BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Năm, ngày 23 tháng 10, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 45, Tương Ưng Đạo. Phẩm Tinh Cần Trùng Thuyết. SN 45.139 đến 148
Bài 532. CẦN MẪN LÀ GỐC CỦA THIỆN PHÁP - .

... .
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-532.jpg
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png
Sự cần mẫn không giải đãi là một tố chất của tiến bộ, kể cả sự tiến bộ vi tế trong sự tu tập. Người ta thường trả giá đắt cho những sơ hở vì xem nhẹ. Người tu tập ý thức rõ bản chất tự nhiên: thiện pháp dễ mai một nếu không tích cực đẩy mạnh trong lúc ác pháp nếu không dập tắt sớm sẽ lan nhanh.

Kinh Văn

139. Như Lai

(i) VIỄN LY

Nhân duyên tại Sāvatthī.

“Này các tỳ khưu, tất cả các loài hữu tình—hoặc không chân, hai chân, bốn chân, hay nhiều chân; có sắc hay vô sắc; hữu tuởng, vô tưởng, phi tưởng phi phi tưởng—thì Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, được tuyên bố là tối thượng trong tất cả các loài ấy.

Cũng vậy, tất cả các thiện pháp đều có tinh cần (appamāda) làm gốc, tụ hội về tinh cần, và tinh cần được tuyên bố là tối thượng trong các pháp ấy.

Khi một tỳ khưu tinh tấn, có thể chờ đợi rằng vị ấy sẽ tu tập và phát triển Bát Thánh Đạo.”

“Và này các tỳ khưu, như thế nào là một tỳ khưu tinh tấn phát triển và tu tập Bát Thánh Đạo?

Ở đây, này các Tỳ khưu, vị ấy tu tập chánh kiến, được dựa trên viễn ly, ly tham, tịch tịnh, hướng đến giải thoát.

Vị ấy tu tập chánh tư duy dựa trên viễn ly, ly tham, tịch tịnh, hướng đến giải thoát

Vị ấy tu tập chánh ngữ dựa trên viễn ly, ly tham, tịch tịnh, hướng đến giải thoát

Vị ấy tu tập chánh nghiệp dựa trên viễn ly, ly tham, tịch tịnh, hướng đến giải thoát

Vị ấy tu tập chánh tinh tấn dựa trên viễn ly, ly tham, tịch tịnh, hướng đến giải thoát

Vị ấy tu tập chánh niệm dựa trên viễn ly, ly tham, tịch tịnh, hướng đến giải thoát

Vị ấy tu tập chánh định, dựa trên viễn ly, ly tham, tịch tịnh, hướng đến giải thoát.

Chính bằng cách này, này các tỳ khưu, tinh cần tu tập và phát triển Thánh Đạo Tám Chi Phần”


(ii) LOẠI TRỪ THAM ÁI

“… Ở đây, này các tỳ khưu, một tỳ khưu tu tập chánh kiến… cho đến chánh định, mà chánh định này lấy sự đoạn trừ tham ái, đoạn trừ sân hận, và đoạn trừ si mê làm mục tiêu tối hậu...”

(iii) NIẾT-BÀN LÀM NỀN TẢNG

“… Ở đây, này các tỳ khưu, một tỳ khưu tu tập chánh kiến… cho đến chánh định, mà chánh định này lấy bất tử làm nền tảng, đích đến, và mục tiêu tối hậu...”


(iv) HƯỚNG VỀ NIẾT-BÀN

“… Ở đây, này các tỳ khưu, một tỳ khưu tu tập chánh kiến… cho đến chánh định, mà chánh định này nghiêng về, hướng về, và tiến đến Niết-bàn...”

Các bài kinh tiếp theo, từ §140–§148, sẽ được triển khai theo phương pháp bốn phần như ở §139.

140. Dấu Chân Voi

“Này các tỳ khưu, cũng như dấu chân của tất cả các loài có chân đều có thể nằm gọn trong dấu chân voi, và dấu chân voi được tuyên bố là tối thượng trong các dấu chân — tức là xét về mặt kích thước, cũng vậy, tất cả các pháp lành đều có tinh tấn làm gốc, tụ hội về tinh tấn, và tinh tấn được tuyên bố là tối thượng trong các pháp ấy.

Khi một tỳ khưu tinh tấn, có thể chờ đợi rằng vị ấy sẽ tu tập và phát triển Bát Thánh Đạo...”


141. Đỉnh Mái Nhà

“Này các tỳ khưu, cũng như tất cả các kèo gỗ của một ngôi nhà có mái nhọn đều nghiêng về đỉnh mái, hướng về đỉnh mái, tụ lại ở đỉnh mái, và đỉnh mái được tuyên bố là tối thượng trong số chúng, cũng vậy, ... (như trên).”


142. Rễ Thơm

“Này các tỳ khưu, cũng như trong tất cả các loại rễ thơm, thì ngải đen (black orris) được tuyên bố là tối thượng,cũng vậy, ...”


143. Lõi Gỗ Thơm

“Này các tỳ khưu, cũng như trong tất cả các loại lõi gỗ thơm, thì gỗ đàn hương đỏ được tuyên bố là tối thượng, cũng vậy, ...”


144. Hoa lài

“Này các tỳ khưu, cũng như trong tất cả các loại hoa thơm, thì hoa lài được tuyên bố là tối thượng, cũng vậy, ...”


145. Chuyển Luân Vương

“Này các tỳ khưu, cũng như tất cả các tiểu vương đều là chư hầu của một Chuyển Luân Vương, và Chuyển Luân Vương được tuyên bố là tối thượng trong số họ, cũng vậy, ...”


146. Ánh Trăng

“Này các tỳ khưu, cũng như ánh sáng của tất cả các ngôi sao không thể nào bằng được một phần mười sáu của ánh sáng mặt trăng, và ánh sáng mặt trăng được tuyên bố là tối thượng, cũng vậy, ...”


147. Mặt Trời

“Này các tỳ khưu, cũng như vào mùa thu, khi bầu trời trong sáng và không mây, mặt trời mọc lên trên bầu trời, và xua tan bóng tối trong không gian bằng ánh sáng rực rỡ của mình,
cũng vậy, ...”


148. Tấm Vải Kāsī

“Này các tỳ khưu, cũng như trong tất cả các loại vải dệt, thì vải Kāsī được tuyên bố là tối thượng, cũng vậy, tất cả các pháp lành đều có tinh tấn làm gốc, tụ hội về tinh tấn, và tinh tấn được tuyên bố là tối thượng.

“Và này các tỳ khưu, như thế nào là một tỳ khưu tinh tấn phát triển và tu tập Bát Thánh Đạo?

Ở đây, này các Tỳ khưu, vị ấy tu tập chánh kiến, được dựa trên viễn ly, ly tham, tịch tịnh, hướng đến giải thoát.

Vị ấy tu tập chánh tư duy dựa trên viễn ly, ly tham, tịch tịnh, hướng đến giải thoát

Vị ấy tu tập chánh ngữ dựa trên viễn ly, ly tham, tịch tịnh, hướng đến giải thoát

Vị ấy tu tập chánh nghiệp dựa trên viễn ly, ly tham, tịch tịnh, hướng đến giải thoát

Vị ấy tu tập chánh tinh tấn dựa trên viễn ly, ly tham, tịch tịnh, hướng đến giải thoát

Vị ấy tu tập chánh niệm dựa trên viễn ly, ly tham, tịch tịnh, hướng đến giải thoát

Vị ấy tu tập chánh định, dựa trên viễn ly, ly tham, tịch tịnh, hướng đến giải thoát.

Chính bằng cách này, này các tỳ khưu, tinh cần tu tập và phát triển Thánh Đạo Tám Chi Phần”

Chú Thích

Thuật ngữ appamāda - cần mẫn - thường được dịch là không dể duôi, không phóng dật, chuyên niệm, không buông thả, không giải đãi, không chểnh mảng, không khinh suất.

Theo Sớ giải  tinh cần (appamāda) — dù là pháp hiệp thế — vẫn được gọi là tối thượng (agga) trong tất cả các thiện pháp, kể cả các pháp siêu thế (lokuttara). Lý do là vì: tinh tấn là điều kiện cần để đạt được mọi pháp thiện — không có tinh tấn không thể thành tựu bất kỳ thiện pháp nào, kể cả thiền định hay Niết-bàn

Mỗi bài kinh là một ẩn dụ khác nhau, ví dụ cụ thể được lấy từ đời sống cổ Ấn Độ để nhấn mạnh rằng appamāda (tinh tấn, không buông lung) là gốc rễ, điểm tụ, và tối thượng trong tất cả các pháp thiện.

Những ví dụ đi từ thiên nhiên (voi, hoa, cây) đến văn hóa xã hội (quân vương, vải dệt…), cho thấy sự đa dạng trong cách Đức Phật truyền dạy cùng một chân lý.

Mỗi lần, phần còn lại được hiểu là giống như bài kinh số 139, với các phiên bản tu tập Bát Chánh Đạo khác nhau (viễn ly, đoạn trừ, hướng Niết-bàn…).

Sớ Giải

139. appamādapeyyāle evameva khoti ettha yathā sabbasattānaṃ sammāsambuddho aggo, evaṃ sabbesaṃ kusaladhammānaṃ kārāpakāppamādo aggoti daṭṭhabbo. nanu cesa lokiyova, kusaladhammā pana lokuttarāpi. ayañca kāmāvacarova, kusaladhammā pana catubhūmakā. kathamesa tesaṃ aggoti? paṭilābhakaṭṭhena. appamādena hi te paṭilabbhanti, tasmā so tesaṃ aggo. tenetaṃ vuttaṃ sabbe te appamādamūlakātiādi.

Evameva kho ti ettha – Ở đây, câu “Quả thật đúng như vậy” nên được hiểu như sau:

Yathā sabbasattānaṃ sammāsambuddho aggo, evaṃ sabbesaṃ kusaladhammānaṃ kārāpakā appamādo aggoti daṭṭhabbo.
Giống như trong tất cả các loài hữu tình, bậc Chánh Đẳng Giác là tối thượng, cũng vậy, trong tất cả các pháp thiện (kusaladhammā), thì tinh tấn – sự không giải đãi (appamāda), là yếu tố dẫn đến các pháp ấy, nên được xem là tối thượng.

Nanu cesa lokiyova, kusaladhammā pana lokuttarāpi.
Nhưng chẳng phải tinh tấn (appamāda) này chỉ là thế gian (lokiya) sao, trong khi các pháp thiện lại có cả phần siêu thế (lokuttara) nữa?

Ayañca kāmāvacarova, kusaladhammā pana catubhūmakā.

Tinh tấn này cũng chẳng phải chỉ thuộc dục giới (kāmāvacara), mà còn là thiện pháp trải rộng ra bốn tầng cấp (dục giới, sắc giới, vô sắc giới, siêu thế).

Kathamesa tesaṃ aggoti?
Vậy làm sao có thể nói rằng tinh tấn là tối thượng trong các pháp ấy?

Paṭilābhakaṭṭhena.
Bởi vì từ góc độ dẫn đến sự chứng đạt được các pháp thiện đó.

Appamādena hi te paṭilabbhanti, tasmā so tesaṃ aggo.
Thật vậy, chính nhờ tinh tấn mà các pháp thiện ấy được chứng đạt, do vậy tinh tấn được gọi là tối thượng đối với các pháp ấy.

Tenetaṃ vuttaṃ: 'sabbe te appamādamūlakā’ ti ādi.
Do đó, điều này đã được nói rằng:
“Tất cả các pháp ấy đều có tinh tấn làm gốc rễ” – v.v...

140. jaṅgalānanti pathavītalavāsīnaṃ. pāṇānanti sapādakapāṇānaṃ. padajātānīti padāni. samodhānaṃ gacchantīti odhānaṃ upakkhepaṃ gacchanti. aggamakkhāyatīti seṭṭhaṃ akkhāyati. yadidaṃ   mahantattenāti mahantabhāvena aggamakkhāyati, na guṇavasenāti attho.

Jaṅgalānaṃ ti pathavītalavāsīnaṃ
“Của những sinh vật rừng” nghĩa là: những loài sống trên mặt đất (tức là loài đi bằng chân, không bay).

Pāṇānaṃ ti sapādakapāṇānaṃ
“Của chúng sanh” nghĩa là: những chúng sanh có chân (sapādaka) — tức là các loài có bước chân, khác với loài không chân như rắn.

Padajātāni ti padāni
“Các loại dấu chân” nghĩa là: dấu chân (vết chân để lại).

Samodhānaṃ gacchanti ti odhānaṃ upakkhepaṃ gacchanti
“Đều quy tụ lại” nghĩa là: chúng quy tụ, đi vào hoặc đặt vào dấu chân voi (như những vết chân nhỏ nằm gọn trong dấu chân lớn).

Aggamakkhāyati ti seṭṭhaṃ akkhāyati
“Được tuyên bố là tối thượng” nghĩa là: được nói là cao nhất, thù thắng nhất.

Yadidaṃ mahantattenā ti mahantabhāvena aggamakkhāyati, na guṇavasenā ti attho
“Tức là do bởi sự to lớn” nghĩa là: dấu chân voi được gọi là tối thượng là vì kích thước lớn, chứ không phải vì phẩm chất hay công đức.

141-148. vassikanti sumanapupphaṃ. imaṃ kira suttaṃ sutvā bhātiyamahārājā vīmaṃsitukāmatāya ekasmiṃ gabbhe catujātigandhehi paribhaṇḍaṃ kāretvā sugandhāni pupphāni āharāpetvā ekassa samuggassa majjhe sumanapupphamuṭṭhiṃ ṭhapetvā sesāni tassa samantato muṭṭhimuṭṭhiṃ katvā ṭhapetvā dvāraṃ pidhāya bahi nikkhanto. athassa muhuttaṃ vītināmetvā dvāraṃ vivaritvā pavisantassa sabbapaṭhamaṃ sumanapupphagandho ghānaṃ pahari. so mahātalasmiṃyeva mahācetiyābhimukho nipajjitvā — “vassikaṃ tesaṃ agganti kathentena sukathitaṃ sammāsambuddhenā”ti cetiyaṃ vandi. kuṭṭarājānoti khuddakarājāno. “khuddarājāno”tipi pāṭho. tantāvutānanti tante āvutānaṃ, tantaṃ āropetvā vāyitānanti attho. idañca paccatte sāmivacanaṃ. yāni kānici tantāvutāni vatthānīti ayañhettha attho. atha vā tantāvutānaṃ vatthānaṃ yāni kānici vatthānīti evaṃ sāvasesapāṭhanayenapettha attho daṭṭhabbo. sesaṃ sabbattha uttānamevāti.

Vassikaṃ ti sumanapupphaṃ.
"Vassika" ở đây nghĩa là hoa lài (sumanapuppha) — một loài hoa có mùi thơm đặc biệt.

Câu chuyện về vua Bhātiya (Bimbisāra)

Nghe bài kinh này, vua Bhātiya (Bimbisāra) muốn tự mình thể nghiệm những  ví dụ trong kinh. Ngài cho chuẩn bị một căn phòng được trang trí với bốn loại hương liệu quý. Ngài ra lệnh mang về các loại hoa thơm, rồi đặt một nắm hoa lài (sumanapuppha) vào giữa một cái khay, xung quanh là các loại hoa khác cũng được đặt từng nắm một cách đối xứng.Sau đó, đóng cửa lại, ngài bước ra ngoài.Một lát sau, khi ngài mở cửa bước vào…Ngay lập tức, mùi thơm của hoa nhài là mùi đầu tiên đánh vào khứu giác.

Quá cảm động, ngay tại sảnh lớn của hoàng cung, ngài nằm sấp xuống, hướng về Đại Bảo Tháp (Mahācetiya)……và đảnh lễ tháp, thốt lên: “Thật chính xác và khéo nói thay! Đức Thế Tôn đã dạy rằng hoa nhài là tối thượng trong các loại hoa thơm!”


Kuṭṭarājāno ti khuddakarājāno.
"Kuṭṭa-rājāno" nghĩa là các tiểu vương, những vua chư hầu.

“Khuddarājāno” tipi pāṭho.
Câu này cũng có thể được đọc là "khuddarājāno" —


Về vải dệt Kāsi:

Tantāvutānanti tante āvutānaṃ, tantaṃ āropetvā vāyitānaṃ ti attho.
"Tantāvutānaṃ" nghĩa là: vải được dệt bằng sợi — tức là sợi chỉ được đưa lên khung và dệt thành vải.

Idañca paccatte sāmivacanaṃ.
Đây là một danh từ sở hữu số ít — chỉ sự thuộc về.

Yāni kānici tantāvutāni vatthāni ti ayaṃ hettha attho.
Ý nghĩa ở đây là: “Bất kỳ loại vải dệt nào…”

Atha vā tantāvutānaṃ vatthānaṃ yāni kānici vatthāni ti...
Hoặc hiểu là: “Trong tất cả các loại vải dệt, dù loại nào đi nữa…”

Evaṃ sāvasesapāṭhanayenapettha attho daṭṭhabbo.
Như vậy, nên hiểu đoạn này theo cách đọc đầy đủ, không lược nghĩa.

Sesaṃ sabbattha uttānamevāti.
Những phần còn lại trong các bài kinh khác (từ 141–147) đều rõ ràng và dễ hiểu, không cần chú giải thêm.

  Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

V. Phẩm Không Phóng Dật

139.I. Như Lai (S.v,41)

I. Viễn Ly

1) Nhân duyên ở Sàvatthi...

2) -- Cũng như, này các Tỷ-kheo, đối với tất cả loại hữu tình không chân, hai chân bốn chân, hay nhiều chân, có sắc hay không sắc, có tưởng hay không tưởng, hay không có tưởng và không không có tưởng; Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, được gọi là tối thượng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có thiện pháp gì, tất cả đều lấy không phóng dật làm căn bản, đều lấy không phóng dật làm chỗ quy tụ. Không phóng dật được gọi là tối thượng đối với tất cả pháp ấy.

3) Với Tỷ-kheo không phóng dật, này các Tỷ-kheo, chờ đợi rằng Thánh đạo Tám ngành được tu tập, Thánh đạo tám ngành được làm cho sung mãn. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không phóng dật, tu tập Thánh đạo Tám ngành và làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành?

4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không phóng dật, tu tập chánh tri kiến liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ... tu tập chánh định liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.

5) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không phóng dật, tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành. (Ba kinh khác về viễn ly, cũng được thuyết tương tự).

II. Nhiếp Phục Tham

1-2-3) ...

4) -- Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến, lấy nhiếp phục tham làm cứu cánh, lấy nhiếp phục sân làm cứu cánh, lấy nhiếp phục si làm cứu cánh... tu tập chánh định, lấy nhiếp phục tham làm cứu cánh, lấy nhiếp phục sân làm cứu cánh, lấy nhiếp phục si làm cứu cánh...

III. Bất Tử.

1-2-3) ...

4) -- Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến, lấy bất tử làm chỗ hội nhập, lấy bất tử làm mục đích, lất bất tử làm cứu cánh... tu tập chánh định, lấy bất tử làm chỗ hội nhập, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh.

IV. Niết Bàn

1-2-3) ...

4) -- Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn... tu tập chánh định thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn...

140.II. Dấu Chân (I-IV) (S.v,43)

1) Ở Sàvatthi...

2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những dấu chân của các loại chúng sanh bộ hành nào, tất cả đều hội tập (samodhànam gachanti) trong chân con voi, vì chân con voi được gọi là tối thượng trong tất cả loại chân, tức là về phần to lớn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có những thiện pháp nào, tất cả đều lấy không phóng dật làm căn bản, lấy không phóng dật làm chỗ quy tụ, không phóng dật được gọi là tối thượng trong tất cả thiện pháp.

3) Với Tỷ-kheo không phóng dật, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi rằng Thánh đạo Tám ngành được tu tập, Thánh đạo Tám ngành sẽ được sung mãn.

141.III. Chóp Mái (I-IV) (S.v,43)

1) Ở Sàvatthi...

2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, các đòn tay nào của một ngôi nhà có mái nhọn, tất cả đều đi đến mái nhọn, hướng đến mái nhọn, quy tụ vào mái nhọn. Mái nhọn đối với chúng được gọi là tối thượng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo... (như kinh trên)

142.IV. Gốc Rễ (I-IV) (S.v,44)

1) ...

2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những loại rễ hương nào, loại chiên-đàn đen (kàlànu-sàriyam) được gọi là tối thượng. Cũng vậy... (như trên) ...

143.V. Lõi Hương (I-IV) (S.v,44)

1) ...

2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những loại lõi hương nào, loại chiên-đàn đỏ (lohitacandanam) được gọi là tối thượng. Cũng vậy... (như trên) ...

144.VI. Hạ Sanh Hoa (Bông huệ: vassikam) (I-IV) (S.v,44)

1) ...

2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những loại hoa hương nào, hoa huệ được gọi là tối thượng. Cũng vậy... (như trên) ...

145. VII. Vua (I-IV) (S.v,44)

1) ...

2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những tiểu vương nào (kuttaràjàno), tất cả đều tùy thuộc Chuyển luân vương. Vua Chuyển luân đối với họ được gọi là tối thượng. Cũng vậy... (như trên) ...

146.VIII. Mặt Trăng (I-IV) (S.v,44)

1) ...

2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm ánh sáng của bất cứ loại sao nào, tất cả đều không bằng một phần mười sáu ánh sáng của mặt trăng. Ánh sáng mặt trăng đối với chúng được gọi là tối thượng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo... (như trên) ...

147.IX. Mặt Trời (I-IV) (S.v,44)

1) ...

2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, vào mùa thu, khi hư không mở rộng không có mây mù, mặt trời vươn thẳng lên hư không, quét sạch mọi tối tăm trên trời, chói sáng, bừng sáng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo... (như trên) ...

148.X. Vải (I-IV) (S.v,45)

1) ...

2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có vải gì được dệt, vải dệt ở Ba-la-nại được gọi là tối thượng... Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có những thiện pháp nào, tất cả đều lấy không phóng dật làm căn bản, lấy không phóng dật làm chỗ quy tụ, không phóng dật được gọi là tối thượng trong tất cả thiện pháp.

3) Với Tỷ-kheo không phóng dật, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi rằng Thánh đạo Tám ngành được tu tập, Thánh đạo Tám ngành được làm cho sung mãn. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không phóng dật, tu tập Thánh đạo Tám ngành và làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành?

4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ... tu tập chánh định liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.

5) Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không phóng dật, tu tập Thánh đạo Tám ngành và làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành.

ooOoo