BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Năm, ngày 09 tháng 10, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 45, Tương Ưng Đạo. Phẩm Tịnh Cư. SN 45.13 đến 20
Bài 522. NHỮNG Ý NGHĨA LIÊN QUAN TỚI BÁT CHÁNH ĐẠO - .

... .
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-522.jpg
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png
Loạt tám bài kinh dưới đây nói về những đặc điểm chung quanh bát chánh đạo. Vì các bài kinh có bố cục tương đồng và mang chỉ riêng một ý nghĩa về giá trị của bát chánh đạo nên gom chung lại thành một bài giảng. Không ghi lại chánh văn Pali, chú thích, và sớ giải vì ý nghĩa của tất cả tương đối rõ ràng.

Kinh Văn

13. Kinh Bậc hữu học (Sekha Sutta) (SN 45.13)

Nhân duyên ở Sāvatthī.

Bấy giờ, một Tỳ khưu đi đến Đức Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Ngài và  rằng:

“Bạch Thế Tôn, được nói: ‘Bậc hữu học, bậc hữu học .’ Bạch Thế Tôn, bằng cách nào thì được gọi là một bậc hữu học ?”

Thế Tôn dạy:

“Này Tỳ khưu, ở đây, vị ấy có chánh tri kiến của bậc hữu học ,
có chánh tư duy của bậc hữu học ,
có chánh ngữ của bậc hữu học ,
có chánh nghiệp của bậc hữu học ,
có chánh mạng của bậc hữu học ,
có chánh tinh tấn của bậc hữu học ,
có chánh niệm của bậc hữu học ,
có chánh định của bậc hữu học .

Này Tỳ khưu, như vậy được gọi là bậc hữu học .” (Ettāvatā kho, bhikkhu, sekkho hotī”ti.)


14. Sự Khởi Lên I — Uppāda Sutta (1) (SN 45.14)

Nhân duyên ở Sāvatthī.

“Này các Tỳ khưu, tám pháp này được tu tập và phát triển; nếu chưa sinh khởi, sẽ không thể sinh khởi ngoài sự xuất hiện của Như Lai, vị A-la-hán, Bậc Chánh Đẳng Giác.

Tám pháp ấy là gì? Chính là: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

Này các Tỳ khưu, tám pháp này, được tu tập và phát triển; nếu chưa sinh khởi, sẽ không thể sinh khởi ngoài sự xuất hiện của Như Lai, vị A-la-hán, Bậc Chánh Đẳng Giác. (Ime kho, bhikkhave, aṭṭha dhammā bhāvitā bahulīkatā anuppannā uppajjanti, nāññatra tathāgatassa pātubhāvā arahato sammāsambuddhassā”ti.)


15. Kinh Sự Khởi Lên II — Uppāda Sutta (2)

(SN 45.15)

Nhân duyên ở Sāvatthī.

“Này các Tỳ khưu, tám pháp này được tu tập và phát triển; nếu chưa sinh khởi, sẽ không thể sinh khởi ngoài giáo pháp của bậc Thế Tôn .

Tám pháp ấy là gì?
Chính là Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

Này các Tỳ khưu, tám pháp này, khi được tu tập và phát triển,
nếu chưa sinh khởi,
sẽ không sinh khởi ngoài giáo pháp của bậc Thế Tôn .” (Ime kho, bhikkhave, aṭṭha dhammā bhāvitā bahulīkatā anuppannā uppajjanti, nāññatra sugatavinayā”ti.)


16. Kinh Thanh Tịnh I — Parisuddha Sutta (1) (SN 45.16)

Nhân duyên ở Sāvatthī.

“Này các Tỳ khưu, tám pháp này — được thanh tịnh, được gột sạch, không tỳ vết, không ô nhiễm — nếu chưa sinh khởi, sẽ không thể sinh khởi ngoài sự xuất hiện của Như Lai, vị A-la-hán, Bậc Chánh Đẳng Giác.

Tám pháp ấy là gì? Chính là Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

Này các Tỳ khưu, tám pháp này — được thanh tịnh, được gột sạch, không tỳ vết, không ô nhiễm — nếu chưa sinh khởi, sẽ không thể sinh khởi ngoài sự xuất hiện của Như Lai, vị A-la-hán, Bậc Chánh Đẳng Giác.” (Ime kho, bhikkhave, aṭṭha dhammā parisuddhā pariyodātā anaṅgaṇā vigatūpakkilesā anuppannā uppajjanti, nāññatra tathāgatassa pātubhāvā arahato sammāsambuddhassā”ti.)


17. Kinh Thanh Tịnh II — Parisuddha Sutta (2) (SN 45.17)

Nhân duyên ở Sāvatthī.

“Này các Tỳ khưu, tám pháp này —được thanh tịnh, được gột sạch, không tỳ vết, không ô nhiễm — nếu chưa sinh khởi,sẽ không thể sinh khởi ngoài Giới luật của Đấng Thiện Thệ.

Tám pháp ấy là gì?
Chính là Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

Này các Tỳ khưu, tám pháp này —được thanh tịnh, được gột sạch, không tỳ vết, không ô nhiễm — nếu chưa sinh khởi,sẽ không thể sinh khởi ngoài Giới luật của Đấng Thiện Thệ. (Ime kho, bhikkhave, aṭṭha dhammā parisuddhā pariyodātā anaṅgaṇā vigatūpakkilesā anuppannā uppajjanti, nāññatra sugatavinayā”ti.)


18. Kinh Kê Viên I  — Kukkutarāma Sutta (1)

(SN 45.18)

Như vầy tôi nghe:
Một thời, Tôn giả Ānanda và Tôn giả Bhadda trú tại Pāṭaliputta, trong Kê Viên (Kukkutarāma). Khi chiều xuống, Tôn giả Bhadda ra khỏi tĩnh thất, đi đến gặp Tôn giả Ānanda, sau khi đến, đảnh lễ và ngồi xuống một bên.

Rồi Tôn giả Bhadda nói với Tôn giả Ānanda:

“Này hiền hữu Ānanda, được nói: ‘Phi phạm hạnh, phi phạm hạnh.’
Này hiền hữu, thế nào là phi phạm hạnh?”

Tôn giả Ānanda nói:

“Lành thay, lành thay, hiền hữu Bhadda! Trí tuệ của hiền hữu thật tốt, sự tinh tế của hiền hữu thật tuyệt, câu hỏi thật khéo. Vì hiền hữu đã hỏi: ‘Này hiền hữu Ānanda, có nói “phi phạm hạnh”, vậy phi phạm hạnh là gì?’”

“Đúng vậy, thưa hiền hữu.”

“Này hiền hữu, tám chi tà đạo (micchāmagga) là phi phạm hạnh;
đó là: tà kiến ... tà định.”  (“ayameva kho, āvuso, aṭṭhaṅgiko micchāmaggo abrahmacariyaṃ, seyyathidaṃ  — micchādiṭṭhi ... pe ... micchāsamādhī”ti. aṭṭhamaṃ.)


19. Kinh Kê Viên II  — Kukkutarāma Sutta (2)

(SN 45.19)

Ở Pāṭaliputta.

“Này hiền hữu Ānanda, được nói: ‘Phạm hạnh, phạm hạnh.’
Thế nào là phạm hạnh, và mục tiêu tối hậu của phạm hạnh là gì?”

Tôn giả Ānanda nói:

“Lành thay, lành thay, hiền hữu Bhadda! Trí tuệ của hiền hữu thật tốt, sự tinh tế của hiền hữu thật tuyệt, câu hỏi thật khéo. Vì hiền hữu đã hỏi: ‘Phạm hạnh là gì, và mục tiêu tối hậu của phạm hạnh là gì?’”

“Đúng vậy, thưa hiền hữu.”

“Này hiền hữu, Bát Thánh Đạo là phạm hạnh; tức là: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
Sự diệt tận tham, diệt tận sân, diệt tận si, này hiền hữu, là mục tiêu tối hậu của phạm hạnh.” (“ayameva kho, āvuso, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo brahmacariyaṃ, seyyathidaṃ — sammādiṭṭhi ... pe ... sammāsamādhi. yo kho, āvuso, rāgakkhayo dosakkhayo mohakkhayo — idaṃ brahmacariyapariyosānan”ti.)


20. Kinh Kê Viên IIi  — Kukkutarāma Sutta (3) (SN 45.20)

Ở Pāṭaliputta.

“Này hiền hữu Ānanda, được nói: ‘Phạm hạnh, phạm hạnh.’Thế nào là phạm hạnh? Ai là người sống phạm hạnh? Và mục tiêu tối hậu của phạm hạnh là gì?”

Tôn giả Ānanda nói:

“Lành thay, lành thay, hiền hữu Bhadda! Trí tuệ của hiền hữu thật tốt, sự tinh tế của hiền hữu thật tuyệt, câu hỏi thật khéo. Vì hiền hữu đã hỏi:  ‘Phạm hạnh là gì, ai sống phạm hạnh, và mục tiêu tối hậu là gì?’”

“Đúng vậy, thưa hiền hữu.”

“Này hiền hữu, Bát Thánh Đạo là phạm hạnh;
đó là: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

Người có đầy đủ Bát Thánh Đạo này được gọi là người sống phạm hạnh.

Sự diệt tận tham, sân, si, này hiền hữu,là mục tiêu tối hậu của phạm hạnh.” (“ayameva kho, āvuso, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo brahmacariyaṃ, seyyathidaṃ sammādiṭṭhi ... pe ... sammāsamādhi. yo kho, āvuso, iminā ariyena  aṭṭhaṅgikena maggena samannāgato  ayaṃ vuccati brahmacārī. yo kho,  āvuso, rāgakkhayo dosakkhayo mohakkhayo — idaṃ  brahmacariyapariyosānan”ti.)

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

II. Phẩm Trú

13.III. Hữu Học (S.v,14)

1) Ở Sàvatthi.

2) Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn...

3) Ngồi một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- "Hữu học, hữu học", bạch Thế Tôn, được gọi là như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là bậc hữu học?

4) -- Ở đây, này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ chánh kiến của bậc hữu học... đầy đủ chánh định của bậc hữu học. Cho đến như vậy, Tỷ-kheo ấy được gọi là bậc hữu học.

14.IV. Sanh Khởi (1)

1) Ở Sàvatthi...

2) -- Có tám pháp này được tu tập, được làm cho viên mãn, chưa được sanh khởi, có thể sanh khởi, nhưng chỉ khi nào Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện.

3) Thế nào là tám? Tức là chánh tri kiến... chánh định. Tám pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho viên mãn, chưa được sanh khởi có thể sanh khởi, nhưng chỉ khi nào Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện.

15.V. Sanh Khởi (2) (S.v,14)

1) Ở Sàvatthi...

2) -- Có tám pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho viên mãn, nếu chưa sanh khởi có thể sanh khởi, nhưng chỉ trong giới luật của bậc Thiện Thệ.

3) Thế nào là tám? Tức là chánh tri kiến... chánh định. Có tám pháp này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho viên mãn, nếu chưa được sanh khởi có thể sanh khởi, nhưng chỉ trong giới luật của bậc Thiện Thệ.

16.VI. Thanh Tịnh (1) (S.v,15)

1-2) Tại Sàvatthi...

Thế Tôn nói như sau:

3) -- Có tám pháp này, này các Tỷ-kheo, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, ly các phiền não, nếu chưa sanh khởi có thể sanh khởi, nhưng chỉ khi nào Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện.

4) Thế nào là tám? Tức là chánh tri kiến... chánh định. Có tám pháp này, này các Tỷ-kheo, thanh tịnh, trong sáng, không có cấu uế, ly các phiền não, nếu chưa sanh khởi có thể sanh khởi, nhưng chỉ khi nào Như Lai, bậc A-la-hán Chánh Ðẳng Giác xuất hiện.

17.VII. Thanh Tịnh (2) (S.v,15)

1-2) Tại Sàvatthi...

Thế Tôn nói như sau:

3) -- Có tám pháp này, này các Tỷ-kheo, thanh tịnh, trong sáng... có thể sanh khởi, nhưng chỉ trong giới luật của bậc Thiện Thệ.

4) Thế nào là tám? Tức là chánh tri kiến... chánh định. Có tám pháp này, này các Tỷ-kheo, thanh tịnh, trong sáng, không có cấu uế, ly các phiền não, nếu chưa sanh khởi có thể sanh khởi, nhưng chỉ trong giới luật của bậc Thiện Thệ.

18.VIII. Vườn Gà (1) (Kukkutàràma) (S.v,15)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Tôn giả Ananda, Tôn giả Bhadda trú tại Vườn Gà, tại Pàtaliputta.

2) Rồi Tôn giả Bhadda, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Ananda những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.

3) Ngồi một bên, Tôn giả Bhadda nói với Tôn giả Ananda:

-- "Phi Phạm hạnh, phi Phạm hạnh", này Hiền giả Ananda, được nói đến như vậy. Thế nào, thưa Hiền giả, là phi Phạm hạnh?

-- Lành thay, lành thay, Hiền giả Bhadda! Hiền thiện thay, này Hiền giả Bhadda, là đường hầm (ummagga) của Hiền giả! Hiền thiện thay, là lời biện tài! Tốt đẹp thay, là câu hỏi!

4) Này Hiền giả Bhadda, có phải như vầy là câu hỏi của Hiền giả: "Phi Phạm hạnh, phi Phạm hạnh, này Hiền giả Ananda, được nói đến như vậy. Thế nào, thưa Hiền giả, là phi Phạm hạnh?" chăng?

-- Thưa vâng, Hiền giả.

5) -- Này Hiền giả, con đường tà đạo tám ngành này là phi Phạm hạnh. Tức là tà tri kiến... tà định.

19.IX. Vườn Gà (2) (S.v,16)

1-2) Nhân duyên ở Pàtaliputta...

3)-- "Phạm hạnh, Phạm hạnh", này Hiền giả Ananda, được nói đến như vậy. Này Hiền giả, thế nào là Phạm hạnh, thế nào là cứu cánh Phạm hạnh?

-- Lành thay, lành thay, này Hiền giả Bhadda! Hiền thiện thay, này Hiền giả Bhadda, là đường hầm của Hiền giả! Hiền thiện thay, là lời biện tài! Tốt đẹp thay, là câu hỏi!

4) Này Hiền giả Bhadda, có phải như vầy là câu hỏi của Hiền giả: "Phạm hạnh, Phạm hạnh, này Hiền giả Ananda, như vậy được nói đến. Này Hiền giả, thế nào là Phạm hạnh, thế nào là cứu cánh Phạm hạnh?" chăng?

-- Thưa phải, Hiền giả.

5) -- Này Hiền giả, con đường Thánh đạo Tám ngành này là Phạm hạnh. Tức là chánh tri kiến... chánh định. Này Hiền giả, đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si là cứu cánh Phạm hạnh này.

20.X. Vườn Gà (3) (S.v,16)

1-2) Nhân duyên tại Pàtaliputta...

3)-- "Phạm hạnh, Phạm hạnh", thưa Hiền giả, như vậy được nói đến. Thưa Hiền giả, thế nào là Phạm hạnh? Thế nào là người hành Phạm hạnh? Thế nào là cứu cánh Phạm hạnh?

4) -- Lành thay, lành thay, Hiền giả Bhadda! Hiền thiện thay, này Hiền giả Bhadda, là đường hầm của Hiền giả! Hiền thiện thay là lời biện tài! Tốt đẹp thay, là câu hỏi!

5) Này Hiền giả Bhadda, có phải như vầy là câu hỏi của Hiền giả: "Phạm hạnh, Phạm hạnh, này Hiền giả Ananda, như vậy được nói đến. Này Hiền giả, thế nào là Phạm hạnh? Thế nào là người hành Phạm hạnh? Thế nào là cứu cánh Phạm hạnh?" chăng?

-- Thưa phải, Hiền giả.

6) -- Này Hiền giả, con đường Thánh đạo Tám ngành này là Phạm hạnh, tức là chánh tri kiến... chánh định. Này Hiền giả, ai đầy đủ Thánh đạo Tám ngành này, người ấy được gọi là người hành Phạm hạnh. Này Hiền giả, đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si, đây là cứu cánh Phạm hạnh.

ooOoo