BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Tư, ngày 08 tháng 10, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 45, Tương Ưng Đạo. Phẩm Tịnh Cư. SN 45.11, 45.12
Bài 521. QUÁN CHIẾU TOÀN BỘ CẢM THỌ - Kinh An Trú I (Paṭhamavihārasuttaṃ) Kinh An Trú II (Dutiyavihārasuttaṃ) .

... .
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-521.jpg
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png

Cảm thọ -vedanā – là thực thể quan trọng của cuộc sống. Người ta dùng cảm thọ vui buồn để đo đạt hạnh phúc. Cảm thọ tự nó là trọng điểm cần đo đạt.  Tác động và bị tác động là bản chất muôn thuở của cảm thọ. Từ bản năng tập tính lâu đời cho đến đỉnh cao của sự tu tập đều có vai trò của cảm thọ. Sự quán chiếu và thấu hiểu bản chất và động năng hình thành cảm thọ là điều không thể không biết bởi hành giả tu chỉ cũng như quán.

Kinh Văn

Kinh An Trú I (Paṭhamavihārasuttaṃ)

11. sāvatthinidānaṃ. “icchāmahaṃ, bhikkhave, aḍḍhamāsaṃ paṭisalliyituṃ.
namhi kenaci upasaṅkamitabbo, aññatra ekena piṇḍapātanīhārakenā”ti. “evaṃ, bhante”ti kho te bhikkhū
bhagavato paṭissutvā nāssudha koci bhagavantaṃ upasaṅkamati, aññatra ekena piṇḍapātanīhārakena.
atha kho bhagavā tassa aḍḍhamāsassa accayena paṭisallānā vuṭṭhito bhikkhū āmantesi — “yena svāhaṃ,
bhikkhave, vihārena paṭhamābhisambuddho viharāmi, tassa padesena vihāsiṃ. so evaṃ pajānāmi —
‘micchādiṭṭhipaccayāpi vedayitaṃ; sammādiṭṭhipaccayāpi vedayitaṃ ... pe ... micchāsamādhipaccayāpi
vedayitaṃ; sammāsamādhipaccayāpi vedayitaṃ; chandapaccayāpi vedayitaṃ; vitakkapaccayāpi vedayitaṃ; saññāpaccayāpi vedayitaṃ; chando ca avūpasanto hoti, vitakko ca avūpasanto hoti, saññā ca avūpasantā hoti, tappaccayāpi vedayitaṃ; chando ca vūpasanto hoti, vitakko ca vūpasanto hoti, saññā ca vūpasantā hoti, tappaccayāpi vedayitaṃ; appattassa pattiyā atthi āyāmaṃ {vāyāmaṃ (sī. syā.)}, tasmimpi ṭhāne anuppatte tappaccayāpi vedayitan’”ti. paṭhamaṃ.

Nhân duyên ở Sāvatthī.
[Đức Thế Tôn dạy:]

“Này các Tỳ khưu, Ta muốn nhập thất trong nửa tháng. Trong thời gian ấy, không ai được đến gặp Ta, ngoại trừ người mang thức ăn cúng dường.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” chư Tỳ khưu trả lời. Và như vậy, trong nửa tháng ấy, không ai đến gặp Đức Thế Tôn, ngoại trừ vị mang cơm dâng lên Ngài.

Khi nửa tháng ấy đã trôi qua, Đức Thế Tôn ra khỏi sự tịnh cư và dạy chư Tỳ khưu:“Này các Tỳ khưu, trong thời gian ấy, Ta an trú tại một phần của cảnh giới mà Ta đã từng trú ngay sau khi chứng đắc Vô thượng Chánh giác.

Và Ta đã quán triệt như sau:

‘Có cảm thọ sinh khởi do tà kiến làm duyên;
cũng có cảm thọ sinh khởi do chánh kiến làm duyên.
Có cảm thọ sinh khởi do tà định làm duyên;
cũng có cảm thọ sinh khởi do chánh định làm duyên.

Có cảm thọ sinh khởi do dục (chanda) làm duyên,
cũng có cảm thọ sinh khởi do suy tầm (vitakka) làm duyên,
cũng có cảm thọ sinh khởi do tưởng (saññā) làm duyên.

Khi dục chưa lắng dịu, suy tầm chưa lắng dịu, và tưởng chưa lắng dịu,
thì cảm thọ sinh khởi dựa trên các duyên ấy.

Khi dục đã lắng dịu, nhưng suy tầm và tưởng chưa lắng dịu,
vẫn có cảm thọ sinh khởi dựa trên các duyên ấy.

Khi dục và suy tầm đã lắng dịu, nhưng tưởng chưa lắng dịu,
vẫn có cảm thọ sinh khởi dựa trên các duyên ấy.

Khi dục, tư duy và tưởng đều đã lắng dịu,
vẫn có cảm thọ sinh khởi dựa trên duyên ấy.

Rồi khi có nỗ lực hướng đến điều chưa chứng đạt,
thì cảm thọ cũng sinh khởi dựa trên duyên ấy.’”


Kinh An Trú II (Dutiyavihārasuttaṃ)

12. sāvatthinidānaṃ. “icchāmahaṃ, bhikkhave, temāsaṃ paṭisalliyituṃ.
namhi kenaci upasaṅkamitabbo, aññatra ekena piṇḍapātanīhārakenā”ti. “evaṃ, bhante”ti kho te bhikkhū
bhagavato paṭissutvā nāssudha koci bhagavantaṃ upasaṅkamati, aññatra ekena piṇḍapātanīhārakena.
atha kho bhagavā tassa temāsassa accayena paṭisallānā vuṭṭhito bhikkhū āmantesi — “yena svāhaṃ,
bhikkhave, vihārena paṭhamābhisambuddho viharāmi, tassa padesena vihāsiṃ. so evaṃ pajānāmi —
‘micchādiṭṭhipaccayāpi vedayitaṃ; micchādiṭṭhivūpasamapaccayāpi vedayitaṃ; sammādiṭṭhipaccayāpi
vedayitaṃ; sammādiṭṭhivūpasamapaccayāpi vedayitaṃ ... pe ... micchāsamādhipaccayāpi vedayitaṃ;
micchāsamādhivūpasamapaccayāpi vedayitaṃ, sammāsamādhipaccayāpi vedayitaṃ; sammāsamādhivūpasamapaccayāpi vedayitaṃ; chandapaccayāpi vedayitaṃ; chandavūpasamapaccayāpi vedayitaṃ; vitakkapaccayāpi vedayitaṃ; vitakkavūpasamapaccayāpi vedayitaṃ; saññāpaccayāpi vedayitaṃ; saññāvūpasamapaccayāpi vedayitaṃ; chando ca avūpasanto hoti, vitakko ca avūpasanto hoti, saññā ca avūpasantā hoti, tappaccayāpi vedayitaṃ; chandoca vūpasanto hoti, vitakko ca vūpasanto hoti, saññā ca vūpasantā hoti, tappaccayāpi vedayitaṃ; appattassa pattiyā atthi āyāmaṃ {vāyāmaṃ (sī. syā.)}, tasmimpi ṭhāne anuppatte tappaccayāpi vedayitan’”ti. dutiyaṃ.

Nhân duyên ở Sāvatthī.
[Đức Thế Tôn dạy:]

“Này các Tỳ khưu, Ta muốn nhập thất trong ba tháng. Trong thời gian ấy, không ai  đến gặp Ta ngoại trừ người mang thức ăn cúng dường.”

“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” chư Tỳ khưu trả lời. Và như vậy, trong ba tháng ấy, không ai đến gặp Đức Thế Tôn, ngoại trừ vị mang cơm dâng lên Ngài.

Khi ba tháng ấy đã trôi qua, Đức Thế Tôn ra khỏi sự tịnh cư và dạy chư Tỳ khưu:“Này các Tỳ khưu, trong thời gian ấy, Ta an trú tại một phần của cảnh giới mà Ta đã từng trú ngay sau khi chứng đắc Vô thượng Chánh giác.

Và Ta đã quán triệt như sau:

‘Có cảm thọ sinh khởi do tà kiến làm duyên,và cũng có cảm thọ sinh khởi do sự lắng dịu của tà kiến làm duyên.
Có cảm thọ sinh khởi do chánh kiến làm duyên,và cũng có cảm thọ sinh khởi do sự lắng dịu của chánh kiến làm duyên.

Có cảm thọ sinh khởi do tà định làm duyên,
và cũng có cảm thọ sinh khởi do sự lắng dịu của tà định làm duyên.
Có cảm thọ sinh khởi do chánh định làm duyên,
và cũng có cảm thọ sinh khởi do sự lắng dịu của chánh định làm duyên.

Có cảm thọ sinh khởi do dục (chanda) làm duyên,
cũng có cảm thọ sinh khởi do sự lắng dịu của dục làm duyên.

Có cảm thọ sinh khởi do suy tầm (vitakka) làm duyên,
cũng có cảm thọ sinh khởi do sự lắng dịu của suy tầm làm duyên.

Có cảm thọ sinh khởi do tưởng (saññā) làm duyên,
cũng có cảm thọ sinh khởi do sự lắng dịu của tưởng làm duyên.

Khi dục, tư duy và tưởng chưa lắng dịu,
thì cảm thọ sinh khởi dựa trên các duyên ấy.

Khi dục đã lắng dịu, nhưng tư duy và tưởng chưa lắng dịu,
vẫn có cảm thọ sinh khởi dựa trên các duyên ấy.

Khi dục và tư duy đã lắng dịu, nhưng tưởng chưa lắng dịu,
vẫn có cảm thọ sinh khởi dựa trên duyên ấy.

Khi dục, tư duy và tưởng đều đã lắng dịu,
vẫn có cảm thọ sinh khởi dựa trên duyên ấy.

Rồi khi có nỗ lực hướng đến điều chưa chứng đạt,
thì cảm thọ cũng sinh khởi dựa trên duyên ấy.’”

Chú Thích

Sớ giải chú thích tại sao Đức Thế Tôn muốn tịnh cư trong nửa tháng: Bởi vì, trong nửa tháng ấy, được nói rằng Ngài không có ai cần được hướng dẫn hay giáo hóa. Khi ấy, Đức Thế Tôn suy nghĩ: “Ta sẽ trải qua nửa tháng này trong hỷ lạc của thiền quả (phalasamāpatti). Như vậy, Ta vừa an trú trong sự an lạc tịch tịnh,
vừa làm gương cho các thế hệ hành giả về sau.” Đây là trạng thái nhập định quả A-la-hán (arahatta-phala-samāpatti) – một loại thiền an trú trong quả vị giải thoát, không còn tạo tác, chỉ còn sự tịch tịnh của Niết-bàn hiện tiền. Chư Phật và A-la-hán đôi khi nhập định này để nghỉ ngơi trong tâm xả trọn vẹn và thị hiện mô phạm cho đời sau thấy rằng, sự an lạc chân thật nằm trong tịch diệt, chứ không phải trong hành động hay tạo tác.

Theo Sớ Giải, câu nói của Đức Thế Tôn: “Ta đã an trú tại một phần của nơi Ta từng trú sau khi chứng đắc Giác ngộ viên mãn” được hiểu là Ngài đang nói đến bốn mươi chín ngày thiền định chung quanh cội Bồ-đề ngay sau khi thành đạo. Trong giai đoạn ấy , Đức Thế Tôn đã quán sát các pháp một cách toàn diện (nippadesa) – gồm ngũ uẩn, sáu xứ, mười tám giới, Tứ Thánh Đế, v.v. Còn trong bài kinh này, Ngài chỉ quán chiếu một phần (padesa) – chủ yếu về cảm thọ (vedanā), tức quán sự sinh khởi của cảm thọ tùy thuộc vào các duyên như tà kiến, chánh kiến, dục, tưởng, tư duy, v.v. Sớ giải cũng đưa ra ví dụ minh họa cho cách cảm thọ sinh khởi do tà kiến và cảm thọ sinh khởi do chánh kiến.

Về mặt học thuật, bài kinh này được dẫn trong Aṭṭhasālinī (As 30–31) [chú giải đầu tiên của Tạng Luận, đoạn 30-31], xác chứng cho việc Đức Phật đã dạy về Thắng Pháp (Abhidhamma) — vì trong đây, Ngài phân tích sự vận hành của các tâm sở (cảm thọ, tưởng, tư duy...) một cách  tế vi mô. Tương tự, trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga 519, chương XVII, đoạn 9), bài kinh này cũng được trích để bác bỏ quan điểm cho rằng “Duyên khởi chỉ là sự sinh khởi đơn giản của các pháp”. Thay vào đó, chứng minh rằng duyên khởi là một tiến trình tâm–vật lý vi tế, tương thuộc đa tầng, nơi mà mỗi yếu tố như cảm thọ, tưởng, hành... đều có nhiều tầng nhân duyên hỗ tương, chứ không đơn thuần là “cái này có thì cái kia có”.

Theo Sớ Giải, cảm thọ do dục (chanda) làm duyên là loại cảm thọ đi kèm với tám tâm được hợp thành cùng tham ái (lobha-sahagata-citta) — xem thêm CMA I.4  Abhidhammattha-saṅgaha-[ A Comprehensive Manual of Abhidhamma", tức là "Cẩm nang toàn diện về Abhidhamma" chương I, tiết mục 4].). — bản dịch tiếng Anh nổi tiếng của Abhidhammattha-sagaha, do Bhikkhu Bodhi hiệu đính và dịch, Tức là, khi tâm bị thúc đẩy bởi dục vọng và sự ham muốn đạt được, cảm thọ ấy thuộc dục giới, đi kèm với tham.

Sớ giải chú thích: cảm thọ do tầm (vitakka) làm duyên là cảm thọ có mặt trong sơ thiền (paṭhama-jhāna), vì ở tầng định này còn có tầm (vitakka) và tứ (vicāra).

Cảm thọ do tưởng (saññā) làm duyên là cảm thọ trong sáu tầng thiền định từ nhị thiền cho đến phi tưởng phi phi tưởng xứ (nevasaññānāsaññāyatana),
vì ở các tầng ấy tưởng vẫn còn là yếu tố tinh tế duy trì dòng định.

Ở đây, cảm thọ (vedanā) được chia theo nhân duyên thuộc tánh (cetasika) tâm chi phối:

Khi dục (chanda) làm duyên là cảm thọ thuộc tham ái, dục giới.

Khi tư duy (vitakka) làm duyên là cảm thọ thuộc sơ thiền.

Khi tưởng (saññā) làm duyên là cảm thọ thuộc các tầng thiền cao hơn (sắc và vô sắc giới).

Càng lên cao, cảm thọ càng vi tế, không còn gắn với dục vọng hay ham muốn chiếm hữu, mà chỉ còn tính an tịnh thuần túy của tâm định.

Theo Sớ giải, sự phân tích về các loại cảm thọ tùy theo mức độ “lắng dịu” của ba yếu tố (dục, tư duy, tưởng) được hiểu như sau:

  • Khi cả ba — dục, tư duy, tưởng — chưa lắng dịu,
    cảm thọ ấy là loại cảm thọ đi kèm với tám tâm hợp với tham ái (lobha-sahagata-citta).
  • Khi chỉ dục (chanda) đã lắng dịu,
    cảm thọ ấy thuộc về sơ thiền (paṭhama-jhāna), vì ở tầng này tâm đã rời bỏ dục nhưng vẫn còn tầm, tứ, tưởng.
  • Khi chỉ còn tưởng (saññā) hoạt động,
    cảm thọ ấy thuộc về nhị thiền trở lên, tức các tầng định nơi tư duy và dục đã diệt.
  • Khi cả ba – dục, tư duy, tưởng – đều đã lắng dịu hoàn toàn,
    cảm thọ ấy thuộc phi tưởng phi phi tưởng xứ (nevasaññānāsaññāyatana) – trạng thái cực kỳ vi tế của tâm.
  • Cụm từ “điều chưa đạt được” ám chỉ quả vị A-la-hán (arahatta-phala),
    và cụm “cảm thọ với điều ấy làm duyên” bao gồm cảm thọ siêu thế (lokuttara vedanā) đi cùng bốn Đạo tâm (magga-citta).
  • Từ “nỗ lực” trong đoạn kinh tương ứng với āyāma, đồng nghĩa với vāyāma (tinh tấn), và được Sớ giải chú thích bằng từ vīriya (năng lực tinh tấn).
  • “Sự lắng dịu của tà kiến” (micchādiṭṭhi-paṭipassaddhi) chính là chánh kiến (sammādiṭṭhi).  Vì vậy, cảm thọ do chánh kiến làm duyên cũng chính là cảm thọ do sự lắng dịu của tà kiến.
  • Tuy nhiên, trong bài Kinh này, các vị luận sư cổ (porāṇā) không bao gồm các cảm thọ quả báo (vipāka-vedanā), vì cho rằng chúng quá xa với mạch văn của bài kinh (không thuộc phạm vi tu tập mà thuộc kết quả nghiệp).
  • Bất cứ khi nào có nói đến “cảm thọ do sự lắng dịu của một trạng thái nào đó”, ta nên hiểu rằng nó được duyên khởi bởi trạng thái đối nghịch với điều ấy. Ví dụ:
  • Cảm thọ do sự lắng dịu của dục (chanda)  là cảm thọ thuộc sơ thiền (paṭhama-jhāna).
  • Cảm thọ do sự lắng dịu của tầm (vitakka)  là cảm thọ thuộc nhị thiền (dutiya-jhāna).
  • Và cảm thọ do sự lắng dịu của tưởng (saññā) → (phần còn lại tiếp nối ở bản sau) là cảm thọ thuộc các tầng định vô sắc giới, như vô sở hữu xứ hay phi tưởng phi phi tưởng xứ.

Cảm thọ (vedanā) không chỉ phát sinh do các xúc (phassa), mà còn tùy thuộc vào trạng thái tâm lý nền tảng — như dục, tư duy, tưởng, và các tầng định. Mỗi mức độ lắng dịu của các tâm hành sẽ sinh ra một loại cảm thọ vi tế hơn, tương ứng với tầng định sâu hơn. Khi mọi tâm hành đều diệt, chỉ còn cảm thọ siêu thế – tức Niết-bàn, vượt ngoài phạm trù “lạc, khổ, xả”. Điều này chứng minh cảm thọ cũng là pháp duyên sinh, vô ngã, và con đường giải thoát chính là sự đoạn diệt dần của các duyên sinh này.

Sớ Giải

Kinh An Trú I

11. dutiyavaggassa paṭhame icchāmahaṃ, bhikkhave, aḍḍhamāsaṃ
paṭisallīyitunti ahaṃ, bhikkhave, ekaṃ aḍḍhamāsaṃ paṭisallīyituṃ nilīyituṃ ekova
hutvā viharituṃ icchāmīti attho. namhi kenaci upasaṅkamitabbo aññatra ekena
piṇḍapātanīhārakenāti yo attanā payuttavācaṃ akatvā mamatthāya saddhesu kulesu
paṭiyattaṃ piṇḍapātaṃ nīharitvā mayhaṃ upanāmeyya, taṃ piṇḍapātanīhārakaṃ ekaṃ
bhikkhuṃ ṭhapetvā namhi aññena kenaci bhikkhunā vā gahaṭṭhena vā
upasaṅkamitabboti. ♦ kasmā pana evamāhāti? tasmiṃ kira aḍḍhamāse vinetabbo satto
nāhosi. atha satthā — “imaṃ aḍḍhamāsaṃ phalasamāpattisukheneva vītināmessāmi,
iti mayhañceva sukhavihāro bhavissati, anāgate ca pacchimā janatā ‘satthāpi
gaṇaṃ vihāya ekako vihāsi, kimaṅgaṃ pana mayan’ti diṭṭhānugatiṃ āpajjissati,
tadassā bhavissati dīgharattaṃ hitāya sukhāyā”ti iminā kāraṇena evamāha.
bhikkhusaṅghopi satthu vacanaṃ sampaṭicchitvā ekaṃ bhikkhuṃ adāsi. so pātova
gandhakuṭipariveṇasammajjanamukhodakadantakaṭṭhadānādīni sabbakiccāni tasmiṃ
khaṇe katvā apagacchati. ♦ yena svāhanti yena so ahaṃ. paṭhamābhisambuddhoti
abhisambuddho hutvā paṭhamaṃyeva ekūnapaññāsadivasabbhantare. viharāmīti idaṃ
atītatthe vattamānavacanaṃ. tassa padesena vihāsinti tassa
paṭhamābhisambuddhavihārassa padesena. tattha padeso nāma khandhapadeso
āyatanadhātusaccaindriyapaccayākārasatipaṭṭhānajhānanāmarūpapadeso
dhammapadesoti nānāvidho. taṃ sabbampi sandhāya — “tassa padesena vihāsin”ti
āha. bhagavā hi paṭhamabodhiyaṃ ekūnapaññāsadivasabbhantare yathā nāma
pattarajjo rājā attano vibhavasāradassanatthaṃ taṃ taṃ gabbhaṃ vivarāpetvā
suvaṇṇarajatamuttāmaṇiādīni ratanāni paccavekkhanto vihareyya, evameva
pañcakkhandhe nippadese katvā sammasanto paccavekkhanto vihāsi. imasmiṃ pana
aḍḍhamāse tesaṃ khandhānaṃ padesaṃ vedanākkhandhameva paccavekkhanto vihāsi.
tassa “ime sattā evarūpaṃ nāma sukhaṃ paṭisaṃvedenti, evarūpaṃ dukkhan”ti
olokayato yāva bhavaggā pavattā sukhavedanā, yāva avīcito pavattā dukkhavedanā,
sabbā sabbākārena upaṭṭhāsi. atha naṃ “micchādiṭṭhipaccayāpi vedayitan”tiādinā
nayena pariggaṇhanto vihāsi. ♦ tathā paṭhamabodhiyaṃ dvādasāyatanāni
nippadesāneva katvā vihāsi, imasmiṃ pana aḍḍhamāse tesaṃ āyatanānaṃ padesaṃ
vedanāvasena dhammāyatanekadesaṃ, dhātūnaṃ padesaṃ vedanāvasena
dhammadhātuekadesaṃ, saccānaṃ padesaṃ vedanākkhandhavaseneva dukkhasaccekadesaṃ,
paccayānaṃ padesaṃ phassapaccayā vedanāvasena paccayekadesaṃ jhānānaṃ padesaṃ
vedanāvaseneva jhānaṅgekadesaṃ, nāmarūpānaṃ padesaṃ vedanāvaseneva nāmekadesaṃ
paccavekkhanto vihāsi. paṭhamabodhiyañhi ekūnapaññāsadivasabbhantare
kusalādidhamme nippadese katvā anantanayāni satta pakaraṇāni paccavekkhanto
vihāsi. imasmiṃ pana aḍḍhamāse sabbadhammānaṃ padesaṃ vedanāttikameva
paccavekkhanto vihāsi. tasmiṃ tasmiṃ ṭhāne sā sā ca vihārasamāpatti
vedanānubhāvena jātā. ♦ idāni yenākārena vihāsi, taṃ dassento
micchādiṭṭhipaccayāpītiādimāha. tattha micchādiṭṭhipaccayāpīti diṭṭhisampayuttā
vedanāpi vaṭṭati. diṭṭhiṃ upanissayaṃ katvā uppannā kusalākusalavedanāpi vaṭṭati
vipākavedanāpi. tattha micchādiṭṭhisampayuttā akusalāva hoti, diṭṭhiṃ pana
upanissāya kusalāpi uppajjanti akusalāpi. micchādiṭṭhikā hi diṭṭhiṃ upanissāya
pakkhadivasesu yāgubhattādīni denti, addhikādīnaṃ vaṭṭaṃ paṭṭhapenti,
catumahāpathe sālaṃ karonti, pokkharaṇiñca khaṇāpenti, devakulādīsu mālāgacchaṃ
ropenti, nadīviduggādīsu setuṃ attharanti, visamaṃ samaṃ karonti, iti nesaṃ
kusalavedanā uppajjati. micchādiṭṭhiṃ pana nissāya sammādiṭṭhike akkosanti
paribhāsanti, vadhabandhanādīni karonti, pāṇaṃ vadhitvā devatānaṃ upahāraṃ
upaharanti, iti nesaṃ akusalavedanā uppajjati. vipākavedanā pana
bhavantaragatānaṃyeva hoti. ♦ sammādiṭṭhipaccayāti etthāpi sammādiṭṭhisampayuttā
vedanāpi vaṭṭati, sammādiṭṭhiṃ upanissayaṃ katvā uppannā kusalākusalavedanāpi
vipākavedanāpi. tattha sammādiṭṭhisampayuttā kusalāva hoti, sammādiṭṭhiṃ pana
upanissāya buddhapūjaṃ dīpamālaṃ mahādhammassavanaṃ appatiṭṭhite disābhāge
cetiyapatiṭṭhāpananti evamādīni puññāni karonti, iti nesaṃ kusalā vedanā
uppajjati. sammādiṭṭhiṃyeva nissāya micchādiṭṭhike akkosanti paribhāsanti,
attānaṃ ukkaṃsenti, paraṃ vambhenti, iti nesaṃ akusalavedanā uppajjati.
vipākavedanā pana bhavantaragatānaṃyeva hoti. micchāsaṅkappapaccayātiādīsupi
eseva nayo. chandapaccayātiādīsu pana chandapaccayā
aṭṭhalobhasahagatacittasampayuttā vedanā veditabbā, vitakkapaccayā
paṭhamajjhānavedanāva. saññā paccayā ṭhapetvā paṭhamajjhānaṃ sesā cha
saññāsamāpattivedanā. ♦ chando ca avūpasantotiādīsu tiṇṇaṃ avūpasame
aṭṭhalobhasahagatacittasampayuttā vedanā hoti, chandamattassa vūpasame
paṭhamajjhānavedanāva. chandavitakkānaṃ vūpasame dutiyajjhānādivedanā adhippetā,
tiṇṇampi vūpasame nevasaññānāsaññāyatanavedanā. appattassa pattiyāti
arahattaphalassa pattatthāya. atthi āyāmanti atthi vīriyaṃ. tasmimpi ṭhāne
anuppatteti tassa vīriyārambhassa vasena tassa arahattaphalassa kāraṇe
anuppatte. tappaccayāpi vedayitanti arahattassa ṭhānapaccayā vedayitaṃ. etena
catumaggasahajātā nibbattitalokuttaravedanāva gahitā.

“Icchāmahaṃ, bhikkhave, aḍḍhamāsaṃ paṭisallīyituṃ …”

“Này các Tỳ khưu, Ta muốn nhập thất tịnh cư trong nửa tháng; chỉ trừ một vị đem vật thực đến,

ngoài ra không ai đến gặp Ta.”– Câu này nghĩa là: “Ta muốn ở một mình, ẩn dật, nhập định trong

 nửa tháng, không tiếp xúc với ai khác.”– Ngoại trừ một vị Tỳ khưu được chỉ định mang vật thực

 đến dâng, không một ai — dù là Tỳ khưu hay cư sĩ — được phép đến diện kiến.

Kasmā pana evamāhāti?

“Tại sao Ngài lại nói như vậy?”,Trong thời gian nửa tháng ấy, không có chúng sinh nào cần được

 hướng dẫn đặc biệt, nên Đức Phật khởi tâm:

“Trong nửa tháng này, Ta sẽ an trú trong thiền quả - phalasamāpatti — định an lạc của quả chứng

— để hưởng lạc trú giải thoát, đồng thời làm gương cho hậu thế. Sau này, các thế hệ tương lai sẽ nói:

 ‘Ngay cả Đức Thế Tôn đôi lúc cũng sống một mình, xa rời đồ chúng;  huống hồ gì chúng ta!’ Như vậy,

 việc làm này sẽ lợi ích lâu dài và đem lại an lạc cho nhiều người.”

Một vị Tỳ khưu được chỉ định hằng ngày quét dọn khu tịnh thất (Gandhakuṭi), chuẩn bị nước rửa mặt,

 tăm xỉa răng, rồi mang vật thực đến dâng Đức Phật, sau đó rời đi, không ở lại.

(“Ta đã an trú nơi phần đất mà Ta từng ở ngay sau khi Giác ngộ”

“Yena svāhaṃ … tassa padesena vihāsiṃ. Nghĩa là: “Ta đã an trú cảnh giới thuộc chỗ Ta đã ở ngay

sau khi thành đạo.”

 “Cảnh giới” ở đây không chỉ là địa lý, mà là pháp giới (dhammapadesa):
tức là cảnh giới (ārammaṇa) mà Đức Phật từng quán chiếu ngay sau Giác ngộ. – Khi thành đạo, trong

49 ngày quanh cội Bồ-đề, Ngài đã phân tích toàn bộ năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới, bốn Thánh

 đế, năm căn, mười hai duyên khởi, v.v...

Lúc đó, Ngài quán chiếu trọn vẹn (nippadesa) tất cả các pháp.
Nhưng trong kỳ ẩn cư nửa tháng này, Ngài chỉ quán một phần (padesa),
tức là chỉ quán “thọ uẩn (vedanākkhandha)”, phần cảm thọ mà thôi.

Đức Phật quán sát cảm thọ

Ngài quán chiếu: “Chúng sinh cảm nhận những loại lạc thọ như thế này, khổ thọ như thế kia...” Ngài

 quán sát từ khổ thọ sâu nhất (ở địa ngục Avīci) cho đến lạc thọ vi tế nhất sự hiện hữu. Mọi loại thọ đều

 được Ngài thấy rõ bằng tuệ giác toàn diện. Sau đó, Ngài phân tích:

“Có cảm thọ do tà kiến (micchādiṭṭhi) làm duyên; có cảm thọ do chánh kiến (sammādiṭṭhi) làm duyên...” v.v.

Thí dụ về cảm thọ do tà kiến và chánh kiến

  • Tà kiến làm duyên: Người có tà kiến vẫn có thể cho vật thực, cúng dường, bố thí — như xây cầu
  •  đường, trồng cây, cúng bái — nhờ vậy sinh ra cảm thọ thiện (kusalavedanā) dù dựa trên nền tảng
  •  sai lầm. Ngược lại, cũng có lúc họ mắng nhiếc, giết hại vì tà kiến → sinh ra cảm thọ bất thiện
  •  (akusalavedanā). Ngoài ra, còn có quả thọ (vipākavedanā) trong đời sau.
  • Chánh kiến làm duyên: Người có chánh kiến thực hành bố thí, lễ Phật, nghe pháp, dựng tháp,
  •  cúng dường... sinh ra cảm thọ thiện. Nhưng đôi khi do chấp công đức mà sinh tâm kiêu mạn,
  • chê bai người khác,
     sinh ra
    cảm thọ bất thiện. Quả báo (vipāka) chỉ hiện nơi người đã tái sinh vào đời sau.

Cảm thọ do các duyên khác (ý dục, tầm, tưởng)

  • Do dục (chanda): cảm thọ đi đôi với tám tâm tham (lobha-sahagata-citta).
  • Do tầm (vitakka): cảm thọ thuộc sơ thiền.
  • Do tưởng (saññā): cảm thọ trong sáu tầng thiền từ nhị thiền đến phi tưởng phi phi tưởng xứ.

 Khi các tâm hành lắng dịu dần

– Khi dục, tầm, tưởng chưa lắng dịu → cảm thọ thuộc tâm dục giới, đi kèm với tham.
– Khi dục đã lắng dịu → cảm thọ của sơ thiền.
– Khi dục và tầm đã lắng dịu, tưởng còn → cảm thọ của nhị thiền trở lên.
– Khi cả ba đều lắng dịu hoàn toàn → cảm thọ của phi tưởng phi phi tưởng xứ.


Cảm thọ siêu thế (lokuttara-vedanā)

Khi hành giả hướng đến điều chưa đạt được (appattassa pattiyā) – tức là quả vị A-la-hán

 (arahatta-phala), với nỗ lực (āyāma/vīriya) tinh tấn, thì cảm thọ sinh ra từ sự chứng đạt Thánh đạo và

Thánh quả chính là cảm thọ siêu thế, được gọi là catumagga-sahajāta lokuttara-vedanā – cảm thọ trong

 bốn Thánh đạo.

Kinh An Trú II

12. dutiye paṭisallānakāraṇaṃ vuttanayeneva veditabbaṃ. micchādiṭṭhivūpasamapaccayāti 

micchādiṭṭhivūpasamo nāma sammādiṭṭhi. tasmā yaṃ sammādiṭṭhipaccayā vedayitaṃ vuttaṃ, 

tadeva micchādiṭṭhivūpasamapaccayā veditabbaṃ. imasmiṃ pana sutte vipākavedanaṃ 

atidūreti maññamānā na gaṇhantīti vuttaṃ. iminā nayena sabbattha attho veditabbo. yassa 

yassa hi vūpasamapaccayāti vuccati, tassa tassa paṭipakkhadhammapaccayāva taṃ taṃ 

vedayitaṃ adhippetaṃ. chandavūpasamapaccayātiādīsu pana chandavūpasamapaccayā tāva 

paṭhamajjhānavedanā veditabbā. vitakkavūpasamapaccayā dutiyajjhānavedanā. saññāpaccayā 

chasamāpattivedanā. saññāvūpasamapaccayā nevasaññānāsaññāyatanavedanā. chando ca

 vūpasantotiādīni vuttatthāneva.

“Dutiye paṭisallānakāraṇaṃ vuttanayeneva veditabbaṃ.”

“Trong bài thứ hai , lý do Đức Phật nhập thất cũng nên được hiểu theo cách đã giải thích ở bài trước.” Nghĩa là: Cũng giống như trong kỳ tĩnh cư nửa tháng trước, Đức Phật lần này nhập thất ba tháng) cũng vì không có chúng sinh nào cần được giáo hóa, nên Ngài an trú trong phalasamāpatti – thiền quả, để làm gương cho hậu thế.

Cảm thọ do sự lắng dịu của tà kiến

“Micchādiṭṭhivūpasamapaccayā”ti micchādiṭṭhivūpasamo nāma sammādiṭṭhi.

“‘Sự lắng dịu của tà kiến (micchādiṭṭhi-vūpasama)’ chính là chánh kiến (sammādiṭṭhi).” Khi tà kiến diệt, chánh kiến sinh khởi; vì vậy, mọi cảm thọ (vedayitaṃ) được nói là “do chánh kiến làm duyên” cũng chính là “do sự lắng dịu của tà kiến làm duyên.”


Loại trừ cảm thọ quả báo

“Imasmiṃ pana sutte vipākavedanaṃ atidūreti maññamānā na gaṇhantī”ti vuttaṃ.

“Trong bài kinh này, các bậc làm Sớ giải xưa cho rằng cảm thọ quả báo (vipāka-vedanā) là quá xa với nội dung, nên không được tính đến.” Nghĩa là: Các bậc trưởng lão xưa không đưa cảm thọ do nghiệp quá khứ vào phần này, vì kinh này nói đến cảm thọ phát sinh trong khi tu tập – tức do nhân hiện tại.


Nguyên tắc chung của các loại “lắng dịu”

“Yassa yassa hi vūpasamapaccayā”ti vuccati, tassa tassa paṭipakkhadhammapaccayāva taṃ taṃ vedayitaṃ adhippetaṃ.”

“Bất kỳ khi nào nói rằng ‘do sự lắng dịu của ... làm duyên’, thì ý nói chính là cảm thọ được duyên khởi bởi pháp đối nghịch với điều ấy.” Ví dụ:

  • Sự lắng dịu của dục (chanda-vūpasama) → do định đối trị dục mà sinh cảm thọ.
  • Sự lắng dịu của tầm (vitakka-vūpasama) → do tâm nhất hướng (ekaggatā) khởi lên.
  • Sự lắng dịu của tưởng (saññā-vūpasama) → do tâm vi tế của vô sắc định.

Các loại cảm thọ tương ứng theo tầng thiền

“Chandavūpasamapaccayā tāva paṭhamajjhānavedanā veditabbā.”

“Cảm thọ do sự lắng dịu của dục (chanda) làm duyên, chính là cảm thọ của sơ thiền.”  vì trong sơ thiền, dục đã diệt, tâm an trú trong tĩnh lạc do thiền định.

“Vitakkavūpasamapaccayā dutiyajjhānavedanā.”

“Cảm thọ do sự lắng dịu của tầm (vitakka) làm duyên, là cảm thọ của nhị thiền.”
vì trong nhị thiền, tầm và tứ đã lắng dịu, chỉ còn hỷ lạc do định sinh.

“Saññāpaccayā chasamāpattivedanā.”

“Cảm thọ do tưởng (saññā) làm duyên, là cảm thọ của sáu tầng định (samāpatti).”  bao gồm các tầng từ nhị thiền đến phi tưởng phi phi tưởng xứ, trong đó tưởng là nền vi tế duy trì định.

“Saññāvūpasamapaccayā nevasaññānāsaññāyatanavedanā.”

“Cảm thọ do sự lắng dịu của tưởng (saññā-vūpasama) làm duyên, cảm thọ của phi tưởng phi phi tưởng xứ. tức tầng thiền cao nhất của vô sắc giới, nơi tưởng không hoàn toàn diệt nhưng cực kỳ mờ nhạt.

“Chando ca vūpasantotiādīni vuttatthāneva.”

“Cụm từ ‘và khi dục đã lắng dịu, v.v.’ trong kinh nên được hiểu theo nghĩa đã giải thích ở trên.” nghĩa là: Toàn bộ mô hình lắng dịu dần của các tâm hành (dục – tầm – tưởng) tương ứng với sự vi tế dần của cảm thọ, giống như đã giải trong kinh Paṭisallāna I.

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

II. Phẩm Trú

11.I. Trú (1) (S.v,12)

1) Nhân duyên ở Sàvatthi.

2) -- Này các Tỷ-kheo, Ta muốn sống Thiền định trong nửa tháng, không có ai đến yết kiến Ta, trừ độc nhất người mang đồ ăn khất thực.

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Như vậy, không một ai đến yết kiến Thế Tôn, trừ một người người mang đồ ăn khất thực lại.

3) Rồi Thế Tôn sau nửa tháng, từ chỗ Thiền tịnh đứng dậy và gọi các Tỷ-kheo:

-- Với sự an trú, Ta đã trú khi Ta mới chứng Chánh đẳng Chánh giác, nhưng Ta chỉ trú một phần thôi.

4) Như vậy, Ta rõ biết những gì được cảm thọ do duyên tà kiến, những gì được cảm thọ do duyên chánh kiến... những gì được cảm thọ do duyên tà định, những gì được cảm thọ do duyên chánh định, những gì được cảm thọ do duyên ước muốn (chanda), những gì được cảm thọ do duyên tầm (vitakka), những gì được cảm thọ do duyên tưởng (sannà).

5) Khi ước muốn không tịnh chỉ, thời tầm không tịnh chỉ, tưởng không tịnh chỉ; do duyên như vậy, có được những cảm thọ. Và khi ước muốn được tịnh chỉ, nhưng tầm chưa được tịnh chỉ, tưởng chưa được tịnh chỉ; do duyên như vậy, có được những cảm thọ. Và khi ước muốn được tịnh chỉ, tầm được tịnh chỉ, nhưng tưởng chưa được tịnh chỉ, do duyên như vậy, có được những cảm thọ. Và khi ước muốn được tịnh chỉ, tầm được tịnh chỉ, tưởng được tịnh chỉ, do duyên như vậy, có được những cảm thọ.

6) Ðối với người chưa chứng đạt, cần phải tinh tấn để được chứng đạt. Trong trường hợp đã được chứng đạt; do duyên như vậy, có được những cảm thọ.

12.II. Trú (2) (S.v,13)

1-2) Ở Sàvatthi...

-- Này các Tỷ-kheo, Ta muốn sống Thiền tịnh trong ba tháng...

3) Sau ba tháng, Thế Tôn từ Thiền tịnh đứng dậy, gọi các Tỷ-kheo:

-- Với sự an trú, Ta đã trú khi Ta mới chứng Chánh đẳng Chánh giác. Nhưng Ta chỉ trú một phần thôi.

4) Như vậy, Ta rõ biết (pajànàmi) những gì được cảm thọ do duyên tà kiến, những gì được cảm thọ do duyên tà kiến được tịnh chỉ, những gì được cảm thọ do duyên chánh kiến, những gì được cảm thọ do duyên chánh kiến được tịnh chỉ, những gì được cảm thọ do duyên tà định, những gì được cảm thọ do duyên tà định được tịnh chỉ, những gì được cảm thọ do duyên chánh định, những gì được cảm thọ do duyên chánh định được tịnh chỉ, những gì được cảm thọ do duyên ước muốn (chanda), những gì được cảm thọ do duyên ước muốn được tịnh chỉ, những gì được cảm thọ do duyên tầm, những gì được cảm thọ do duyên tầm được tịnh chỉ, những gì được cảm thọ do duyên tưởng, những gì được cảm thọ do duyên tưởng được tịnh chỉ.

5) Khi ước muốn không tịnh chỉ, tầm không tịnh chỉ, tưởng không tịnh chỉ; do duyên như vậy, có được những cảm thọ. Và khi ước muốn được tịnh chỉ, nhưng tầm chưa được tịnh chỉ, tưởng chưa được tịnh chỉ; do duyên như vậy, có được những cảm thọ. Và khi ước muốn được tịnh chỉ, tầm được tịnh chỉ, nhưng tưởng chưa được tịnh chỉ; do duyên như vậy, có được những cảm thọ. Và khi ước muốn được tịnh chỉ, tầm được tịnh chỉ, tưởng được tịnh chỉ; do duyên như vậy, có được những cảm thọ.

6) Ðối với người chưa chứng đạt, cần phải tinh tấn để chứng đạt. Trong trường hợp đã được chứng đạt; do duyên như vậy, có được những cảm thọ.

ooOoo