|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 07 tháng 10, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 519. XA TẬN CHÂN TRỜI, GẦN NGAY TRƯỚC MẮT - Kinh Bông Lúa (Sūkasuttaṃ) . ... .
Con đường tu Phật là hành trình buông xả, từ bỏ mọi
sở chấp. Tất cả nghiệp lực dù thiện hay ác trong ba nẻo luân hồi
đều bị vô minh chi phối. Hướng đến xả ly, tịch tịnh là tri kiến
được đặt đúng hướng – và có khả năng chọc thủng vô minh. Cuộc tu
không thể nói là nhanh hay chậm, gần hoặc xa. Tri kiến đặt đúng
chỗ thì hoát nhiên đại ngộ.
9. sāvatthinidānaṃ. “seyyathāpi, bhikkhave, sālisūkaṃ vā
yavasūkaṃ vā micchāpaṇihitaṃ hatthena vā pādena vā akkantaṃ
hatthaṃ vā pādaṃ vā bhindissati {bhecchati (ka.)}, lohitaṃ vā
uppādessatīti — netaṃ ṭhānaṃ vijjati. taṃ kissa hetu?
micchāpaṇihitattā, bhikkhave, sūkassa. evameva kho, bhikkhave,
so vata bhikkhu micchāpaṇihitāya diṭṭhiyā micchāpaṇihitāya
maggabhāvanāya avijjaṃ bhindissati, vijjaṃ uppādessati, nibbānaṃ
sacchikarissatīti — netaṃ ṭhānaṃ vijjati. taṃ kissa hetu?
micchāpaṇihitattā, bhikkhave, diṭṭhiyā.
“seyyathāpi, bhikkhave,
sālisūkaṃ vā yavasūkaṃ vā sammāpaṇihitaṃ hatthena vā pādena vā
akkantaṃ hatthaṃ vā pādaṃ vā bhindissati, lohitaṃ vā
uppādessatīti — ṭhānametaṃ vijjati. taṃ kissa hetu?
sammāpaṇihitattā, bhikkhave, sūkassa. evameva kho, bhikkhave, so
vata bhikkhu sammāpaṇihitāya diṭṭhiyā sammāpaṇihitāya
maggabhāvanāya avijjaṃ bhindissati, vijjaṃ uppādessati, nibbānaṃ
sacchikarissatīti — ṭhānametaṃ vijjati. taṃ kissa hetu?
sammāpaṇihitattā, bhikkhave, diṭṭhiyā.
“kathañca, bhikkhave,
bhikkhu sammāpaṇihitāya diṭṭhiyā sammāpaṇihitāya maggabhāvanāya
avijjaṃ bhindati, vijjaṃ uppādeti, nibbānaṃ sacchikarotīti?
idha, bhikkhave, bhikkhu sammādiṭṭhiṃ bhāveti vivekanissitaṃ
virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ ... pe ...
sammāsamādhiṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ
nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ. evaṃ kho, bhikkhave, bhikkhu
sammāpaṇihitāya diṭṭhiyā sammāpaṇihitāya maggabhāvanāya avijjaṃ
bhindati, vijjaṃ uppādeti, nibbānaṃ sacchikarotī”ti. navamaṃ.
Nhân duyên tại Sāvatthī.
[Đức Thế Tôn dạy:]
“Này các Tỳ khưu, ví như một bông lúa hay bông mạch, nếu đầu nhọn của nó
nằm không nhằm hướng, rồi có người lấy tay hay chân đè lên, thì
chuyện gai lúa ấy có thể đâm thủng da tay hay da chân, làm chảy
máu — điều ấy là không thể xảy ra.Vì sao vậy? Vì mũi nhọn của
bông lúa ấy nằm không phải hướng.
Cũng vậy, này các Tỳ khưu, một Tỳ khưu có tà kiến và phát triển đạo sai
hướng,
“Này các Tỳ khưu, ví như một bông lúa hay bông mạch, nếu mũi nhọn
đặt đúng hướng, rồi có người lấy tay
hay chân đè lên, thì chuyện gai lúa ấy có thể đâm thủng da tay
hay da chân, làm chảy máu — điều ấy là có thể xảy ra.
Vì sao vậy? Vì gai nhọn đặt đúng hướng.
Cũng vậy, này các Tỳ khưu, một Tỳ khưu có tri kiến chơn chánh, và phát
triển con đường đúng hướng, có thể đâm thủng vô minh, khởi sanh
chánh trí, và chứng đắc Niết-bàn - điều ấy là có thể xảy ra.
Vì sao vậy? Vì tri kiến của vị ấy được đặt đúng
hướng.
“Và này các Tỳ khưu, một Tỳ khưu làm như thế nào để có tri kiến đặt đúng
hướng?
Ở đây, này các Tỳ khưu, một Tỳ khưu tu tập chánh kiến dựa trên sự viễn ly,
dựa trên sự ly tham, và dựa trên sự tịch tịnh, hướng đến tinh
luyện trong giải thoát .
Vị ấy cũng tu tập chánh tư duy… chánh ngữ … chánh nghiệp,,, chánh mạng…
chánh tinh tấn.. chánh niệm … chánh định dựa trên sự viễn ly,
dựa trên sự ly tham,
“Này các Tỳ khưu, chính bằng cách này, một Tỳ khưu có tri kiến, và đặt
đúng hướng, có thể đâm
thủng vô minh, khởi sanh chánh trí, và chứng đắc Niết-bàn
Chú Thích
Micchāpaṇihita - hướng sai -
chỉ tà kiến, tức đặt sai niềm tin về nghiệp và đạo — cho rằng
hành động không có quả, hoặc tu tập sai mục tiêu để mong cầu
phước báu trong ba cõi sanh tử. Khi tà kiến và tà đạo như “gai
lúa bị đặt sai”, thì dù cố gắng đến đâu cũng không thể phá vỡ vô
minh hay chứng đắc Niết-bàn.
Ngược lại, nếu “hướng đúng” – tức chánh kiến và tu tập đúng
đạo, thì minh (vijjā) phát sanh, vô minh bị phá tan.
Câu “Dựa trên sự viễn ly, dựa trên sự ly tham, và dựa trên
sự tịch tịnh, hướng đến tinh luyện trong giải thoát ” nêu lên
tinh thần cốt lõi của sự tu tập trong Phật giáo: mọi pháp hành
đều phải dựa trên sự xả ly, diệt ái, và hướng đến Niết-bàn, chứ
không dừng ở phước báu hay hỷ lạc thế gian.
Sớ giải cũng ghi “Imasmiṃ sutte kammassakatañāṇaṃ magganissitaṃ katvā
missakamaggo kathito” – nghĩa là: “Trong bài kinh này, sự hiểu
biết về nghiệp báo (kammassakata-ñāṇa) được lấy làm nền cho con
đường (magga), và con đường được nói đến ở đây là con đường hỗn
hợp (missakamagga).” Hàm ý là một người hiểu rõ bản chất của
nghiệp – dù thiện hay ác – thì những bất hạnh hay quả phúc nhân
thiên đều không thể so sánh với sự giác ngộ giải thoát niết bàn.
Sớ Giải
Navame micchāpaṇihitanti sūkaṃ nāma uddhaggaṃ katvā
ṭhapitaṃ hatthaṃ vā pādaṃ vā bhindati, tathā aṭṭhapitaṃ pana micchāpaṇihitaṃ nāma. micchāpaṇihitāya diṭṭhiyāti micchāṭhapitāya kammassakatapaññāya. avijjaṃ bhindissatīti
catusaccapaṭicchādakaṃ avijjaṃ bhindissati. vijjaṃ uppādessatīti arahattamaggavijjaṃ uppādessati. micchāpaṇihitattā, bhikkhave, diṭṭhiyāti
kammassakatapaññāya ceva maggabhāvanāya ca micchā
ṭhapitattā,
appavattitattāti attho. imasmiṃ sutte kammassakatañāṇaṃ magganissitaṃ katvā missakamaggo kathito.
Trong kinh thứ chín (Navama Sutta), câu nói rằng “gai lúa bị đặt sai
hướng (micchāpaṇihita)” có nghĩa là:
Một cọng lúa có đầu nhọn, nếu được đặt dựng đúng hướng (uddhaggaṃ katvā
ṭhapitaṃ), thì khi tay hay chân ấn lên, nó có thể đâm thủng;
“Micchāpaṇihitāya diṭṭhiyā” – nghĩa
là: “Với tri kiến bị đặt sai” — tức là tri kiến về nghiệp
(kammassakatapaññā) bị đặt sai hướng.
“Avijjaṃ bhindissati” – nghĩa
là: “Sẽ phá vỡ vô minh” — tức là phá tan vô minh che phủ bốn
Thánh đế (catusacca-paṭicchādaka-avijjā).
“Vijjaṃ uppādessati” – nghĩa
là: “Sẽ khởi sanh minh” — tức là khởi sanh trí tuệ của Đạo
A-la-hán (arahatta-magga-vijjā).
“Micchāpaṇihitattā, bhikkhave, diṭṭhiyā” – nghĩa là: “Vì tri kiến bị đặt sai hướng, này các Tỳ khưu,” tức là do
tri kiến về nghiệp và sự tu tập đạo (magga-bhāvanā) đều bị đặt
sai, hướng sai, nên không vận hành đúng (appavattita).
Cuối cùng, “Imasmiṃ sutte kammassakatañāṇaṃ magganissitaṃ katvā
missakamaggo kathito” – nghĩa là: “Trong bài kinh này,
sự hiểu biết về nghiệp báo (kammassakata-ñāṇa) được lấy làm nền
cho con đường (magga), và con đường được nói đến ở đây là con
đường hỗn hợp (missakamagga).”
Tương Ưng Ðạo (a)
-ooOoo-
I. Phẩm Vô Minh
9.IX. Sùka (Râu lúa mì) (S.iv,10)
1-2) Tại Sàvatthi...
-- Này các Tỷ-kheo, ví như sợi râu của lúa mì hay sợi râu
của lúa mạch đặt hướng sai lạc, khi bị tay hay chân đè vào, có
thể đâm thủng tay hay chân, hay có thể làm đổ máu; sự tình này
không xảy ra. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì sợi râu bị đặt hướng
sai lạc. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo kiến bị đặt hướng
sai lạc, con đường tu tập bị đặt hướng sai lạc, có thể đâm thủng
vô minh, làm minh sanh khởi, có thể đạt Niết-bàn; sự tình này
không xảy ra. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì kiến bị đặt hướng sai
lạc.
3) Này các Tỷ-kheo, ví như sợi râu của lúa mì, hay sợi râu
của lúa mạch được đặt hướng chân chánh, khi bị tay hay chân đè
vào, có thể đâm thủng tay hay chân, hay có thể làm đổ máu; sự
tình này có xảy ra. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì sợi râu được đặt
hướng chân chánh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo kiến được
đặt hướng chân chánh, con đường tu tập được đặt hướng chân
chánh, có thể đâm thủng vô minh, làm minh sanh khởi, có thể
chứng đạt Niết-bàn; sự tình này có xảy ra. Vì sao? Này các
Tỷ-kheo, vì kiến được đặt hướng chân chánh.
4) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo có kiến được đặt
hướng chân chánh, con đường tu tập được đặt hướng chân chánh,
đâm thủng vô minh, làm minh sanh khởi, chứng đạt Niết-bàn?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến liên
hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt,
hướng đến từ bỏ... tu tập chánh định liên hệ đến viễn ly, liên
hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Cũng
vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy do kiến được đặt hướng chân
chánh, do con đường tu tập được đặt hướng chân chánh, nên đâm
thủng vô minh, minh được sanh khởi, chứng được Niết-bàn. ooOoo |