|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 11 tháng 10, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 523. NHỮNG BÀI KINH VỀ HẮC BẠCH PHÂN MINH - . ... .
Các bài kinh trong Tatiyavagga (SN 45.21–30) phân biệt rõ ràng giữa tà và
chánh, giữa người hạ liệt và người cao thượng. Đây là sự xác lập
mà hành giả phải có để tạo nên thái độ quyết đoán trong sự phân
biệt thiện, ác, chánh tà và con đường nào nên đi. Những bài kinh
nầy cũng nhấn mạnh giá trị của bát chánh đạo là cốt tuỷ của Phật
Pháp.
Kinh Văn
Kinh Tà Vạy
(micchattasuttaṃ)
21. sāvatthinidānaṃ. “micchattañca
vo, bhikkhave, desessāmi, sammattañca. taṃ suṇātha. katamañca,
bhikkhave, micchattaṃ? seyyathidaṃ — micchādiṭṭhi ... pe ...
micchāsamādhi. idaṃ vuccati, bhikkhave, micchattaṃ. katamañca,
bhikkhave, sammattaṃ? seyyathidaṃ — sammādiṭṭhi ... pe ...
sammāsamādhi. idaṃ vuccati, bhikkhave, sammattan”ti. paṭhamaṃ.
Nhân duyên ở Sāvatthī.
“Này các Tỳ khưu, Ta sẽ giảng cho các Thầy về tà vạy và chơn chánh. Hãy
lắng nghe.
Thế nào là tà vạy? Chính là tà kiến, tà tư duy, tà
ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định. Đó
gọi là tà vạy.
Thế nào là chơn chánh? Chính là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh
nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Đó
gọi là chơn chánh.”
Kinh các pháp bất
thiện (Akusaladhammasuttaṃ)
22. sāvatthinidānaṃ. “akusale ca
kho, bhikkhave, dhamme desessāmi, kusale ca dhamme. taṃ suṇātha.
katame ca, bhikkhave, akusalā dhammā? seyyathidaṃ — micchādiṭṭhi
... pe ... micchāsamādhi. ime vuccanti, bhikkhave, akusalā
dhammā. katame ca, bhikkhave, kusalā dhammā? seyyathidaṃ —
sammādiṭṭhi ... pe ... sammāsamādhi. ime vuccanti, bhikkhave,
kusalā dhammā”ti. dutiyaṃ.
Nhân duyên ở Sāvatthī.
“Này các
Tỳ khưu, Ta
sẽ giảng cho các Thầy về các pháp bất thiện và các pháp thiện.
Thế nào là các pháp bất thiện? Chính là tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà
nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định. Đó gọi là các
pháp bất thiện.
Thế nào là các pháp thiện? Chính là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ,
chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh
định. Đó gọi là các pháp thiện.”
Kinh Đạo Hành I
(Paṭhamapaṭipadāsuttaṃ)
23. sāvatthinidānaṃ.
“micchāpaṭipadañca vo, bhikkhave, desessāmi, sammāpaṭipadañca.
taṃ suṇātha. katamā ca, bhikkhave, micchāpaṭipadā? seyyathidaṃ —
micchādiṭṭhi ... pe ... micchāsamādhi. ayaṃ vuccati, bhikkhave,
micchāpaṭipadā. katamā ca, bhikkhave, sammāpaṭipadā? seyyathidaṃ
— sammādiṭṭhi ... pe ... sammāsamādhi. ayaṃ vuccati, bhikkhave,
sammāpaṭipadā”ti. tatiyaṃ.
Nhân duyên ở Sāvatthī.
“Này các Tỳ khưu, Ta sẽ giảng cho các Thầy về con đường sai và con đường
đúng.
Thế nào là con đường sai? Chính là tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp,
tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định.
Thế nào là con đường đúng? Chính là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ,
chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh
định.
Kinh Đạo Hành II
(Dutiyapaṭipadāsuttaṃ)
24. sāvatthinidānaṃ. “gihino
vāhaṃ, bhikkhave, pabbajitassa vā micchāpaṭipadaṃ na vaṇṇemi.
gihi vā, bhikkhave, pabbajito vā micchāpaṭipanno
micchāpaṭipattādhikaraṇahetu nārādhako hoti ñāyaṃ dhammaṃ
kusalaṃ”. “katamā ca, bhikkhave, micchāpaṭipadā? seyyathidaṃ —
micchādiṭṭhi ... pe ... micchāsamādhi. ayaṃ vuccati, bhikkhave,
micchāpaṭipadā. gihino vāhaṃ, bhikkhave, pabbajitassa vā
micchāpaṭipadaṃ na vaṇṇemi. gihi vā, bhikkhave, pabbajito vā
micchāpaṭipanno micchāpaṭipattādhikaraṇahetu nārādhako hoti
ñāyaṃ dhammaṃ kusalaṃ. “gihino vāhaṃ, bhikkhave, pabbajitassa vā
sammāpaṭipadaṃ vaṇṇemi. gihi vā, bhikkhave, pabbajito vā
sammāpaṭipanno sammāpaṭipattādhikaraṇahetu ārādhako hoti ñāyaṃ
dhammaṃ kusalaṃ. katamā ca, bhikkhave, sammāpaṭipadā?
seyyathidaṃ — sammādiṭṭhi ... pe ... sammāsamādhi. ayaṃ vuccati,
bhikkhave, sammāpaṭipadā. gihino vāhaṃ, bhikkhave, pabbajitassa
vā sammāpaṭipadaṃ vaṇṇemi. gihi vā, bhikkhave, pabbajito vā
sammāpaṭipanno sammāpaṭipattādhikaraṇahetu ārādhako hoti ñāyaṃ
dhammaṃ kusalan”ti. catutthaṃ.
Nhân duyên ở Sāvatthī.
“Này các Tỳ khưu, dù là người tại gia hay người xuất gia, Ta không tán
thán con đường sai. Người nào hành trì sai, vì theo tà đạo, nên
không đạt được pháp môn thiện.
Thế nào là tà đạo? Chính là tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà
mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định.
Ngược lại, Ta tán thán chánh đạo.
Dù người tại gia hay xuất gia, nếu hành đúng theo chánh
đạo thì sẽ đạt được pháp thiện, đạt được pháp môn đúng đắn.
Thế nào là chánh đạo? Chính là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh
nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
Kinh người hạ liệt I
(Paṭhamāsappurisasuttaṃ)
25. sāvatthinidānaṃ.
“asappurisañca vo, bhikkhave, desessāmi, sappurisañca. taṃ
suṇātha. katamo ca, bhikkhave, asappuriso? idha, bhikkhave,
ekacco micchādiṭṭhiko hoti, micchāsaṅkappo, micchāvāco,
micchākammanto, micchāājīvo, micchāvāyāmo, micchāsati,
micchāsamādhi — ayaṃ vuccati, bhikkhave, asappuriso”. “katamo
ca, bhikkhave, sappuriso? idha, bhikkhave, ekacco sammādiṭṭhiko
hoti, sammāsaṅkappo, sammāvāco, sammākammanto, sammāājīvo,
sammāvāyāmo, sammāsati, sammāsamādhi — ayaṃ vuccati, bhikkhave,
sappuriso”ti. pañcamaṃ.
Nhân duyên ở Sāvatthī.
Thế nào là người hạ liệt?
Thế nào là người cao quý?
Kinh người hạ liệt
II dutiyāsappurisasuttaṃ
26. sāvatthinidānaṃ.
“asappurisañca vo, bhikkhave, desessāmi, asappurisena
asappurisatarañca. sappurisañca vo, bhikkhave, desessāmi
sappurisena sappurisatarañca. taṃ suṇātha. katamo ca, bhikkhave,
asappuriso? idha, bhikkhave, ekacco micchādiṭṭhiko hoti ... pe
... micchāsamādhi — ayaṃ vuccati, bhikkhave, asappuriso”.“katamo
ca, bhikkhave, asappurisena asappurisataro? idha, bhikkhave,
ekacco micchādiṭṭhiko hoti ... pe ... micchāsamādhi, micchāñāṇī,
micchāvimutti — ayaṃ vuccati, bhikkhave, asappurisena
asappurisataro. “katamo ca, bhikkhave, sappuriso? idha,
bhikkhave, ekacco sammādiṭṭhiko hoti ... pe ... sammāsamādhi —
ayaṃ vuccati, bhikkhave, sappuriso. “katamo ca, bhikkhave,
sappurisena sappurisataro? idha, bhikkhave, ekacco sammādiṭṭhiko
hoti ... pe ... sammāsamādhi, sammāñāṇī, sammāvimutti — ayaṃ
vuccati, bhikkhave, sappurisena sappurisataro”ti. chaṭṭhaṃ.
Nhân duyên ở Sāvatthī.
“Này các Tỳ khưu, Ta sẽ giảng cho các Thầy về người hạ liệt và người còn
tệ hơn người hạ liệt; người cao thượng và người còn cao hơn
người cao thượng.
Thế nào là người hạ liệt?
Thế nào là người tệ hơn người hạ liệt?
Thế nào là người cao quý?
Thế nào là người cao hơn người cao quý?
Kinh cái bình
(Kumbhasuttaṃ)
27. sāvatthinidānaṃ. “seyyathāpi,
bhikkhave, kumbho anādhāro suppavattiyo hoti, sādhāro
duppavattiyo hoti; evameva kho, bhikkhave, cittaṃ anādhāraṃ
suppavattiyaṃ hoti, sādhāraṃ duppavattiyaṃ hoti. ko ca,
bhikkhave, cittassa ādhāro? ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo,
seyyathidaṃ — sammādiṭṭhi ... pe ... sammāsamādhi. ayaṃ cittassa
ādhāro. seyyathāpi, bhikkhave, kumbho anādhāro suppavattiyo
hoti, sādhāro duppavattiyo hoti; evameva kho, bhikkhave, cittaṃ
anādhāraṃ suppavattiyaṃ hoti, sādhāraṃ duppavattiyaṃ hotī”ti.
sattamaṃ.
Nhân duyên ở Sāvatthī.
“Này các Tỳ khưu, cũng như một chiếc bình không có giá đỡ thì rất dễ bị
ngã đổ, còn chiếc bình có giá đỡ thì khó ngã đổ; cũng vậy, tâm
không có chỗ nương tựa thì dễ bị dao động, còn tâm có chỗ nương
tựa thì khó bị dao động.
Và chỗ nương tựa của tâm là gì? Chính là Bát Chánh Đạo: chánh kiến, chánh
tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn,
chánh niệm, chánh định.
Cũng vậy, tâm không có chỗ nương tựa thì dễ bị ngã đổ; tâm có chỗ nương
tựa thì vững vàng, khó bị dao động.”
Chú Thích
Cụm từ “ñāyaṃ dhammaṃ” (pháp đúng đắn, pháp phương tiện) theo Sớ giải chú
thích là “ariyamaggadhammaṃ” — tức là “pháp của Thánh đạo”. Kinh
này (SN 45.24) cũng là luận cứ cho một “nan đề” được bàn trong
Milindapañha (Mi Lin Da Vấn Đạo)
(Mil 242–243).
Hai đặc tính được thêm trong Kinh Người Hạ Liệt II là micchāñāṇī và
micchāvimutti — tức là tà trí và tà giải thoát. Theo Sớ giải
micchāñāṇī là micchāpaccavekkhaṇa, nghĩa là “quán xét sai lầm”.
Hậu Sớ Giải nói: “Khi một người đã làm điều ác, nhưng lại suy
xét về nó với ý nghĩ rằng ‘điều ấy là thiện’.” Đây là tà trí,
tức nhận thức sai lạc cho rằng ác là thiện.
Sớ giải chú thích micchāvimutti là: ayāthāvavimutti — “giải thoát không
như thật,”
Sớ Giải
Tatiyavaggassa paṭhame
micchattanti micchāsabhāvaṃ. sammattanti sammāsabhāvaṃ.
micchāpaṭipattādhikaraṇahetūti micchāpaṭipattikaraṇahetu. yasmā
micchāpaṭipattiṃ karoti, tasmāti attho. nārādhakoti na
sampādako. ñāyaṃ dhammanti ariyamaggadhammaṃ. micchāñāṇīti
micchāviññāṇo micchāpaccavekkhaṇo. micchāvimuttīti
ayāthāvavimutti, aniyyānikavimutti. imesu tatiyādīsu catūsu
suttesu vaṭṭavivaṭṭaṃ kathitaṃ, pacchimesu panettha dvīsu
puggalo pucchito dhammo vibhatto, evaṃ dhammena puggalo
dassitoti. suppavattiyoti suppavattaniyo. yathā icchiticchitaṃ
disaṃ pavattento dhāvati, evaṃ pavattetuṃ sakkā hotīti attho.
saupanisaṃ saparikkhāranti sappaccayaṃ saparivāraṃ. sesaṃ
sabbattha uttānatthamevāti. “Micchatta”: nghĩa là tính chất sai lầm, bản chất tà (micchāsabhāvaṃ).
“Sammatta”: nghĩa là tính chất chân chánh, bản chất đúng đắn (sammāsabhāvaṃ).
“Micchāpaṭipattādhikaraṇahetu”: tức là nguyên nhân làm phát sinh hành
trì sai lầm (micchāpaṭipattikaraṇahetu); nghĩa là: “vì
người ấy hành trì sai, nên có nguyên nhân như vậy.”
“Nārādhako”: nghĩa là người không đạt được, không thành tựu (na sampādako).
“Ñāyaṃ dhammaṃ”: được giải thích là ariyamaggadhammaṃ — “pháp của Thánh Đạo.”
“Micchāñāṇī”: tức là micchāviññāṇo, micchāpaccavekkhaṇo — “nhận thức sai lầm” hoặc “tư
duy lại một cách sai lạc.” (Ví dụ: làm điều ác nhưng cho là
thiện.)
“Micchāvimuttī”: nghĩa là ayāthāvavimutti, aniyyānikavimutti — “giải thoát
không như thật, giải thoát không đưa ra khỏi luân hồi,” tức tà
giải thoát.
Trong bốn kinh đầu (21–24) của phẩm này, nội dung bàn về “luân hồi
(vaṭṭa)” và “thoát ly luân hồi (vivaṭṭa)” — tức tà đạo và chánh
đạo.
Trong hai kinh kế tiếp (25–26), Đức Phật nêu câu hỏi về các hạng người
(puggala), rồi phân tích pháp tương ứng. Như vậy, thông qua pháp
(dhamma), các loại người (puggala) được chỉ rõ.
“Suppavattiyo”: nghĩa là dễ vận hành, dễ điều khiển,
(suppavattaniyo);
“Saupanisaṃ saparikkhāraṃ”: nghĩa là “có duyên, có đầy đủ các phụ trợ” (sappaccayaṃ
saparivāraṃ). Tức là: pháp đó được hỗ trợ bởi nhân duyên,
điều kiện, và các yếu tố phụ trợ đầy đủ.
“Sesaṃ sabbattha uttānatthameva”: phần còn lại trong các kinh sau, nghĩa
rõ ràng, dễ hiểu, không cần giải thích thêm.
III. Phẩm Tà Tánh
21.I. Tà Tánh (S.v,17)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về tà tánh và
chánh tánh. Hãy lắng nghe.
4) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tà tánh? Tức là tà tri
kiến... tà định. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tà tánh.
5) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh tánh? Tức là chánh
tri kiến... chánh định. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh tánh.
22.II. Pháp Bất
Thiện (S.v,18)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi.
Thế Tôn nói như sau:
3) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về bất thiện
pháp và thiện pháp. Hãy lắng nghe.
4) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bất thiện pháp? Tức là tà
tri kiến... tà định. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là bất thiện pháp.
5) Thế nào là thiện pháp? Tức là chánh tri kiến... chánh
định. Ðây gọi là thiện pháp.
23.III. Ðạo Lộ (S.v,18)
1-2) Sàvatthi.
Thế Tôn nói như sau:
3) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về tà đạo lộ
và chánh đạo lộ. Hãy lắng nghe.
4) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tà đạo lộ? Tức là tà tri
kiến... tà định. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tà đạo lộ.
5) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chánh đạo lộ? Tức là chánh
tri kiến... chánh định. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh đạo
lộ.
24.IV. Ðạo Lộ (2) (S.v,18)
1-2) Sàvatthi.
Thế Tôn nói như sau:
3) -- Này các Tỷ-kheo, với người tại gia hay với người xuất
gia, Ta không tán thán tà đạo lộ.
4) Người tại gia hay người xuất gia, theo tà hạnh, này các
Tỷ-kheo, do vì tà hạnh và nhân tà hạnh, vị ấy không phải là
người phát huy (àràdhaka) chánh lý (nàyam), pháp (dhammam), và
thiện (kusatam). Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tà đạo lộ? Tức
là tà tri kiến... tà định. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tà đạo
lộ. Ðối với người tại gia hay người xuất gia, này các Tỷ-kheo,
Ta không tán thán tà đạo lộ.
5) Người tại gia hay người xuất gia theo tà hạnh, này các
Tỷ-kheo, do vì tà hạnh và nhân tà hạnh, vị ấy không phải là
người phát huy chánh lý, pháp và thiện.
6) Và này các Tỷ-kheo, với người tại gia hay với người xuất
gia, Ta tán thán chánh đạo lộ.
7) Người tại gia hay người xuất gia theo chánh hạnh, này các
Tỷ-kheo, do vì chánh hạnh và nhân chánh hạnh, vị ấy là người
phát triển chánh lý, pháp và thiện. Và này các Tỷ-kheo, thế nào
là chánh đạo lộ? Tức là chánh tri kiến... chánh định. Này các
Tỷ-kheo, đây gọi là chánh đạo lộ. Và này các Tỷ-kheo, với người
tại gia hay người xuất gia, Ta tán thán chánh đạo lộ.
8) Người tại gia, hay người xuất gia, theo chánh hạnh, này
các Tỷ-kheo, do vì chánh hạnh và do nhân chánh hạnh, vị ấy trở
thành người phát huy chánh lý, pháp và thiện.
25.V. Không Phải
Chân Nhân (1) (Asappurisa) (S.v,19)
1-2) Ở Sàvatthi...
Thế Tôn nói như sau:
3) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về phi chân
nhân và chân nhân. Hãy lắng nghe.
4) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là phi chân nhân? Ở đây, này
các Tỷ-kheo, có người theo tà tri kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà
nghiệp, tà mạng, là tinh tấn, tà niệm, tà định. Này các Tỷ-kheo,
đây gọi là phi chân nhân.
5) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chân nhân? Ở đây, này các
Tỷ-kheo, có người theo chánh tri kiến, theo chánh tư duy, theo
chánh ngữ, theo chánh nghiệp, theo chánh mạng, theo chánh tinh
tấn, theo chánh niệm, theo chánh định. Này các Tỷ-kheo, đây gọi
là chân nhân.
26.VI. Không Phải
Chân Nhân (2) (S.v,20)
1-2) Ở Sàvatthi...
Ở đấy, Thế Tôn nói như sau:
3) -- Ta sẽ giảng cho các Ông, này các Tỷ-kheo, về phi chân
nhân và tệ hơn phi chân nhân. Ta sẽ giảng cho các Ông, này các
Tỷ-kheo, về chân nhân và tốt hơn chân nhân. Hãy lắng nghe...
4) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là phi chân nhân? Ở đây, này
các Tỷ-kheo, có người theo tà kiến... theo tà định. Này các
Tỷ-kheo, đây gọi là phi chân nhân.
5) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là phi chân nhân còn tệ hơn
phi chân nhân? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người theo tà kiến...
theo tà định, theo tà trí, theo tà giải thoát. Này các Tỷ-kheo,
đây gọi là phi chân nhân còn tệ hơn phi chân nhân.
6) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bậc chân nhân? Ở đây, này
các Tỷ-kheo, có người theo chánh tri kiến... theo chánh định.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chân nhân.
7) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bậc chân nhân còn tốt đẹp
hơn bậc chân nhân? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người theo chánh
tri kiến... theo chánh định, theo chánh trí, theo chánh giải
thoát. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là bậc chân nhân còn tốt đẹp hơn
các bậc chân nhân.
27.VII. Cái Bình (S.v,20)
1-2) Ở Sàvatthi...
3)-- Này các Tỷ-kheo, ví như một cái bình, nếu không có cái
giá chống đỡ thời dễ bị nghiêng ngã, nếu có cái giá chống đỡ
thời khó nghiêng ngã. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu tâm không
có cái giá chống đỡ thời dễ bị nghiêng ngã, nếu có cái giá chống
đỡ thời khó nghiêng ngã.
4) Và này các Tỷ-kheo, cái gì là giá chống đỡ cho tâm? Chính
là Thánh đạo Tám ngành này, tức là chánh tri kiến... chánh định.
Ðây gọi là cái giá chống đỡ tâm.
5) Này các Tỷ-kheo, ví như cái bình không có cái giá chống
đỡ thời dễ bị nghiêng ngã, nếu có cái giá chống đỡ thời khó bị
nghiêng ngã. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu tâm không có cái giá
chống đỡ thời dễ bị nghiêng ngã, nếu có cái giá chống đỡ thời
khó bị nghiêng ngã. ooOoo |