BÀI HỌC HẰNG NGÀY

Thứ Sáu, ngày 10, tháng 10, 2025

MÔN HỌC THẮNG PHÁP PHỔ THÔNG
THẮNG PHÁP TẬP YẾU (ABHIDHAMMA SANGAHA)
Chương 9: Phân Tích Thiền Án (Kammaṭṭhānasangahavibhāga)
Bài 147. Tổng Lược về Thiền Quán (vipassanāsaṅgaha) ̣
 

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thang-Phap-147.jpg

Thuật ngữ Vipassanā gồm hai từ tố:  vi- “đặc biệt, phân biệt” + passati “thấy” thường được dịch là quán niệm, minh sát. Có nghĩa là thấy biết đúng theo thực tướng (như nhiên).

Thực hành Vipassanā là huân tu tuệ quán trực nghiệm về các pháp như chúng đang là (yathābhūta), thấy rõ vô thường (anicca), khổ (dukkha), vô ngã (anattā) nơi các pháp hữu vi: thân–thọ–tâm–pháp.

Đó không phải suy luận mà là chánh niệm quán sát (sati–sampajañña) đối với sự sinh–diệt của hiện tượng trong từng khoảnh khắc ngắn ngủi.

Mục đích thiết thực của thiền quán Vipassanā  là đoạn trừ nghi hoặc, chặt đứt ái–thủ, phát sanh tuệ (paññā) đưa đến đạo–quả siêu thế và Niết-bàn; đi qua bảy thanh tịnh (sīla–citta–diṭṭhi… ñāṇadassana).

So sánh với thiền chỉ samatha thì có thể nói: Samatha: làm lắng dịu tâm, đắc định (jhāna). Vipassanā: làm sáng trí, thấy tam tướng. Hành giả có thể chuyên tâm hành samatha mà không cần vipassana nhưng khi hành vipassana thì cần cả chỉ và quán. Cả hai pháp hỗ trợ nhau (yuganaddha) trong sự tu tập thiền quán. Thí dụ như huân tu chánh niệm hơi thở sự kiên trì bền bỉ ghi nhận hơi thở là chỉ; khi quen dần nhận ra những hiện tượng sanh diệt, dài ngắn…. thuộc quán.

Cần hiểu rõ sự liên hệ giữa hai từ tứ niệm xứ và thiền minh sát. Tứ niệm xứ là “đạo lộ” – Vipassanā là “tuệ” phát sinh trên đạo lộ ấy. Tứ niệm xứ được Đức Phật gọi là “con đường duy nhất (ekāyano maggo) đưa đến thanh tịnh, vượt hoài nghi, chứng Niết-bàn” (DN -Trường bộ kinh bài 22, MN -Trung bộ kinh bài 10; SN Tương Ưng bộ bài 47). Vipassanā là tuệ quán sinh–diệt, thấy vô thường (anicca), khổ (dukkha), vô ngã (anattā) nơi các hiện tượng đang được quán niệm theo Tứ niệm xứ. Nếu phân tích chi tiết thì tứ niệm xứ là phương pháp/khung tu tập; Vipassanā là trí tuệ thành tựu nhờ thực hành Tứ niệm xứ đúng cách.

Bốn “lãnh vực quán” chính là bốn “cánh đồng” gieo mầm minh sát. Tứ niệm xứ cung cấp đối tượng và cách quán cho Vipassanā:

  • Quán thân (kāyānupassanā): hơi thở, oai nghi, các động tác, 32 thể trược, tứ đại, tử thi, hài cốt…
  • Quán thọ (vedanānupassanā): lạc thọ, khổ thọ, xả thọ
  • Quán tâm (cittānupassanā): tâm tham/sân/si, tán loạn/định tĩnh…
  • Quán pháp (dhammānupassanā): là quán chiếu những thể tài của pháp như năm triền cái, ngũ uẩn, sáu xứ, thất giác chi, Tứ Thánh đế… ngay trong thực tại thân tâm chứ không phải do nghe, đọc hay suy luận.

Quy trình từ chánh niệm đến minh sát được đề cập  trong kinh: “ātāpi sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhā-domanassaṃ”

  • Nhiệt tâm (ātāpi) + tỉnh giác (sampajañña) + chánh niệm (sati)
  • Loại trừ tham ưu tức chế phục ham muống và bực bội đối với thế giới (không bị lôi kéo bởi thích/ghét).
    Khi duy trì được như vậy:
  • Định sát-na (khaṇika-samādhi) hoặc định cận hành đủ dùng sẽ ổn định đối tượng.
  • Tuệ quan sát (vipassanā) khởi: thấy sanh–diệt, rồi tiến qua chuỗi tuệ minh sát (thấy vô thường rõ dần, chán lìa, xả ly…), đưa đến đạo–quả.

Thiền quán trong Bát Thánh đạo

  • Chánh niệm (= Tứ niệm xứ) là trung tâm.
  • Chánh tinh tấn nâng đỡ chánh niệm (bốn chánh cần).
  • Chánh định ổn cố nền tảng (dù là cận định, sát-na định hay thiền định cao hơn).
  • Chánh kiến định hướng nhìn pháp đúng như nhiên (yathābhūta). Vipassanā chính là sự trưởng thành của chánh kiến nhờ chánh niệm vận hành đúng pháp.

§23. Ba Tướng

Aniccalakkhaṇaṁ, dukkhalakkhaṇaṁ, anattālakkhaṇañ cā ti tīṇi lakkhaṇāni.
Có ba tướng (lakkhaṇa): (1) vô thường (anicca); (2) khổ (dukkha); và (3) vô ngã (anattā).

Chú thích:

Tướng vô thường

Mọi pháp hữu vi đều chịu sinh – diệt – biến đổi; nghĩa là sau khi sinh khởi thì diệt mất.

Tướng khổ

Mọi hình thái hiện hữu đều bất định, vô thường, nương gá (tùy thuộc các duyên), không có tự tánh ngã, vì thế, vốn dĩ đều thuộc về khổ (dukkha).

Có ba phương diện của dukkha:
(1) dukkha-dukkha: khổ khổ (khổ thông thường);
(2) vipariṇāma-dukkha: khổ do biến hoại (khổ khi đối tượng lạc đổi khác);
(3) saṅkhāra-dukkha: khổ do hành (khổ của trạng thái hữu vi, do tính điều kiện).

Về dukkha-dukkha: có hai mặt của “khổ thông thường”.
Thứ nhất, cuộc sống — danh–sắc (nāma–rūpa), tức năm uẩn (pañcakkhandha) — được Đức Phật định nghĩa là khổ; nói cách khác, bản thân sự sống đã là khổ.
Thứ hai, các tật bệnh phổ quát: khi năm uẩn hiện khởi, tất yếu cảm nghiệm đủ loại khổ: sanh, bệnh, lão, tử, gặp điều/ người không ưa, chia lìa điều/ người ưa thích, cầu bất đắc, ưu bi khổ não, v.v. Tóm lại, dukkha-dukkha là mọi khổ thân, khổ tâm được thừa nhận phổ quát.

Về vipariṇāma-dukkha: vipariṇāma là biến đổi. Vì vạn pháp luôn đổi thay, vô thường; nên lạc thọ hay cảnh lạc không thể kéo dài. Khi đổi thay, khổ, bất toại phát sinh. Đức Phật nói: “Cái gì vô thường, cái ấy là khổ.” Trước các thăng trầm thế sự, người ta trải nghiệm khổ. Hai phương diện khổ này dễ hiểu, vì là kinh nghiệm thường nhật, nên thường được dùng để đại diện cho nghĩa “khổ” trong Đế thứ nhất. Tuy vậy, nếu chỉ hiểu thế chưa trọn ý Khổ đế như Đức Phật dạy.

Về saṅkhāra-dukkha: khổ do các pháp hữu vi có điều kiện. Mọi sự, dù sắc hay tâm, đều do duyên và làm duyên. Loại khổ này được thấy rõ nhờ trực nghiệm trong minh sát (vipassanā). Người hành minh sát tỉnh giác liên tục về các hiện tượng danh–sắc, cho đến khi thấy trực tiếp tiến trình sinh–diệt không ngừng cấu thành thế giới; rồi hiểu khổ như là hậu quả tất yếu.

(Giải thích thích nghi từ The First Discourse of the Buddha: Turning the Wheel of Dhamma, Ven. Rewata Dhamma, Wisdom Publications, 1997, tr. 56–57.)

Mọi hữu tình đều chịu sanh (jāti); do đó, chịu già (jarā), bệnh (vyādhi), và cuối cùng là chết (maraṇa). Không ai thoát khỏi bốn nguyên nhân khổ tất yếu này.

Cầu bất đắc cũng là khổ. Ta không muốn kết hợp với điều/ người không ưa, không muốn chia lìa điều/ người ưa; nhưng ước muốn yêu quý của ta không phải lúc nào cũng được thỏa. Điều ít mong chờ nhất, ít ước muốn nhất lại thường xảy đến. Đôi khi, cảnh ngộ trái ý đến mức khó kham nhẫn, có người tự sát, tưởng như giải quyết được vấn đề.

Hạnh phúc chân thật ở bên trong, không được định nghĩa bởi tài sản, quyền lực, danh dự hay chinh phục. Nếu của cải thế gian được đạt bằng cưỡng ép hay bất chính, hoặc dùng sai, hoặc chấp trước, chúng sẽ trở thành nguồn đau khổ cho chính người sở hữu.

Với người bình thường, hưởng thụ ngũ dục là hạnh phúc cao nhất, thậm chí là hạnh phúc duy nhất. Quả thật có lạc thọ nhất thời nơi mong chờ, thỏa mãn, hồi tưởng các khoái lạc vật chất thoáng qua; nhưng chúng hư ảo và tạm bợ. Theo Đức Phật, ly tham (virāgatā), siêu vượt lạc dục, là hạnh phúc lớn hơn.

Tóm lại, thân ngũ uẩn kết hợp này tự nó là nhân của khổ.

Tướng vô ngã

Theo giáo pháp của Đức Phật, cái gọi là “bản ngã cá nhân” thực ra chỉ là một tiến trình danh–sắc — một dòng sinh diệt vốn từ vô thủy đã vận hành trước cái gọi là sinh ra, và sẽ còn tiếp tục sau cái gọi là chết, qua những khoảng thời gian vô lượng.

Cái ta gọi là “thân” chỉ là tên đặt cho một tập hợp vô số bộ phận cấu thành, không thực là thực thể, không là nhân cách. Điều này ai cũng thấy: thân đổi thay từng sát-na; tế bào cũ liên tục hư hoại, tế bào mới liên tục sinh thành; chỉ sau vài năm, thân đã khác; thịt, xương, máu trước đó không còn. Do vậy, thân trẻ sơ sinh không phải thân học trò; thân trai trẻ không phải thân ông già tóc bạc. Thế nên, thân không là thực thể thường còn, mà là dòng tiến trình sinh–diệt, liên tục hoại–thành của tế bào.

Tương tự, cái ta gọi là “đời sống tâm” là dòng thay đổi không ngừng của thọ (vedanā), tưởng (saññā), (các) hành (saṅkhāra), và thức (viññāṇa). Sát-na này lạc thọ, sát-na kế khổ thọ; niệm này một thức, niệm sau thức khác. Cái gọi là “con người”, “cá nhân”, “ngã” không có thực tại tự hữu. Theo nghĩa tuyệt đối (paramattha), không có một cá nhân/ con người nào cả, chỉ có các tổ hợp luôn biến dịch của các trạng thái vật chất, cảm thọ, tác ý/ hành, các trạng thái thức.

“Ta”, “ngươi”, “ông ấy”… chỉ là từ ngữ quy ước (vohāra-vācā) dùng thuận tiện trong giao tiếp, không chỉ định các thực tại tối hậu. Các hiện tượng thân–tâm này không cấu thành một ngã thể; cũng không có một ngã thể/ linh hồn ở ngoài các hiện tượng ấy làm chủ/ sở hữu chúng. Bởi vậy, khi Kinh điển nói về “người”, hay “tái sinh của người”, đó chỉ là phương tiện giảng dạy cho dễ hiểu, không nên hiểu theo nghĩa tối hậu (paramattha-sacca). Cái gọi là “chúng sinh”, “ta” — xét theo nghĩa tối hậu — chỉ là một dòng tiến trình luôn đổi thay. Bởi vậy, nói “khổ của người” theo nghĩa tối hậu cũng không đúng: không phải “người” khổ, mà là tiến trình danh–sắc chịu vô thường (anicca) và khổ (dukkha) — hai tướng khác của hiện hữu.

Xét theo nghĩa tối hậu, chỉ có vô số tiến trình, vô số làn sóng sống trong đại dương mênh mang của các trạng thái thân, cảm thọ, tưởng, hành, thức — tức năm uẩn (khandha) của hiện hữu. Ngoài các pháp này, không có gì tồn tại lâu dài, dẫu chỉ hai sát-na liên tiếp.

Các pháp này chỉ có thời hạn chớp nhoáng: mỗi sát-na diệt, mỗi sát-na sinh; hoại–sinh bất tận, sóng trào lên–xuống không ngừng. Tất cả ở trong dòng biến dịch miên viễn: hình tướng cũ tan rã, hình tướng mới phát sinh; một cảm thọ biến mất, cảm thọ khác thế vào; một thức hiện hữu sát-na này, thức khác hiện hữu sát-na kế. Khắp nơi là sự đổi thay liên tục của pháp vật chất và pháp tâm. Như vậy, sát-na tiếp nối sát-na, ngày nối ngày, năm nối năm, kiếp nối kiếp. Dòng tiến trình bất tận này trôi chảy qua hằng ngàn, thậm chí vô số kiếp. Một biển cả luôn đổi thay của cảm thọ, tưởng, hành, thức — đó là hiện hữu, là luân hồi (saṃsāra): thế giới sinh–diệt, thành–hoại — thế giới sầu, khổ, bi, não.

Không có tuệ thấy thực tại này — tính vô ngã, vô nhân xưng của mọi hiện hữu — thì không thể hiểu đúng Tứ Thánh Đế.
Dưới đây là trích đoạn trong quyển “Toát Yếu A Tỳ Đàm” của Hoà thượng Tuệ Siêu

CHƯƠNG IX.
TOÁT YẾU NGHIỆP XỨ
(KAMMAṬṬHĀNASAṄGAHA)

B. Quán niệm xứ
(Vipassanākammaṭṭhāna)

Đề mục để tu tập thiền minh sát, gọi là quán nghiệp xứ.

Trong kinh, đức Phật dạy bốn niệm xứ (cattāro satipaṭṭhānā) là:

1. Thân quán niệm xứ (kāyānupassanāsatipaṭṭhānaṃ )

2. Thọ quán niệm xứ (vedanānupassanāsatipaṭṭhānaṃ)

3. Tâm quán niệm xứ (cittānupassanāsatipaṭṭhānaṃ)

4. Pháp quán niệm xứ (dhammānupassanāsatipaṭṭhānaṃ)

Bốn niệm xứ này lấy ngũ uẩn hay danh sắc làm đề tài quán niệm. Thân quán niệm xứ là niệm sắc uẩn. Thọ quán niệm xứ là niệm thọ uẩn. Tâm quán niệm xứ là niệm thức uẩn. Pháp quán niệm xứ là niệm tưởng uẩn và hành uẩn; Thật ra pháp quán niệm xứ là niệm cả năm uẩn vì là quán năm triền cái, năm thủ uẩn, mười hai xứ, bảy giác chi, bốn thánh đế.

Quán niệm thân cũng có nghĩa là quán sắc. Quán niệm thọ, quán niệm tâm nghĩa là quán danh. Quán niệm pháp nghĩa là quán danh sắc.

Bốn niệm xứ này là đề mục tu quán, gọi là quán nghiệp xứ (vipassanākammaṭṭhāna).

Tu quán tức là tu tuệ (paññā), tuệ thấy rõ thực tướng của danh sắc vô thường, khổ não và vô ngã (tilakkhaṇa).

Tu quán dựa trên nền tảng giới (sīla) – định (samādhi) – tuệ (paññā). Tức là tăng thượng giới (adhisīla), tăng thượng tâm (adhicitta), và tăng thượng tuệ (adhipaññā).

Tu quán là cửa ngõ đi vào giải thoát (vimokkhamukha)…

Giải thích chi tiết trong tu quán nghiệp xứ

a. Danh (nāma) và sắc (rūpa) là đề mục tu quán

Danh (nāma) là pháp thực tính bao gồm thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, và thức uẩn. Sắc (rūpa) là sắc uẩn. Đây là danh sắc phân theo ngũ uẩn (pañcakkhandha), nhưng đề mục tu quán chỉ giới hạn trong phạm vi ngũ thủ uẩn (pañcupādānakkhandha).

Danh sắc phân theo thập nhị xứ (dvādasāyatana). Danh là ý xứ và pháp xứ tâm sở. Sắc là nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, sắc xứ, thinh xứ, khí xứ, vị xứ, xúc xứ, và pháp xứ sắc tế. Danh sắc theo thập nhị xứ thành đề mục tu quán ở đây giới hạn xứ hiệp thế (lokiyāyatana).

Danh sắc phân theo thập bát giới (aṭṭhārasadhātu). Danh là nhãn thức giới, nhĩ thức giới, tỷ thức giới, thiệt thức giới, thân thức giới, ý giới, ý thức giới và pháp giới tâm sở. Sắc là nhãn giới, nhĩ giới, tỷ giới, thiệt giới, thân giới, sắc giới, thinh giới, khí giới, vị giới, xúc giới và pháp giới thuộc sắc tế. Danh sắc theo thập bát giới thành đề mục tu quán ở đây chỉ lấy giới hiệp thế (lokiyadhātu).

Danh sắc phân theo pháp hữu vi (saṅkhārā hay saṅkhatadhamma). Danh là tâm và tâm sở. Sắc là sắc pháp. Danh sắc theo pháp hữu vi thành đề mục tu quán ở đây giới hạn pháp hiệp thế (lokiyadhamma).

b. Tùy quán tam tướng (tilakkhaṇānupassanā) là phương pháp tu quán

Tam tướng (tilakkhaa) là ba đặc tính, ba tướng trạng của pháp hữu vi (danh sắc hữu vi). Ba tướng là vô thường tướng, khổ tướng và vô ngã tướng.

Vô thường tướng (aniccalakkhaṇa) có 4 ý nghĩa:

· Diễn tiến sanh diệt (uppādavayavattito)

· Biến đổi (vipariṇāmato)

· Tạm thời (tāvakālikato)

· Trái nghĩa thường còn (niccapaṭikkhepato)

Khổ tướng (dukkhalakkhaṇa) có 4 ý nghĩa:

· Luôn bức xúc (abhiṇhasampaṭipīlanato)

· Khó chịu đựng (dukkhamato)

· Căn nguyên đau khổ (dukkhavatthuto)

· Trái nghĩa với lạc (sukhapaṭikkhepato)

Vô ngã tướng (anattalakkhaṇa) có 4 ý nghĩa:

· Trống rỗng (suññato)

· Không sở hữu chủ (assāmikato)

· Không diễn tiến theo quyền năng (avasavattito)

· Trái nghĩa với ngã (attapaṭikkhepato)

Tam tướng có ba ý nghĩa chính: vô thường nghĩa là hoại tiêu (aniccaṃ khayatthena). Khổ nghĩa là kinh khiếp (dukkhaṃ bhayatthena). Vô ngã nghĩa là không kiên thực (anattā asāratthena).

Tùy quán tam tướng là tùy quán vô thường (aniccānupassanā), tùy quán khổ não (dukkhānupassanā), tùy quán vô ngã (anattānupassanā).

Thế nào là tùy quán vô thường?

Hành giả quán xét bằng trí tuệ, thấy rằng thân danh sắc này là giả tạm, luôn biến đổi, diễn tiến sanh rồi diệt; Thấy rõ thực tướng của các pháp hữu vi là vô thường. Như vậy gọi là tùy quán vô thường.

Thế nào tùy quán khổ não?

Hành giả quán xét bằng trí tuệ, thấy rằng thân danh sắc này luôn biến đổi, biến diệt, bị bức xúc, không kham nổi; Thấy rõ thực tướng của các pháp hữu vi là khổ. Như vậy gọi là tùy quán khổ não.

Thế nào là tùy quán vô ngã?

Hành giả quán xét bằng trí tuệ, thấy rằng thân danh sắc này tự sanh tự diệt, không có chủ quyền, không theo sự sắp đặt; Thấy rõ các pháp hữu vi là vô ngã. Như vậy gọi là tùy quán vô ngã.

Tu tập tùy quán tam tướng là ba lối dẫn đến sự giải thoát, ba cửa ngõ đi vào giải thoát. Gọi là tam giải thoát môn (vimokkhamukha).

Có ba sự giải thoát (vimokkha): vô tướng giải thoát (animittavimokkha), vô nguyện giải thoát (appaṇihitavimokkha), không tánh giải thoát (suññatāvimokkha).

Vô tướng giải thoát là gì?

Sự thoát khỏi phiền não bằng thánh đạo mà bắt cảnh níp-bàn ở khía cạnh vô tướng (không hiện tượng sanh diệt). Đây gọi là vô tướng giải thoát.

Vô nguyện giải thoát là gì?

Sự thoát khỏi phiền não bằng thánh đạo mà bắt cảnh níp-bàn ở khía cạnh vô nguyện (không ước vọng). Đây gọi là vô nguyện giải thoát.

Không tánh giải thoát là gì?

Sự giải thoát khỏi phiền não bằng thánh đạo mà bắt cảnh níp-bàn ở khía cạnh tánh không (tính rỗng không, không có thực ngã). Đây gọi là không tánh giải thoát.

Ba sự giải thoát này đắc chứng được do ba tùy quán tam tướng:

Hành giả có tín mạnh (sung mãn thắng giải, adhimokkhabahula) tu tập tùy quán vô thường, vị ấy sẽ đắc vô tướng giải thoát (animittavimokkha).

Hành giả có định mạnh (sung mãn tịnh an, passaddhibahulo) tu tập tùy quán khổ não, vị ấy sẽ chứng vô nguyện giải thoát (appaṇihitavimokkha).

Hành giả có tuệ mạnh (sung mãn mẫn tiệp, vedabahulo) tu tập tùy quán vô ngã, vị ấy sẽ chứng không tánh giải thoát (suññatāvimokkha).

Do đó, ba pháp tùy quán được gọi là tam giải thoát môn (vimokkhamukha).

(1) Tùy quán vô thường (aniccānupassanā) là vô tướng giải thoát môn (animittavimokkhamukha).

(2) Tùy quán khổ não (dukkhānupassanā) là vô nguyện giải thoát môn (appaṇihitavimokkhamukha).

(3) Tùy quán vô ngã (anattānupassanā) là không tánh giải thoát môn (suññatāvimokkhamukha).

Khi tu tiến ba pháp tùy quán này lần lượt sẽ phát sanh mười tuệ quán (vipassanāñāṇa). Không lâu sau, khi tuệ quán cuối cùng sanh khởi thì đạo tuệ (maggañāṇa) và quả tuệ (phalañāṇa) cũng sanh.

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

@@@@@
I.
Giới thiệu về tính năng mới của Room Level DELUXE

-   Hi-Fi Audio & Multichannel (Up to 3 Speakers at once)

-      Hi-Fi là từ viết tắt của “high fidelity”, có nghĩa là độ chân thực cao. Khi nói “âm thanh Hi-Fi” tức là âm thanh có độ chân thực cao, sống động, không bị méo âm hoặc bị lẫn tạp âm và gần như không có gì khác so với âm thanh gốc.

-      Multichannel (cho phép người dùng có thể kết nối nhiều kênh âm thanh cùng lúc ‘Room Level DELUXE cho phép sử dụng 3 kênh âm thanh cùng lúc’

     Minh hoạ về Multichannel

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Multichannel.png

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

II.Quy tắc chung khi sử dụng Multichannel:

-   TT Giác Đẳng với vai trò điều hợp sẽ bật micro để điều hợp thảo luận và TT Tuệ Siêu – TT Tuệ Quyền – TT Pháp Tân – TT Pháp Đăng – Sư Nguyên Thông sẽ đảm trách vai trò là người trả lời và chư vị khi được thỉnh mời thì trực tiếp bật micro để người điều hợp biết là mình có thể tham gia mà không cần phải gửi text trên Room. Khi câu thảo luận được nêu ra hoàn tất thì chư vị có thể bắt đầu trả lời luôn mà không cần phải chờ đợi như trước. (Những ngày qua TT Tuệ Siêu đã sử dụng rất quen thuộc tính năng nầy).

-   Các MC có thể cầm micro liên tục khi dẫn chương trình cho đến khi đọc nội dung bài học mà không cần phải tắt micro.

-   Ví dụ: TT Tuệ Siêu là vị dẫn nhập cho chương trình mỗi ngày và với Multichannel thì khi nghe lời thỉnh mời TT Tuệ Siêu sẽ chủ động bật micro mà không cần chờ MC ‘hỏi Ngài có nghe âm thanh rõ không or phải cho biết tín hiệu’.

-   Các MC là “admin @ (A)” hoan hỷ lưu ý vì có thể cầm 3 micro cùng lúc nên phải để ý những người tham gia nếu thấy có tín hiệu cầm micro thì dùng chức năng (hạn chế or bỏ qua thành viên).