhaṇe pana imesu catūsu ṭhānesu kiccasādhanavasena maggaṅgaṃ pūrayamānā ekā sati uppajjati. ayaṃ sammāsati nāma. ♦ jhānādīni pubbabhāgepi maggakkhaṇepi nānā, pubbabhāge samāpattivasena nānā, maggakkhaṇe nānāmaggavasena. ekassa hi paṭhamamaggo paṭhamajjhāniko hoti, dutiyamaggādayopi paṭhamajjhānikā vā dutiyādīsu aññatarajjhānikā vā.

ekassa paṭhamamaggo dutiyādīnaṃ aññatarajjhāniko hoti, dutiyādayopi dutiyādīnaṃ aññatarajjhānikā vā paṭhamajjhānikā vā. br /> evaṃ cattāropi maggā jhānavasena sadisā vā asadisā vā ekaccasadisā vā honti. ♦ ayaṃ panassa viseso
ppādakajjhānaniyamena hoti. pādakajjhānaniyamena hi paṭhamajjhānalābhino paṭhamajjhānā vuṭṭhāya vipassantassa uppannamaggo paṭhamajjhāniko hoti, maggaṅgabojjhaṅgāni panettha paripuṇṇāneva honti. dutiyajjhānato vuṭṭhāya vipassantassa uppanno dutiyajjhāniko hoti, maggaṅgāni panettha satta honti. tatiyajjhānato vuṭṭhāya vipassantassa uppanno tatiyajjhāniko, maggaṅgāni panettha satta, bojjhaṅgāni cha honti. esa nayo catutthajjhānato paṭṭhāya yāva nevasaññānāsaññāyatanā. ♦ āruppe catukkapañcakajjhānaṃ uppajjati, tañca lokuttaraṃ, no lokiyanti vuttaṃ. ettha kathanti? etthāpi paṭhamajjhānādīsu yato vuṭṭhāya sotāpattimaggaṃ paṭilabhitvā arūpasamāpattiṃ bhāvetvā so āruppe uppanno, taṃjhānikāvassa tattha tayo maggā uppajjanti. evaṃ pādakajjhānameva niyameti. keci pana therā — “vipassanāya ārammaṇabhūtā khandhā niyamentī”ti vadanti. keci “puggalajjhāsayo niyametī”ti vadanti. keci “vuṭṭhānagāminīvipassanā niyametī”ti vadanti. tesaṃ vādavinicchayo visuddhimagge vuṭṭhānagāminīvipassanādhikāre vuttanayeneva veditabbo.
ayaṃ vuccati, bhikkhave, sammāsamādhīti ayaṃ pubbabhāge lokiyo, aparabhāge lokuttaro sammāsamādhīti vuccati.

Sớ giải Kinh Phân Tích (Aṭṭhakathā – Vibhaṅga Siddhi)

“Katamā ca bhikkhave sammādiṭṭhīti” – “Và này các Tỳ khưu, thế nào là chánh kiến?”
— Ở đây, Đức Thế Tôn, sau khi giảng Bát Thánh Đạo một lần, lại muốn phân tích một lần nữa bằng cách khác, nên bắt đầu bài thuyết này.

Về chánh kiến (sammādiṭṭhi)

“Tri kiến về khổ” (dukkhe ñāṇaṃ) là trí tuệ phát sinh theo bốn cách:

1.    Qua nghe (savana),

2.    Qua suy xét (sammasana),

3.    Qua chứng ngộ (paṭivedha),

4.    Qua hồi quán (paccavekkhaṇa).

Cũng như vậy đối với “tri kiến về tập khởi (samudaya)”.

Còn với hai chân lý sau — “diệt (nirodha)” và “đạo (magga)” — thì chỉ có ba (vì không có giai đoạn “suy xét” như hai trước).

Như vậy, bằng câu “tri kiến về khổ...” Đức Thế Tôn đã trình bày bốn Thánh đế như là đề mục hành thiền (catusacca-kammaṭṭhāna).


Về vai trò của bốn Thánh đế

Trong đó:

  • Hai chân lý đầu (khổ, tập) thuộc luân hồi (vaṭṭa);
  • Hai chân lý sau (diệt, đạo) thuộc giải thoát (vivaṭṭa).

Đối với hành giả, trong hai chân lý thuộc luân hồi, có chấp thủ vào đối tượng quán (vì chúng thuộc thế gian); Còn trong hai chân lý thuộc giải thoát, không có chấp thủ.

Người hành thiền học “năm uẩn là khổ, ái là nguyên nhân của khổ” — học nơi thầy, rồi lặp lại, quán niệm, và thực hành.
Còn hai chân lý còn lại — diệt và đạo — vì là mục tiêu đáng ưa thích, chỉ cần nghe qua là đã thực hành được.

Như vậy, vị ấy chứng ngộ bốn Thánh đế bằng một trí tuệ, một sự liễu tri, với bốn khía cạnh khác nhau:

  • Khổ: bằng trí tuệ liễu tri (pariññā);
  • Tập: bằng trí tuệ đoạn trừ (pahāna);
  • Diệt: bằng trí tuệ chứng đạt (sacchikiriyā);
  • Đạo: bằng trí tuệ tu tập (bhāvanā).

Ba thời kỳ và vai trò nhận thức

Ở giai đoạn ban đầu (trước khi chứng ngộ), trong hai chân lý đầu, hành giả có:

  • Nghe,
  • Hỏi,
  • Học thuộc,
  • Suy xét,
  • Và chứng nghiệm.

Trong hai chân lý sau thì chỉ có nghe và chứng nghiệm.

Khi đã chứng ngộ, trí tuệ về mỗi Thánh đế trở thành trí của sự thực hành:

  • Về khổ: trí “đã liễu tri”,
  • Về tập: trí “đã đoạn diệt”,
  • Về diệt: trí “đã chứng đạt”,
  • Về đạo: trí “đã tu tập”.

Về chiều sâu của Thánh đế

Hai thánh đế đầu (khổ, tập) là khó thấy vì sâu xa;
Hai thánh đế sau (diệt, đạo) là sâu xa nên khó thấy.

Khổ đế thì ai cũng biết qua cảm thọ (“đau, mệt, bị thương...”), nhưng hiểu tính chất thật của nó thì sâu xa.
Tập đế (nguồn gốc khổ) cũng vậy — dễ nhận biết khi tham khởi, nhưng hiểu bản chất sinh khởi thì sâu.

Hai đế còn lại — diệt và đạo — chỉ thấy được qua chứng nghiệm; muốn thấy, phải vươn tới chỗ cực vi tế của tâm, như người duỗi tay chạm đỉnh trời, hay đặt sợi tóc mảnh nhất đúng đầu sợi khác.

Vì vậy, cả bốn Thánh đế đều sâu xa và khó thấy, nên Đức Thế Tôn dạy:

“Tri kiến về khổ...” — chính là trình bày sự thực hành bốn Thánh đế.


Về Chánh tư duy (sammāsaṅkappa)

“Tư duy ly tham (nekkhamma-saṅkappa)” có thể hiểu theo bốn cách:

1.    Là đối nghịch với dục lạc,

2.    Là sự buông bỏ dục,

3.    Là tư duy diệt trừ dục,

4.    Là tư duy hướng đến sự tịch tịnh khỏi dục.

Tương tự đối với tư duy vô sân và tư duy bất hại.

Trước khi chứng đạo, ba loại tư duy này khác nhau;
Nhưng tại khoảnh khắc đạo (maggakkhaṇa), chỉ có một tâm chánh tư duy khởi lên, diệt trừ các tư duy tà, thành yếu tố đạo (maggaṅga).


Về Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng

Cũng theo cách ấy:

  • Chánh ngữ: do từ bỏ nói dối, nói chia rẽ, nói ác, nói phù phiếm.
  • Chánh nghiệp: do từ bỏ sát sanh, trộm cắp, tà hạnh.
  • Chánh mạng: do từ bỏ các hình thức sinh sống tà, như nói dối để được lợi, gian trá, lường gạt, v.v.

Trước đạo tâm, các loại “từ bỏ” (viramaṇa) này khác nhau; Khi chứng đạo, chúng hợp nhất thành một tâm thiện duy nhất — là đạo chi (maggaṅga).


Về Chánh tinh tấn (sammāvāyāma)

Có bốn loại nỗ lực:

1.    Ngăn ngừa các pháp bất thiện chưa sanh,

2.    Diệt trừ các pháp bất thiện đã sanh,

3.    Làm sanh các pháp thiện chưa sanh,

4.    Tăng trưởng, duy trì các pháp thiện đã sanh.

Ở giai đoạn đầu, chúng được xem là bốn loại khác nhau;
Nhưng ở khoảnh khắc đạo, chỉ có một tinh tấn thiện khởi lên, hoàn thành yếu tố đạo.


Về Chánh niệm (sammāsati)

Niệm có bốn lĩnh vực: thân, thọ, tâm, pháp.
Trước đạo, các loại niệm này khác nhau;
Khi chứng đạo, chỉ có một niệm toàn hảo, làm viên mãn yếu tố đạo chánh niệm.


Về Chánh định (sammāsamādhi)

“Điểm đặc biệt (aya panassa viseso) là tùy thuộc vào thiền làm nền tảng (pādaka-jjhāna-niyama).

Với ai đã chứng sơ thiền, sau khi xuất ra khỏi sơ thiền rồi tuệ quán (vipassanā), thì đạo tâm (magga) khởi lên là đạo thuộc sơ thiền (paṭhamajjhāniko maggo).
Trong trường hợp này, các chi phần của Đạo (maggaṅga) và các chi phần của Giác chi (bojjhaṅga) đều đầy đủ viên mãn.

Với ai xuất ra từ nhị thiền rồi hành tuệ quán, thì đạo tâm khởi lên là đạo thuộc nhị thiền (dutiyajjhāniko maggo); ở đây, các đạo chi chỉ còn bảy (vì hai yếu tố tầm (vitakka) và tứ (vicāra) đã được diệt trong nhị thiền).

Với ai xuất ra từ tam thiền rồi hành tuệ quán, thì đạo tâm khởi lên là đạo thuộc tam thiền (tatiyajjhāniko maggo); ở đây, các đạo chi vẫn là bảy, nhưng các giác chi (bojjhaṅga) chỉ còn sáu, do hỷ (pīti) không còn hiện hữu trong tam thiền.

Cũng theo cách ấy (esa nayo), từ tứ thiền (catutthajjhāna) trở lên,
cho đến phi tưởng phi phi tưởng xứ (nevasaññānāsaññāyatana),
đạo tâm sẽ tương ứng với thiền làm nền tảng mà hành giả đã an trú và xuất ra trước đó.”

“Trong các tầng vô sắc định (ārūpa), có thể sanh khởi bốn hoặc năm tầng thiền vô sắc, và những thiền đó có thể là siêu thế (lokuttara) chứ không phải thế tục (lokiya) — như đã được nói đến.

Ở đây, điều này được hiểu như thế nào (ettha kathaṃ ti)?

Ở đây, cũng vậy — khi một vị xuất ra từ sơ thiền hoặc các tầng thiền khác, rồi chứng đắc đạo quả Dự lưu (sotāpatti-magga), sau đó tu tập vô sắc định (arūpa-samāpatti), thì nếu vị ấy hành tuệ (vipassanā) trên nền tảng của vô sắc định, đạo tâm phát sanh trong vô sắc được gọi là vô sắc thiền đạo (ārūpa-jjhānika magga).

Với nền định vô sắc ấy, ba đạo tâm còn lại (Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán) cũng sanh lên theo cách tương tự.

Như vậy, chính thiền làm nền tảng (pādaka-jjhāna) là yếu tố quyết định loại đạo tâm nào sẽ sanh khởi.

Tuy nhiên, có một số vị Trưởng lão (therā) lại có những quan điểm khác nhau:

  • Một số nói rằng:

“Chính các uẩn (khandhā) — là đối tượng của tuệ quán (vipassanā) — mới là yếu tố quyết định.”

  • Một số khác nói rằng:

“Chính khuynh hướng tâm của cá nhân (puggalajjhāsaya) là yếu tố quyết định.”

  • Lại có một số khác cho rằng:

“Chính tuệ minh sát hướng đến xuất ly (vuṭṭhānagāminī-vipassanā) là yếu tố quyết định.”

Sự phân định giữa các quan điểm này (vādavinicchaya) cần được hiểu theo cách giải thích được nêu trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga),
trong phần nói về tuệ minh sát hướng đến xuất ly (vuṭṭhānagāminī-vipassanā-dhikara). Do vậy nên được dạy:

“Và như vậy, này các Tỳ khưu, đây được gọi là Chánh Định (Sammāsamādhi) —ở giai đoạn đầu là hiệp thế (lokiya), ở giai đoạn sau là siêu thế (lokuttara).”

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tương Ưng Ðạo (a)

-ooOoo-

I. Phẩm Vô Minh

5.V. Với Mục Ðích Gì? (S.v,6)

1) Nhân duyên ở Sàvatthi.

2) Rồi rất nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3) Ngồi một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- Ở đây, bạch Thế Tôn, các du sĩ ngoại đạo đến hỏi chúng con: "Này chư Hiền, vì mục đích gì, Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama?" Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, chúng con trả lời các du sĩ ngoại đạo ấy như sau: "Này chư Hiền, với mục đích liễu tri đau khổ, Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama". Ðược hỏi như vậy và trả lời như vậy, bạch Thế Tôn, có phải chúng con trả lời đúng với lời nói Thế Tôn, chúng con không xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật, chúng con trả lời đúng pháp và thuận pháp, và những ai là vị đồng pháp, nói lời đúng pháp và thuận pháp, không có cơ hội để chỉ trích?

4) -- Này các Tỷ-kheo, các Ông được hỏi như vậy và trả lời như vậy là các Ông trả lời đúng với lời của Ta, các Ông không xuyên tạc Ta với điều không thật, các Ông trả lời đúng pháp và thuận pháp, và những ai là vị đồng pháp, nói lời đúng pháp và thuận pháp, không có cơ hội để chỉ trích. Này các Tỷ-kheo, do mục đích liễu tri đau khổ mà Phạm hạnh được sống dưới Ta. Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi các Ông: "Này Hiền giả, có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến liễu tri đau khổ này?" Ðược hỏi vậy, thời các Ông hãy trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như sau: "Này chư Hiền, có con đường, có đạo lộ đưa đến liễu tri đau khổ này".

5) Này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường, thế nào là đạo lộ đưa đến liễu tri đau khổ? Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này các Tỷ-kheo, đây là con đường, đây là đạo lộ đưa đến liễu tri sự đau khổ này.

6) Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như vậy.

6.VI. Một Tỷ Kheo Khác (1) (S.iv,7)

1) Nhân duyên ở Sàvatthi.

2) Rồi một Tỷ-kheo khác đi đến Thế Tôn...

3) Ngồi một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- "Phạm hạnh, Phạm hạnh", bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, thế nào là Phạm hạnh? Thế nào là cứu cánh Phạm hạnh?

-- Này Tỷ-kheo, con đường Thánh đạo Tám ngành này là Phạm hạnh, tức là chánh tri kiến... chánh định. Này Tỷ-kheo, đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, đây là cứu cánh Phạm hạnh.

7.VII. Một Tỷ Kheo Khác (2) (S.iv,8)

1) Nhân duyên ở Sàvatthi.

2) Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến...

3) Ngồi một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

--"Nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si", bạch Thế Tôn, được gọi là như vậy. Ðồng nghĩa với gì, bạch Thế Tôn, là nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si?

-- Ðồng nghĩa với Niết-bàn giới là nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si, cũng được gọi là đoạn tận các lậu hoặc.

4) Khi được nói vậy, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- "Bất tử, bất tử", bạch Thế Tôn, được gọi là như vậy. Thế nào là bất tử, bạch Thế Tôn? Thế nào là con đường đưa đến bất tử?

-- Ðoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, này Tỷ-kheo, được gọi là bất tử. Con đường Thánh đạo Tám ngành này là con đường đưa đến bất tử, tức là chánh tri kiến... chánh định.

ooOoo