|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, ngày 06 tháng 10, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 518. ĐỂ HIỂU BÁT CHÁNH ĐẠO - Kinh Phân Tích (Vibhaṅgasuttaṃ) . ... .
Bát chánh đạo là câu trả lời của Đức Phật đối với
câu: Thế nào là con đường thoát khổ?. Chính vì thế gọi bát chánh
đạo là “đạo đế”. Đức Phật cũng đưa ra lời dạy cụ thể từng chi
phần của tám pháp nầy. Sự tế nhị nhận thức qua pháp học, pháp
hành, pháp thành với cách liệt kê và định nghĩa qua tam học, bát
thánh đạo, tám đạo chi cho thấy sự kết hợp nhuần nhuyễn của tám
pháp không phải là khái niệm đạo đức mà là
những pháp thực tánh cần tự thân tu tập và chứng nghiệm.
Kinh Văn
8. sāvatthinidānaṃ. “ariyaṃ vo, bhikkhave, aṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ
desessāmi vibhajissāmi.
Nhân duyên tại Sāvatthī.
“Này các Tỳ khưu, Như Lai sẽ giảng và phân tích cho các Thầy về Bát Thánh
Đạo.
“Dạ thưa vâng, bạch Thế Tôn,” các Tỳ khưu trả lời. Đức Thế Tôn nói:
“Và này các Tỳ khưu, thế nào là Bát Thánh Đạo?
“Này các Tỳ khưu,
thế nào là
chánh kiến?
“Này các Tỳ khưu, thế nào là chánh tư duy?
“Này các Tỳ khưu, , thế nào là chánh ngữ?
“Này các Tỳ khưu, , thế nào là chánh nghiệp? Đó là:
“Này các Tỳ khưu, , thế nào là chánh mạng (sammāājīva)?
“Này các Tỳ khưu, thế nào là chánh tinh tấn?
“Này các Tỳ khưu, thế nào là chánh niệm (sammāsati)?
“Này các Tỳ khưu, thế nào là chánh định (sammāsamādhi)?
Diệt tầm và tứ, nội tâm nhất tâm, không tầm không tứ, có hỷ lạc sinh do
định, chứng và an trú nhị thiền.
Do ly hỷ, trú xả, niệm và tỉnh giác, cảm thọ lạc thọ nơi thân, mà các bậc
Thánh nói:
“Vị này sống xả, niệm, lạc trú.” — vị ấy chứng và an trú tam thiền.
Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, vị ấy chứng và an trú tứ
thiền, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Đây được gọi là chánh định.”
Chú Thích
Trong Thắng Pháp Tạng (Abhidhamma Piṭaka), các định nghĩa
này được đưa vào phần trình bày chính thức về Thánh đạo theo
phương pháp Kinh tạng (Suttantabhājaniya) tại Vibhaṅga (Vibh
235–236) — (nhưng xem chú thích kế tiếp).Còn trong phần
Abhidhamma-bhājaniya của cùng bộ, các chi phần của Thánh đạo
được xem là hoàn toàn thuộc siêu thế (lokuttara), tức là chỉ
xuất hiện trong tâm đạo (magga-citta) và quả tâm (phala-citta),
chứ không được xem là hữu lậu hay thế tục.
Mỗi chi đạo trước khi chứng ngộ thì có nhiều hình thái khác
nhau trong đời sống bình thường (trong tập hiệp thế). Khi tâm
đạo – maggacitta- khởi
lên, tất cả hợp nhất thành tám yếu tố siêu thế (lokuttara
maggaṅga) — Bát Thánh Đạo đích thực; là đỉnh điểm của tuệ minh
sát, là tâm siêu thế diệt trừ phiền não, chứng ngộ Niết-bàn.
Tất cả các ấn bản của Tương Ưng Bộ Kinh (Saṃyutta Nikāya) ở
chỗ này đều ghi là “abrahmacariyā veramaṇī” — nghĩa là “từ bỏ
phi phạm hạnh hay trược hạnh chỉ cho quan hệ nhục dục”, nhưng ở
những chỗ khác lại có bản đọc “kāmesu micchācārā veramaṇī”,
nghĩa là “từ bỏ tà hạnh nghĩa là quan hệ nam nữ bất chính” (xem:
DN I 312, 12–13; MN I 74, 22; MN I 251, 24–25; Vibh 235, 18–19).
Cụm “abrahmacariyā veramaṇī” là câu được dùng trong giới luật
của Tỳ khưu và Tỳ khưu ni, trong khi “kāmesu micchācārā
veramaṇī” là câu được dùng trong giới của cư sĩ tại gia. Sớ giải
Tương Ưng Bộ không bình luận gì về điểm này. Ngài Bodhi đã chọn
dịch theo bản đọc đúng hơn là “kāmesu micchācārā veramaṇī” — “từ
bỏ tà hạnh” theo cách nhất quán đối với phần lớn bản kinh khác
nêu trên và cũng cho phần chú thích điểm nầy.
Bát Chánh Đạo là trọng tâm của toàn bộ giáo pháp Đức Phật, là con đường
thực tiễn đưa đến chấm dứt khổ đau (dukkhanirodha), và là sự
triển khai cụ thể của Trung đạo (Majjhimā Paṭipadā) — con đường
tránh xa hai cực đoan: đắm nhiễm dục lạc và hành hạ thân xác.
Bát Chánh Đạo là con đường toàn diện và phải thực hành với sự kết hợp
nhuần nhuyễn. Tám yếu tố của đạo — Chánh kiến, Chánh tư duy,
Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm,
Chánh định — không phải là tám con đường riêng biệt, mà là tám
mặt của một lối sống giải thoát duy nhất.
Trên phương diện ứng dụng có thể ghi nhận theo cách sau:
Như vậy, Bát Chánh Đạo là sự hòa hợp giữa Giới – Định – Tuệ, không thiên
lệch về bất kỳ mặt nào.
Đây là con đường tự thân hành trì và chứng nghiệm chứ không phải cầu xin.
Bát Chánh Đạo không phải là điều để cầu nguyện hay mong ban
phát, mà là con đường mỗi người phải tự mình đi. Đức Phật chỉ
chỉ đường, nhưng người đi phải là chính ta. “Các con hãy tự mình
là hòn đảo cho chính mình, tự mình là nơi nương tựa, không nương
tựa nơi nào khác.”(Mahāparinibbāna Sutta). Thực hành Bát Chánh
Đạo chính là trở về với nội tâm, thanh lọc từng hành vi, từng
lời nói, từng ý nghĩ, để đạt tới tâm thuần tịnh và trí tuệ giải
thoát.
Mục tiêu của bát chánh đạo là dẫn đến đích điểm giác ngộ, giải thoát. Khi
tám yếu tố này hỗ trợ và thấm nhập lẫn nhau, hành giả vượt qua
vô minh và ái dục, đạt tới tự do tối thượng – Niết-bàn
(Nibbāna).
Sớ Giải
8. Aṭṭhame katamā ca
bhikkhave sammādiṭṭhīti ekena pariyāyena aṭṭhaṅgikamaggaṃ
vibhajitvā
ekassa paṭhamamaggo
dutiyādīnaṃ aññatarajjhāniko hoti, dutiyādayopi dutiyādīnaṃ
aññatarajjhānikā vā paṭhamajjhānikā vā. br />
evaṃ cattāropi maggā jhānavasena sadisā vā asadisā vā
ekaccasadisā vā honti. ♦ ayaṃ panassa viseso
Sớ giải Kinh Phân Tích (Aṭṭhakathā – Vibhaṅga Siddhi)
“Katamā ca bhikkhave sammādiṭṭhīti”
– “Và này các Tỳ khưu, thế nào là chánh kiến?”
Về chánh kiến (sammādiṭṭhi)
“Tri kiến về khổ” (dukkhe ñāṇaṃ) là trí tuệ phát sinh theo bốn
cách:
1.
Qua nghe (savana),
2.
Qua suy xét (sammasana),
3.
Qua chứng ngộ (paṭivedha),
4.
Qua hồi quán (paccavekkhaṇa).
Cũng như vậy đối với “tri kiến về tập khởi (samudaya)”.
Còn với hai chân lý sau — “diệt (nirodha)” và “đạo (magga)” — thì chỉ có
ba (vì không có giai đoạn “suy xét” như hai trước).
Như vậy, bằng câu “tri kiến về khổ...” Đức Thế Tôn đã trình bày bốn Thánh
đế như là đề mục hành thiền (catusacca-kammaṭṭhāna).
Về vai trò của bốn Thánh đế
Trong đó:
Đối với hành giả, trong hai chân lý thuộc luân hồi, có chấp thủ vào đối
tượng quán (vì chúng thuộc thế gian); Còn trong hai chân lý
thuộc giải thoát, không có chấp thủ.
Người hành thiền học “năm uẩn là khổ, ái là nguyên nhân của khổ” — học nơi
thầy, rồi lặp lại, quán niệm, và thực hành.
Như vậy, vị ấy chứng ngộ bốn Thánh đế bằng một trí tuệ, một sự liễu tri,
với bốn khía cạnh khác nhau:
Ba thời kỳ và vai trò nhận thức
Ở giai đoạn ban đầu (trước khi chứng ngộ), trong hai chân lý đầu, hành giả
có:
Trong hai chân lý sau thì chỉ có nghe và chứng nghiệm.
Khi đã chứng ngộ, trí tuệ về mỗi Thánh đế trở thành trí của sự thực hành:
Về chiều sâu của Thánh đế
Hai thánh đế đầu (khổ, tập) là khó thấy vì sâu xa;
Khổ đế thì ai cũng biết qua cảm thọ (“đau, mệt, bị thương...”), nhưng hiểu
tính chất thật của nó thì sâu xa.
Hai đế còn lại — diệt và đạo — chỉ thấy được qua chứng nghiệm; muốn thấy,
phải vươn tới chỗ cực vi tế của tâm, như người duỗi tay chạm
đỉnh trời, hay đặt sợi tóc mảnh nhất đúng đầu sợi khác.
Vì vậy, cả bốn Thánh đế đều sâu xa và khó thấy, nên Đức Thế Tôn dạy:
“Tri kiến về khổ...” — chính là trình bày sự thực hành bốn Thánh đế.
Về Chánh tư duy (sammāsaṅkappa)
“Tư duy ly tham (nekkhamma-saṅkappa)” có thể hiểu theo bốn cách:
1.
Là đối nghịch với dục lạc,
2.
Là sự buông bỏ dục,
3.
Là tư duy diệt trừ dục,
4.
Là tư duy hướng đến sự tịch tịnh khỏi
dục.
Tương tự đối với tư duy vô sân và tư duy bất hại.
Trước khi chứng đạo, ba loại tư duy này khác nhau;
Về Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng
Cũng theo cách ấy:
Trước đạo tâm, các loại “từ bỏ” (viramaṇa) này khác nhau; Khi chứng đạo,
chúng hợp nhất thành một tâm thiện duy nhất — là đạo chi
(maggaṅga).
Về Chánh tinh tấn (sammāvāyāma)
Có bốn loại nỗ lực:
1.
Ngăn ngừa các pháp bất thiện chưa sanh,
2.
Diệt trừ các pháp bất thiện đã sanh,
3.
Làm sanh các pháp thiện chưa sanh,
4.
Tăng trưởng, duy trì các pháp thiện đã
sanh.
Ở giai đoạn đầu, chúng được xem là bốn loại khác nhau;
Về Chánh niệm (sammāsati)
Niệm có bốn lĩnh vực: thân, thọ, tâm, pháp.
Về Chánh định (sammāsamādhi)
“Điểm đặc biệt (ayaṃ panassa
viseso) là tùy thuộc vào thiền làm nền tảng
(pādaka-jjhāna-niyama).
Với ai đã chứng sơ thiền, sau khi xuất ra khỏi sơ thiền rồi tuệ quán
(vipassanā), thì đạo tâm (magga) khởi lên là đạo thuộc sơ thiền
(paṭhamajjhāniko maggo).
Với ai xuất ra từ nhị thiền rồi hành tuệ quán, thì đạo tâm khởi lên là đạo
thuộc nhị thiền (dutiyajjhāniko maggo); ở đây, các đạo chi chỉ
còn bảy (vì hai yếu tố tầm (vitakka) và tứ (vicāra) đã được diệt
trong nhị thiền).
Với ai xuất ra từ tam thiền rồi hành tuệ quán, thì đạo tâm khởi lên là đạo
thuộc tam thiền (tatiyajjhāniko maggo); ở đây, các đạo chi vẫn
là bảy, nhưng các giác chi (bojjhaṅga) chỉ còn sáu, do hỷ (pīti)
không còn hiện hữu trong tam thiền.
Cũng theo cách ấy (esa nayo), từ tứ thiền (catutthajjhāna) trở lên,
“Trong các tầng vô sắc định (ārūpa), có thể sanh khởi bốn hoặc năm tầng
thiền vô sắc, và những thiền đó có thể là siêu thế (lokuttara)
chứ không phải thế tục (lokiya) — như đã được nói đến.
Ở đây, điều này được hiểu như thế nào (ettha kathaṃ ti)?
Ở đây, cũng vậy — khi một vị xuất ra từ sơ thiền hoặc các tầng thiền khác,
rồi chứng đắc đạo quả Dự lưu (sotāpatti-magga), sau đó tu tập vô
sắc định (arūpa-samāpatti), thì nếu vị ấy hành tuệ (vipassanā)
trên nền tảng của vô sắc định, đạo tâm phát sanh trong vô sắc
được gọi là vô sắc thiền đạo (ārūpa-jjhānika magga).
Với nền định vô sắc ấy, ba đạo tâm còn lại (Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán)
cũng sanh lên theo cách tương tự.
Như vậy, chính thiền làm nền tảng (pādaka-jjhāna) là yếu tố quyết định
loại đạo tâm nào sẽ sanh khởi.
Tuy nhiên, có một số vị Trưởng lão (therā) lại có những quan điểm khác
nhau:
“Chính các uẩn (khandhā) — là đối tượng
của tuệ quán (vipassanā) — mới là yếu tố quyết định.”
“Chính khuynh hướng tâm của cá nhân
(puggalajjhāsaya) là yếu tố quyết định.”
“Chính tuệ minh sát hướng đến xuất ly
(vuṭṭhānagāminī-vipassanā) là yếu tố quyết định.”
Sự phân định giữa các quan điểm này (vādavinicchaya) cần được hiểu theo
cách giải thích được nêu trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga),
“Và như vậy, này các Tỳ khưu, đây được gọi là Chánh Định (Sammāsamādhi) —ở
giai đoạn đầu là hiệp thế (lokiya), ở giai đoạn sau là siêu thế
(lokuttara).”
Tương Ưng Ðạo (a)
-ooOoo-
I. Phẩm Vô Minh
5.V. Với Mục Ðích
Gì? (S.v,6)
1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
2) Rồi rất nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh
lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
3) Ngồi một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, các du sĩ ngoại đạo đến hỏi chúng
con: "Này chư Hiền, vì mục đích gì, Phạm hạnh được sống dưới
Sa-môn Gotama?" Ðược hỏi vậy, bạch Thế Tôn, chúng con trả lời
các du sĩ ngoại đạo ấy như sau: "Này chư Hiền, với mục đích liễu
tri đau khổ, Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama". Ðược hỏi
như vậy và trả lời như vậy, bạch Thế Tôn, có phải chúng con trả
lời đúng với lời nói Thế Tôn, chúng con không xuyên tạc Thế Tôn
với điều không thật, chúng con trả lời đúng pháp và thuận pháp,
và những ai là vị đồng pháp, nói lời đúng pháp và thuận pháp,
không có cơ hội để chỉ trích?
4) -- Này các Tỷ-kheo, các Ông được hỏi như vậy và trả lời
như vậy là các Ông trả lời đúng với lời của Ta, các Ông không
xuyên tạc Ta với điều không thật, các Ông trả lời đúng pháp và
thuận pháp, và những ai là vị đồng pháp, nói lời đúng pháp và
thuận pháp, không có cơ hội để chỉ trích. Này các Tỷ-kheo, do
mục đích liễu tri đau khổ mà Phạm hạnh được sống dưới Ta. Này
các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi các Ông: "Này Hiền giả,
có con đường nào, có đạo lộ nào đưa đến liễu tri đau khổ này?"
Ðược hỏi vậy, thời các Ông hãy trả lời cho các du sĩ ngoại đạo
ấy như sau: "Này chư Hiền, có con đường, có đạo lộ đưa đến liễu
tri đau khổ này".
5) Này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường, thế nào là đạo lộ
đưa đến liễu tri đau khổ? Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành,
tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp,
chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này các
Tỷ-kheo, đây là con đường, đây là đạo lộ đưa đến liễu tri sự đau
khổ này.
6) Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải trả lời
cho các du sĩ ngoại đạo ấy như vậy.
6.VI. Một Tỷ Kheo
Khác (1) (S.iv,7)
1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
2) Rồi một Tỷ-kheo khác đi đến Thế Tôn...
3) Ngồi một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- "Phạm hạnh, Phạm hạnh", bạch Thế Tôn, được nói đến như
vậy. Bạch Thế Tôn, thế nào là Phạm hạnh? Thế nào là cứu cánh
Phạm hạnh?
-- Này Tỷ-kheo, con đường Thánh đạo Tám ngành này là Phạm
hạnh, tức là chánh tri kiến... chánh định. Này Tỷ-kheo, đoạn tận
tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, đây là cứu cánh Phạm hạnh.
7.VII. Một Tỷ Kheo
Khác (2) (S.iv,8)
1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
2) Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến...
3) Ngồi một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
--"Nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si", bạch Thế
Tôn, được gọi là như vậy. Ðồng nghĩa với gì, bạch Thế Tôn, là
nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si?
-- Ðồng nghĩa với Niết-bàn giới là nhiếp phục tham, nhiếp
phục sân, nhiếp phục si, cũng được gọi là đoạn tận các lậu hoặc.
4) Khi được nói vậy, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- "Bất tử, bất tử", bạch Thế Tôn, được gọi là như vậy. Thế
nào là bất tử, bạch Thế Tôn? Thế nào là con đường đưa đến bất
tử?
-- Ðoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, này Tỷ-kheo,
được gọi là bất tử. Con đường Thánh đạo Tám ngành này là con
đường đưa đến bất tử, tức là chánh tri kiến... chánh định. ooOoo |