|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 08 tháng 10, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 521. QUÁN CHIẾU TOÀN BỘ CẢM THỌ - Kinh An Trú I (Paṭhamavihārasuttaṃ) Kinh An Trú II (Dutiyavihārasuttaṃ) . ... .
Cảm thọ -vedanā – là thực thể quan trọng của cuộc sống. Người ta
dùng cảm thọ vui buồn để đo đạt hạnh phúc. Cảm thọ tự nó là
trọng điểm cần đo đạt.
Tác động và bị tác động là bản chất muôn thuở của cảm
thọ. Từ bản năng tập tính lâu đời cho đến đỉnh cao của sự tu tập
đều có vai trò của cảm thọ. Sự quán chiếu và thấu hiểu bản chất
và động năng hình thành cảm thọ là điều không thể không biết bởi
hành giả tu chỉ cũng như quán.
Kinh Văn
Kinh An Trú I (Paṭhamavihārasuttaṃ)
11. sāvatthinidānaṃ. “icchāmahaṃ, bhikkhave, aḍḍhamāsaṃ
paṭisalliyituṃ.
Nhân duyên ở Sāvatthī.
“Này các Tỳ khưu, Ta muốn nhập thất trong nửa tháng. Trong thời
gian ấy, không ai được đến gặp Ta, ngoại trừ người mang thức ăn
cúng dường.”
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” chư Tỳ khưu trả lời. Và như vậy,
trong nửa tháng ấy, không ai đến gặp Đức Thế Tôn, ngoại trừ vị
mang cơm dâng lên Ngài.
Khi nửa tháng ấy đã trôi qua, Đức Thế Tôn ra khỏi sự tịnh cư và
dạy chư Tỳ khưu:“Này các Tỳ khưu, trong thời gian ấy, Ta an trú
tại một phần của cảnh giới mà Ta đã từng trú ngay sau khi chứng
đắc Vô thượng Chánh giác.
Và Ta đã quán triệt như sau:
‘Có cảm thọ sinh khởi do tà kiến làm duyên;
Khi dục chưa lắng dịu, suy tầm chưa lắng dịu, và tưởng chưa lắng
dịu,
Khi dục đã lắng dịu, nhưng suy tầm và tưởng chưa lắng dịu,
Khi dục và suy tầm đã lắng dịu, nhưng tưởng chưa lắng dịu,
Khi dục, tư duy và tưởng đều đã lắng dịu,
Rồi khi có nỗ lực hướng đến điều chưa chứng đạt,
Kinh An Trú II (Dutiyavihārasuttaṃ)
12. sāvatthinidānaṃ. “icchāmahaṃ, bhikkhave, temāsaṃ
paṭisalliyituṃ.
Nhân duyên ở Sāvatthī.
“Này các Tỳ khưu, Ta muốn nhập thất trong ba tháng. Trong thời
gian ấy, không ai
đến gặp Ta ngoại trừ người mang thức ăn cúng dường.”
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” chư Tỳ khưu trả lời. Và như vậy,
trong ba tháng ấy, không ai đến gặp Đức Thế Tôn, ngoại trừ vị
mang cơm dâng lên Ngài.
Khi ba tháng ấy đã trôi qua, Đức Thế Tôn ra khỏi sự tịnh cư và
dạy chư Tỳ khưu:“Này các Tỳ khưu, trong thời gian ấy, Ta an trú
tại một phần của cảnh giới mà Ta đã từng trú ngay sau khi chứng
đắc Vô thượng Chánh giác.
Và Ta đã quán triệt như sau:
‘Có cảm thọ sinh khởi do tà kiến làm duyên,và cũng có cảm thọ
sinh khởi do sự lắng dịu của tà kiến làm duyên.
Có cảm thọ sinh khởi do tà định làm duyên,
Có cảm thọ sinh khởi do dục (chanda) làm duyên,
Có cảm thọ sinh khởi do suy tầm (vitakka) làm duyên,
Có cảm thọ sinh khởi do tưởng (saññā) làm duyên,
Khi dục, tư duy và tưởng chưa lắng dịu,
Khi dục đã lắng dịu, nhưng tư duy và tưởng chưa lắng dịu,
Khi dục và tư duy đã lắng dịu, nhưng tưởng chưa lắng dịu,
Khi dục, tư duy và tưởng đều đã lắng dịu,
Rồi khi có nỗ lực hướng đến điều chưa chứng đạt, Chú Thích
Sớ giải chú thích tại sao Đức Thế Tôn muốn tịnh cư trong nửa
tháng: Bởi vì, trong nửa tháng ấy, được nói rằng Ngài không có
ai cần được hướng dẫn hay giáo hóa. Khi ấy, Đức Thế Tôn suy
nghĩ: “Ta sẽ trải qua nửa tháng này trong hỷ lạc của thiền quả
(phalasamāpatti). Như vậy, Ta vừa an trú trong sự an lạc tịch
tịnh,
Theo Sớ Giải, câu nói của Đức Thế Tôn: “Ta đã an trú tại một
phần của nơi Ta từng trú sau khi chứng đắc Giác ngộ viên mãn”
được hiểu là Ngài đang nói đến bốn mươi chín ngày thiền định
chung quanh cội Bồ-đề ngay sau khi thành đạo. Trong giai đoạn ấy
, Đức Thế Tôn đã quán sát các pháp một cách toàn diện
(nippadesa) – gồm ngũ uẩn, sáu xứ, mười tám giới, Tứ Thánh Đế,
v.v. Còn trong bài kinh này, Ngài chỉ quán chiếu một phần
(padesa) – chủ yếu về cảm thọ (vedanā), tức quán sự sinh khởi
của cảm thọ tùy thuộc vào các duyên như tà kiến, chánh kiến,
dục, tưởng, tư duy, v.v. Sớ giải cũng đưa ra ví dụ minh họa cho
cách cảm thọ sinh khởi do tà kiến và cảm thọ sinh khởi do chánh
kiến.
Về mặt học thuật, bài kinh này được dẫn trong Aṭṭhasālinī (As
30–31)
[chú
giải đầu tiên của Tạng Luận,
đoạn 30-31],
xác chứng cho việc Đức Phật đã dạy về Thắng Pháp (Abhidhamma) —
vì trong đây, Ngài phân tích sự vận hành của các tâm sở (cảm
thọ, tưởng, tư duy...) một cách
tế vi mô. Tương tự, trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga
519, chương XVII, đoạn 9), bài kinh này cũng được trích để bác
bỏ quan điểm cho rằng “Duyên khởi chỉ là sự sinh khởi đơn giản
của các pháp”. Thay vào đó, chứng minh rằng duyên khởi là một
tiến trình tâm–vật lý vi tế, tương thuộc đa tầng, nơi mà mỗi yếu
tố như cảm thọ, tưởng, hành... đều có nhiều tầng nhân duyên hỗ
tương, chứ không đơn thuần là “cái này có thì cái kia có”.
Theo Sớ Giải, cảm thọ do dục (chanda) làm duyên là loại cảm thọ
đi kèm với tám tâm được hợp thành cùng tham ái
(lobha-sahagata-citta) — xem thêm CMA I.4
Abhidhammattha-saṅgaha-[
A Comprehensive Manual of Abhidhamma",
tức là
"Cẩm nang toàn diện về Abhidhamma"
chương I, tiết mục 4].).
— bản dịch tiếng Anh nổi tiếng của
Abhidhammattha-saṅgaha,
do
Bhikkhu Bodhi hiệu đính và dịch,
Tức là, khi tâm bị thúc đẩy bởi dục vọng và sự ham muốn đạt
được, cảm thọ ấy thuộc dục giới, đi kèm với tham.
Sớ giải chú thích: cảm thọ do tầm (vitakka) làm duyên là cảm thọ
có mặt trong sơ thiền (paṭhama-jhāna), vì ở tầng định này còn có
tầm (vitakka) và tứ (vicāra).
Cảm thọ do tưởng (saññā) làm duyên là cảm thọ trong sáu tầng
thiền định từ nhị thiền cho đến phi tưởng phi phi tưởng xứ
(nevasaññānāsaññāyatana),
Ở đây, cảm thọ (vedanā) được chia theo nhân duyên thuộc tánh
(cetasika) tâm chi phối:
Khi dục (chanda) làm duyên là cảm thọ thuộc tham ái, dục giới.
Khi tư duy (vitakka) làm duyên là cảm thọ thuộc sơ thiền.
Khi tưởng (saññā) làm duyên là cảm thọ thuộc các tầng thiền cao
hơn (sắc và vô sắc giới).
Càng lên cao, cảm thọ càng vi tế, không còn gắn với dục vọng hay
ham muốn chiếm hữu, mà chỉ còn tính an tịnh thuần túy của tâm
định.
Theo Sớ giải, sự phân tích về các loại cảm thọ tùy theo mức độ
“lắng dịu” của ba yếu tố (dục, tư duy, tưởng) được hiểu như sau:
Cảm thọ (vedanā) không chỉ phát sinh do các xúc (phassa), mà còn
tùy thuộc vào trạng thái tâm lý nền tảng — như dục, tư duy,
tưởng, và các tầng định. Mỗi mức độ lắng dịu của các tâm hành sẽ
sinh ra một loại cảm thọ vi tế hơn, tương ứng với tầng định sâu
hơn. Khi mọi tâm hành đều diệt, chỉ còn cảm thọ siêu thế – tức
Niết-bàn, vượt ngoài phạm trù “lạc, khổ, xả”. Điều này chứng
minh cảm thọ cũng là pháp duyên sinh, vô ngã, và con đường giải
thoát chính là sự đoạn diệt dần của các duyên sinh này.
Sớ Giải
Kinh An Trú I
“Icchāmahaṃ, bhikkhave, aḍḍhamāsaṃ paṭisallīyituṃ …” “Này các Tỳ khưu, Ta muốn nhập thất tịnh cư trong nửa tháng; chỉ trừ một vị đem vật thực đến, ngoài ra không ai đến gặp Ta.”– Câu này nghĩa là: “Ta muốn ở một mình, ẩn dật, nhập định trong nửa tháng, không tiếp xúc với ai khác.”– Ngoại trừ một vị Tỳ khưu được chỉ định mang vật thực
đến
dâng, không một ai — dù là Tỳ khưu hay cư sĩ — được phép đến
diện kiến.
Kasmā pana evamāhāti? “Tại sao Ngài lại nói như vậy?”,Trong thời gian nửa tháng ấy, không có chúng sinh nào cần được
hướng
dẫn đặc biệt, nên Đức Phật khởi tâm: “Trong nửa tháng này, Ta sẽ an trú trong thiền quả - phalasamāpatti — định an lạc của quả chứng — để hưởng lạc trú giải thoát, đồng thời làm gương cho hậu thế. Sau này, các thế hệ tương lai sẽ nói: ‘Ngay cả Đức Thế Tôn đôi lúc cũng sống một mình, xa rời đồ chúng; huống hồ gì chúng ta!’ Như vậy,
việc
làm này sẽ lợi ích lâu dài và đem lại an lạc cho nhiều người.” Một vị Tỳ khưu được chỉ định hằng ngày quét dọn khu tịnh thất (Gandhakuṭi), chuẩn bị nước rửa mặt,
tăm
xỉa răng, rồi mang vật thực đến dâng Đức Phật, sau đó rời đi,
không ở lại.
(“Ta đã an trú nơi phần đất mà Ta từng ở ngay sau khi Giác ngộ” “Yena svāhaṃ … tassa padesena vihāsiṃ.” Nghĩa là: “Ta đã an trú cảnh giới thuộc chỗ Ta đã ở ngay
sau khi thành đạo.”
“Cảnh giới” ở đây không
chỉ là địa lý, mà là pháp giới (dhammapadesa): 49 ngày quanh cội Bồ-đề, Ngài đã phân tích toàn bộ năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới, bốn Thánh
đế,
năm căn, mười hai duyên khởi, v.v...
Lúc đó, Ngài quán chiếu trọn vẹn (nippadesa) tất cả các pháp.
Đức Phật quán sát cảm thọ Ngài quán chiếu: “Chúng sinh cảm nhận những loại lạc thọ như thế này, khổ thọ như thế kia...” Ngài quán sát từ khổ thọ sâu nhất (ở địa ngục Avīci) cho đến lạc thọ vi tế nhất sự hiện hữu. Mọi loại thọ đều
được
Ngài thấy rõ bằng tuệ giác toàn diện. Sau đó, Ngài phân tích:
“Có cảm thọ do tà kiến (micchādiṭṭhi) làm duyên; có cảm thọ do
chánh kiến (sammādiṭṭhi) làm duyên...” v.v.
Thí dụ về cảm thọ do tà kiến và chánh kiến
Cảm thọ do các duyên khác (ý dục, tầm, tưởng)
Khi các tâm hành lắng
dịu dần
– Khi dục, tầm, tưởng chưa lắng dịu → cảm thọ
thuộc tâm dục giới, đi kèm với tham.
Cảm thọ siêu thế (lokuttara-vedanā) Khi hành giả hướng đến điều chưa đạt được (appattassa pattiyā) – tức là quả vị A-la-hán (arahatta-phala), với nỗ lực (āyāma/vīriya) tinh tấn, thì cảm thọ sinh ra từ sự chứng đạt Thánh đạo và Thánh quả chính là cảm thọ siêu thế, được gọi là catumagga-sahajāta lokuttara-vedanā – cảm thọ trong
bốn
Thánh đạo.
Kinh An Trú II 12. dutiye paṭisallānakāraṇaṃ vuttanayeneva veditabbaṃ. micchādiṭṭhivūpasamapaccayāti micchādiṭṭhivūpasamo nāma sammādiṭṭhi. tasmā yaṃ sammādiṭṭhipaccayā vedayitaṃ vuttaṃ, tadeva micchādiṭṭhivūpasamapaccayā veditabbaṃ. imasmiṃ pana sutte vipākavedanaṃ atidūreti maññamānā na gaṇhantīti vuttaṃ. iminā nayena sabbattha attho veditabbo. yassa yassa hi vūpasamapaccayāti vuccati, tassa tassa paṭipakkhadhammapaccayāva taṃ taṃ vedayitaṃ adhippetaṃ. chandavūpasamapaccayātiādīsu pana chandavūpasamapaccayā tāva paṭhamajjhānavedanā veditabbā. vitakkavūpasamapaccayā dutiyajjhānavedanā. saññāpaccayā chasamāpattivedanā. saññāvūpasamapaccayā nevasaññānāsaññāyatanavedanā. chando ca
vūpasantotiādīni vuttatthāneva.
“Dutiye paṭisallānakāraṇaṃ vuttanayeneva veditabbaṃ.”
“Trong bài thứ hai , lý do Đức Phật nhập thất cũng nên được hiểu
theo cách đã giải thích ở bài trước.” Nghĩa là: Cũng giống như
trong kỳ tĩnh cư nửa tháng trước, Đức Phật lần này nhập thất ba
tháng) cũng vì không có chúng sinh nào cần được giáo hóa, nên
Ngài an trú trong phalasamāpatti – thiền quả, để làm gương cho
hậu thế.
Cảm thọ do sự lắng dịu của tà kiến
“Micchādiṭṭhivūpasamapaccayā”ti micchādiṭṭhivūpasamo nāma
sammādiṭṭhi.
“‘Sự lắng dịu của tà kiến (micchādiṭṭhi-vūpasama)’ chính là
chánh kiến (sammādiṭṭhi).” Khi tà kiến diệt, chánh kiến sinh
khởi; vì vậy, mọi cảm thọ (vedayitaṃ) được nói là “do chánh kiến
làm duyên” cũng chính là “do sự lắng dịu của tà kiến làm duyên.”
Loại trừ cảm thọ quả báo
“Imasmiṃ pana sutte vipākavedanaṃ atidūreti maññamānā na
gaṇhantī”ti vuttaṃ.
“Trong bài kinh này, các bậc làm Sớ giải xưa cho rằng cảm thọ
quả báo (vipāka-vedanā) là quá xa với nội dung, nên không được
tính đến.” Nghĩa là: Các bậc trưởng lão xưa không đưa cảm thọ do
nghiệp quá khứ vào phần này, vì kinh này nói đến cảm thọ phát
sinh trong khi tu tập – tức do nhân hiện tại.
Nguyên tắc chung của các loại “lắng dịu”
“Yassa yassa hi vūpasamapaccayā”ti vuccati, tassa tassa
paṭipakkhadhammapaccayāva taṃ taṃ vedayitaṃ adhippetaṃ.”
“Bất kỳ khi nào nói rằng ‘do sự lắng dịu của ... làm duyên’, thì
ý nói chính là cảm thọ được duyên khởi bởi pháp đối nghịch với
điều ấy.” Ví dụ:
Các loại cảm thọ tương ứng theo tầng thiền
“Chandavūpasamapaccayā tāva paṭhamajjhānavedanā veditabbā.”
“Cảm thọ do sự lắng dịu của dục (chanda) làm duyên, chính là cảm
thọ của sơ thiền.”
vì trong sơ thiền, dục đã diệt, tâm an trú trong tĩnh lạc do
thiền định.
“Vitakkavūpasamapaccayā dutiyajjhānavedanā.”
“Cảm thọ do sự lắng dịu của tầm (vitakka) làm duyên, là cảm thọ
của nhị thiền.”
“Saññāpaccayā chasamāpattivedanā.”
“Cảm thọ do tưởng (saññā) làm duyên, là cảm thọ của sáu tầng
định (samāpatti).”
bao gồm các tầng từ nhị thiền đến phi tưởng phi phi tưởng xứ,
trong đó tưởng là nền vi tế duy trì định.
“Saññāvūpasamapaccayā nevasaññānāsaññāyatanavedanā.”
“Cảm thọ do sự lắng dịu của tưởng (saññā-vūpasama)
làm duyên, là cảm thọ của phi tưởng phi phi tưởng xứ.”
tức tầng thiền cao nhất của vô sắc giới, nơi tưởng không hoàn
toàn diệt nhưng cực kỳ mờ nhạt.
“Chando ca vūpasantotiādīni vuttatthāneva.”
“Cụm từ ‘và khi dục đã lắng dịu, v.v.’ trong kinh nên được hiểu
theo nghĩa đã giải thích ở trên.” nghĩa là: Toàn bộ mô hình lắng
dịu dần của các tâm hành (dục – tầm – tưởng) tương ứng với sự vi
tế dần của cảm thọ, giống như đã giải trong kinh Paṭisallāna
I.
II. Phẩm Trú
11.I. Trú (1) (S.v,12)
1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
2) -- Này các Tỷ-kheo, Ta muốn sống Thiền định trong nửa tháng,
không có ai đến yết kiến Ta, trừ độc nhất người mang đồ ăn khất
thực.
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Như vậy, không một ai đến yết
kiến Thế Tôn, trừ một người người mang đồ ăn khất thực lại.
3) Rồi Thế Tôn sau nửa tháng, từ chỗ Thiền tịnh đứng dậy và gọi
các Tỷ-kheo:
-- Với sự an trú, Ta đã trú khi Ta mới chứng Chánh đẳng Chánh
giác, nhưng Ta chỉ trú một phần thôi.
4) Như vậy, Ta rõ biết những gì được cảm thọ do duyên tà kiến,
những gì được cảm thọ do duyên chánh kiến... những gì được cảm
thọ do duyên tà định, những gì được cảm thọ do duyên chánh định,
những gì được cảm thọ do duyên ước muốn (chanda), những gì được
cảm thọ do duyên tầm (vitakka), những gì được cảm thọ do duyên
tưởng (sannà).
5) Khi ước muốn không tịnh chỉ, thời tầm không tịnh chỉ, tưởng
không tịnh chỉ; do duyên như vậy, có được những cảm thọ. Và khi
ước muốn được tịnh chỉ, nhưng tầm chưa được tịnh chỉ, tưởng chưa
được tịnh chỉ; do duyên như vậy, có được những cảm thọ. Và khi
ước muốn được tịnh chỉ, tầm được tịnh chỉ, nhưng tưởng chưa được
tịnh chỉ, do duyên như vậy, có được những cảm thọ. Và khi ước
muốn được tịnh chỉ, tầm được tịnh chỉ, tưởng được tịnh chỉ, do
duyên như vậy, có được những cảm thọ.
6) Ðối với người chưa chứng đạt, cần phải tinh tấn để được chứng
đạt. Trong trường hợp đã được chứng đạt; do duyên như vậy, có
được những cảm thọ.
12.II. Trú (2) (S.v,13)
1-2) Ở Sàvatthi...
-- Này các Tỷ-kheo, Ta muốn sống Thiền tịnh trong ba tháng...
3) Sau ba tháng, Thế Tôn từ Thiền tịnh đứng dậy, gọi các
Tỷ-kheo:
-- Với sự an trú, Ta đã trú khi Ta mới chứng Chánh đẳng Chánh
giác. Nhưng Ta chỉ trú một phần thôi.
4) Như vậy, Ta rõ biết (pajànàmi) những gì được cảm thọ do duyên
tà kiến, những gì được cảm thọ do duyên tà kiến được tịnh chỉ,
những gì được cảm thọ do duyên chánh kiến, những gì được cảm thọ
do duyên chánh kiến được tịnh chỉ, những gì được cảm thọ do
duyên tà định, những gì được cảm thọ do duyên tà định được tịnh
chỉ, những gì được cảm thọ do duyên chánh định, những gì được
cảm thọ do duyên chánh định được tịnh chỉ, những gì được cảm thọ
do duyên ước muốn (chanda), những gì được cảm thọ do duyên ước
muốn được tịnh chỉ, những gì được cảm thọ do duyên tầm, những gì
được cảm thọ do duyên tầm được tịnh chỉ, những gì được cảm thọ
do duyên tưởng, những gì được cảm thọ do duyên tưởng được tịnh
chỉ.
5) Khi ước muốn không tịnh chỉ, tầm không tịnh chỉ, tưởng không
tịnh chỉ; do duyên như vậy, có được những cảm thọ. Và khi ước
muốn được tịnh chỉ, nhưng tầm chưa được tịnh chỉ, tưởng chưa
được tịnh chỉ; do duyên như vậy, có được những cảm thọ. Và khi
ước muốn được tịnh chỉ, tầm được tịnh chỉ, nhưng tưởng chưa được
tịnh chỉ; do duyên như vậy, có được những cảm thọ. Và khi ước
muốn được tịnh chỉ, tầm được tịnh chỉ, tưởng được tịnh chỉ; do
duyên như vậy, có được những cảm thọ.
6) Ðối với người chưa chứng đạt, cần phải tinh tấn để chứng đạt.
Trong trường hợp đã được chứng đạt; do duyên như vậy, có được
những cảm thọ. ooOoo |