|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, ngày 23 tháng 10, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 532. CẦN MẪN LÀ GỐC CỦA THIỆN PHÁP - . ... .
Sự cần mẫn không giải đãi là một tố chất của tiến bộ, kể cả sự tiến bộ vi
tế trong sự tu tập. Người ta thường trả giá đắt cho những sơ hở
vì xem nhẹ. Người tu tập ý thức rõ bản chất tự nhiên: thiện pháp
dễ mai một nếu không tích cực đẩy mạnh trong lúc ác pháp nếu
không dập tắt sớm sẽ lan nhanh.
Kinh Văn
139. Như Lai
(i) VIỄN LY
Nhân duyên tại Sāvatthī.
“Này các tỳ khưu, tất cả các loài hữu tình—hoặc không chân, hai chân, bốn
chân, hay nhiều chân; có sắc hay vô sắc; hữu tuởng, vô tưởng,
phi tưởng phi phi tưởng—thì Như Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh
Đẳng Giác, được tuyên bố là tối thượng trong tất cả các loài ấy.
Cũng vậy, tất cả các thiện pháp đều có tinh cần (appamāda) làm gốc, tụ hội
về tinh cần, và tinh cần được tuyên bố là tối thượng trong các
pháp ấy.
Khi một tỳ khưu tinh tấn, có thể chờ đợi rằng vị ấy sẽ tu tập và phát
triển Bát Thánh Đạo.”
“Và này các tỳ khưu, như thế nào là một tỳ khưu tinh tấn phát triển và tu
tập Bát Thánh Đạo?
Ở đây, này các Tỳ khưu, vị ấy tu tập chánh kiến, được dựa trên viễn ly, ly
tham, tịch tịnh, hướng đến giải thoát.
Vị ấy tu tập chánh tư duy dựa trên viễn ly, ly tham, tịch tịnh, hướng đến
giải thoát
Vị ấy tu tập chánh ngữ dựa trên viễn ly, ly tham, tịch tịnh, hướng đến
giải thoát
Vị ấy tu tập chánh nghiệp dựa trên viễn ly, ly tham, tịch tịnh, hướng đến
giải thoát
Vị ấy tu tập chánh tinh tấn dựa trên viễn ly, ly tham, tịch tịnh, hướng
đến giải thoát
Vị ấy tu tập chánh niệm dựa trên viễn ly, ly tham, tịch tịnh, hướng đến
giải thoát
Vị ấy tu tập chánh định, dựa trên viễn ly, ly tham, tịch tịnh, hướng đến
giải thoát.
Chính bằng cách này, này các tỳ khưu, tinh cần tu tập và phát triển Thánh
Đạo Tám Chi Phần”
(ii) LOẠI TRỪ THAM ÁI
“… Ở đây, này các tỳ khưu, một tỳ khưu tu tập chánh kiến… cho đến chánh
định, mà chánh định này lấy sự đoạn trừ tham ái, đoạn trừ sân
hận, và đoạn trừ si mê làm mục tiêu tối hậu...”
(iii) NIẾT-BÀN LÀM NỀN TẢNG
“… Ở đây, này các tỳ khưu, một tỳ khưu tu tập chánh kiến… cho đến chánh
định, mà chánh định này lấy bất tử làm nền tảng, đích đến, và
mục tiêu tối hậu...”
(iv) HƯỚNG VỀ NIẾT-BÀN
“… Ở đây, này các tỳ khưu, một tỳ khưu tu tập chánh kiến… cho đến chánh
định, mà chánh định này nghiêng về, hướng về, và tiến đến
Niết-bàn...”
Các bài kinh tiếp theo, từ §140–§148, sẽ được triển khai
theo phương pháp bốn phần như ở §139.
140. Dấu Chân Voi
“Này các tỳ khưu, cũng như dấu chân của tất cả các loài có chân đều có thể
nằm gọn trong dấu chân voi, và dấu chân voi được tuyên bố là tối
thượng trong các dấu chân — tức là xét về mặt kích thước, cũng
vậy, tất cả các pháp lành đều có tinh tấn làm gốc, tụ hội về
tinh tấn, và tinh tấn được tuyên bố là tối thượng trong các pháp
ấy.
Khi một tỳ khưu tinh tấn, có thể chờ đợi rằng vị ấy sẽ tu tập và phát
triển Bát Thánh Đạo...”
141. Đỉnh Mái Nhà
“Này các tỳ khưu, cũng như tất cả các kèo gỗ của một ngôi nhà có mái nhọn
đều nghiêng về đỉnh mái, hướng về đỉnh mái, tụ lại ở đỉnh mái,
và đỉnh mái được tuyên bố là tối thượng trong số chúng, cũng
vậy, ... (như trên).”
142. Rễ Thơm
“Này các tỳ khưu, cũng như trong tất cả các loại rễ thơm, thì ngải đen
(black orris) được tuyên bố là tối thượng,cũng vậy, ...”
143. Lõi Gỗ Thơm
“Này các tỳ khưu, cũng như trong tất cả các loại lõi gỗ thơm, thì gỗ đàn
hương đỏ được tuyên bố là tối thượng, cũng vậy, ...”
144. Hoa lài
“Này các tỳ khưu, cũng như trong tất cả các loại hoa thơm, thì hoa lài
được tuyên bố là tối thượng, cũng vậy, ...”
145. Chuyển Luân
Vương
“Này các tỳ khưu, cũng như tất cả các tiểu vương đều là chư hầu của một
Chuyển Luân Vương, và Chuyển Luân Vương được tuyên bố là tối
thượng trong số họ, cũng vậy, ...”
146. Ánh Trăng
“Này các tỳ khưu, cũng như ánh sáng của tất cả các ngôi sao không thể nào
bằng được một phần mười sáu của ánh sáng mặt trăng, và ánh sáng
mặt trăng được tuyên bố là tối thượng, cũng vậy, ...”
147. Mặt Trời
“Này các tỳ khưu, cũng như vào mùa thu, khi bầu trời trong sáng và không
mây, mặt trời mọc lên trên bầu trời, và xua tan bóng tối trong
không gian bằng ánh sáng rực rỡ của mình,
148. Tấm Vải Kāsī
“Này các tỳ khưu, cũng như trong tất cả các loại vải dệt, thì vải Kāsī
được tuyên bố là tối thượng, cũng vậy, tất cả các pháp lành đều
có tinh tấn làm gốc, tụ hội về tinh tấn, và tinh tấn được tuyên
bố là tối thượng.
“Và này các tỳ khưu, như thế nào là một tỳ khưu tinh tấn phát triển và tu
tập Bát Thánh Đạo?
Ở đây, này các Tỳ khưu, vị ấy tu tập chánh kiến, được dựa trên viễn ly, ly
tham, tịch tịnh, hướng đến giải thoát.
Vị ấy tu tập chánh tư duy dựa trên viễn ly, ly tham, tịch tịnh, hướng đến
giải thoát
Vị ấy tu tập chánh ngữ dựa trên viễn ly, ly tham, tịch tịnh, hướng đến
giải thoát
Vị ấy tu tập chánh nghiệp dựa trên viễn ly, ly tham, tịch tịnh, hướng đến
giải thoát
Vị ấy tu tập chánh tinh tấn dựa trên viễn ly, ly tham, tịch tịnh, hướng
đến giải thoát
Vị ấy tu tập chánh niệm dựa trên viễn ly, ly tham, tịch tịnh, hướng đến
giải thoát
Vị ấy tu tập chánh định, dựa trên viễn ly, ly tham, tịch tịnh, hướng đến
giải thoát.
Chính bằng cách này, này các tỳ khưu, tinh cần tu tập và phát triển Thánh
Đạo Tám Chi Phần”
Chú Thích
Thuật ngữ appamāda - cần mẫn - thường được dịch là không dể duôi, không
phóng dật, chuyên niệm, không buông thả, không giải đãi, không
chểnh mảng, không khinh suất.
Theo Sớ giải tinh cần
(appamāda) — dù là pháp hiệp thế — vẫn được gọi là tối thượng
(agga) trong tất cả các thiện pháp, kể cả các pháp siêu thế
(lokuttara). Lý do là vì: tinh tấn là điều kiện cần để đạt được
mọi pháp thiện — không có tinh tấn không thể thành tựu bất kỳ
thiện pháp nào, kể cả thiền định hay Niết-bàn
Mỗi bài kinh là một ẩn dụ khác nhau, ví dụ cụ thể được lấy từ đời sống cổ
Ấn Độ để nhấn mạnh rằng appamāda (tinh tấn, không buông lung) là
gốc rễ, điểm tụ, và tối thượng trong tất cả các pháp thiện.
Những ví dụ đi từ thiên nhiên (voi, hoa, cây) đến văn hóa xã hội (quân
vương, vải dệt…), cho thấy sự đa dạng trong cách Đức Phật truyền
dạy cùng một chân lý.
Mỗi lần, phần còn lại được hiểu là giống như bài kinh số 139, với các
phiên bản tu tập Bát Chánh Đạo khác nhau (viễn ly, đoạn trừ,
hướng Niết-bàn…).
Sớ Giải
139. appamādapeyyāle evameva khoti
ettha yathā sabbasattānaṃ sammāsambuddho aggo, evaṃ sabbesaṃ
kusaladhammānaṃ kārāpakāppamādo aggoti daṭṭhabbo. nanu cesa
lokiyova, kusaladhammā pana lokuttarāpi. ayañca kāmāvacarova,
kusaladhammā pana catubhūmakā. kathamesa tesaṃ aggoti?
paṭilābhakaṭṭhena. appamādena hi te paṭilabbhanti, tasmā so
tesaṃ aggo. tenetaṃ vuttaṃ sabbe te appamādamūlakātiādi.
Evameva kho ti ettha – Ở đây,
câu “Quả thật đúng như vậy” nên được hiểu như sau:
Yathā sabbasattānaṃ sammāsambuddho aggo, evaṃ sabbesaṃ
kusaladhammānaṃ kārāpakā appamādo aggoti daṭṭhabbo.
Nanu cesa lokiyova, kusaladhammā pana lokuttarāpi.
Ayañca kāmāvacarova, kusaladhammā pana catubhūmakā.
Tinh tấn này cũng chẳng phải chỉ thuộc dục giới (kāmāvacara), mà còn là
thiện pháp trải rộng ra bốn tầng cấp (dục giới, sắc giới, vô sắc
giới, siêu thế).
Kathamesa tesaṃ aggoti?
Paṭilābhakaṭṭhena.
Appamādena hi te paṭilabbhanti, tasmā so tesaṃ aggo.
Tenetaṃ vuttaṃ: 'sabbe te appamādamūlakā’ ti ādi.
140. jaṅgalānanti
pathavītalavāsīnaṃ. pāṇānanti sapādakapāṇānaṃ. padajātānīti
padāni. samodhānaṃ gacchantīti odhānaṃ upakkhepaṃ gacchanti.
aggamakkhāyatīti seṭṭhaṃ akkhāyati. yadidaṃ
mahantattenāti mahantabhāvena aggamakkhāyati, na guṇavasenāti
attho.
Jaṅgalānaṃ ti
pathavītalavāsīnaṃ
Pāṇānaṃ ti sapādakapāṇānaṃ
Padajātāni ti
padāni
Samodhānaṃ gacchanti ti
odhānaṃ upakkhepaṃ gacchanti
Aggamakkhāyati
ti seṭṭhaṃ akkhāyati
Yadidaṃ mahantattenā ti
mahantabhāvena aggamakkhāyati, na guṇavasenā ti attho
141-148. vassikanti sumanapupphaṃ.
imaṃ kira suttaṃ sutvā bhātiyamahārājā vīmaṃsitukāmatāya ekasmiṃ
gabbhe catujātigandhehi paribhaṇḍaṃ kāretvā sugandhāni pupphāni
āharāpetvā ekassa samuggassa majjhe sumanapupphamuṭṭhiṃ ṭhapetvā
sesāni tassa samantato muṭṭhimuṭṭhiṃ katvā ṭhapetvā dvāraṃ
pidhāya bahi nikkhanto. athassa muhuttaṃ vītināmetvā dvāraṃ
vivaritvā pavisantassa sabbapaṭhamaṃ sumanapupphagandho ghānaṃ
pahari. so mahātalasmiṃyeva mahācetiyābhimukho nipajjitvā —
“vassikaṃ tesaṃ agganti kathentena sukathitaṃ
sammāsambuddhenā”ti cetiyaṃ vandi. kuṭṭarājānoti khuddakarājāno.
“khuddarājāno”tipi pāṭho. tantāvutānanti tante āvutānaṃ, tantaṃ
āropetvā vāyitānanti attho. idañca paccatte sāmivacanaṃ. yāni
kānici tantāvutāni vatthānīti ayañhettha attho. atha vā
tantāvutānaṃ vatthānaṃ yāni kānici vatthānīti evaṃ
sāvasesapāṭhanayenapettha attho daṭṭhabbo. sesaṃ sabbattha
uttānamevāti.
Vassikaṃ
ti sumanapupphaṃ.
Câu chuyện về vua Bhātiya (Bimbisāra)
Nghe bài kinh này, vua Bhātiya (Bimbisāra) muốn tự mình thể nghiệm những
ví dụ trong kinh. Ngài cho chuẩn bị một căn phòng được
trang trí với bốn loại hương liệu quý. Ngài ra lệnh mang về các
loại hoa thơm, rồi đặt một nắm hoa lài (sumanapuppha) vào
giữa một cái khay, xung quanh là các loại hoa khác cũng được đặt
từng nắm một cách đối xứng.Sau đó, đóng cửa lại, ngài
bước ra ngoài.Một lát sau, khi ngài mở cửa bước vào…Ngay lập
tức, mùi thơm của hoa nhài là mùi đầu tiên đánh vào khứu giác.
Quá cảm động, ngay tại sảnh lớn của hoàng cung, ngài nằm sấp xuống, hướng
về Đại Bảo Tháp (Mahācetiya)……và đảnh lễ tháp, thốt lên: “Thật
chính xác và khéo nói thay! Đức Thế Tôn đã dạy rằng hoa nhài là
tối thượng trong các loại hoa thơm!”
Kuṭṭarājāno
ti khuddakarājāno.
“Khuddarājāno” tipi pāṭho.
Về vải dệt Kāsi:
Tantāvutānanti
tante āvutānaṃ, tantaṃ āropetvā vāyitānaṃ ti attho.
Idañca paccatte sāmivacanaṃ.
Yāni kānici tantāvutāni vatthāni ti ayaṃ hettha attho.
Atha vā tantāvutānaṃ vatthānaṃ yāni kānici vatthāni ti...
Evaṃ sāvasesapāṭhanayenapettha attho daṭṭhabbo.
Sesaṃ sabbattha uttānamevāti.
V. Phẩm Không Phóng Dật
139.I. Như Lai (S.v,41)
I. Viễn Ly
1) Nhân duyên ở Sàvatthi...
2) -- Cũng như, này các Tỷ-kheo, đối với tất cả loại hữu
tình không chân, hai chân bốn chân, hay nhiều chân, có sắc hay
không sắc, có tưởng hay không tưởng, hay không có tưởng và không
không có tưởng; Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, được gọi
là tối thượng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có thiện pháp gì,
tất cả đều lấy không phóng dật làm căn bản, đều lấy không phóng
dật làm chỗ quy tụ. Không phóng dật được gọi là tối thượng đối
với tất cả pháp ấy.
3) Với Tỷ-kheo không phóng dật, này các Tỷ-kheo, chờ đợi
rằng Thánh đạo Tám ngành được tu tập, Thánh đạo tám ngành được
làm cho sung mãn. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không
phóng dật, tu tập Thánh đạo Tám ngành và làm cho sung mãn Thánh
đạo Tám ngành?
4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không phóng dật, tu tập
chánh tri kiến liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ
đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ... tu tập chánh định liên hệ đến
viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến
từ bỏ.
5) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không phóng dật, tu
tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành.
(Ba kinh khác về viễn ly, cũng được thuyết tương tự).
II. Nhiếp Phục Tham
1-2-3) ...
4) -- Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến,
lấy nhiếp phục tham làm cứu cánh, lấy nhiếp phục sân làm cứu
cánh, lấy nhiếp phục si làm cứu cánh... tu tập chánh định, lấy
nhiếp phục tham làm cứu cánh, lấy nhiếp phục sân làm cứu cánh,
lấy nhiếp phục si làm cứu cánh...
III. Bất Tử.
1-2-3) ...
4) -- Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến,
lấy bất tử làm chỗ hội nhập, lấy bất tử làm mục đích, lất bất tử
làm cứu cánh... tu tập chánh định, lấy bất tử làm chỗ hội nhập,
lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh.
IV. Niết Bàn
1-2-3) ...
4) -- Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến
thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn... tu tập
chánh định thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về
Niết-bàn...
140.II. Dấu Chân (I-IV) (S.v,43)
1) Ở Sàvatthi...
2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những dấu chân của
các loại chúng sanh bộ hành nào, tất cả đều hội tập (samodhànam
gachanti) trong chân con voi, vì chân con voi được gọi là tối
thượng trong tất cả loại chân, tức là về phần to lớn. Cũng vậy,
này các Tỷ-kheo, phàm có những thiện pháp nào, tất cả đều lấy
không phóng dật làm căn bản, lấy không phóng dật làm chỗ quy tụ,
không phóng dật được gọi là tối thượng trong tất cả thiện pháp.
3) Với Tỷ-kheo không phóng dật, này các Tỷ-kheo, được chờ
đợi rằng Thánh đạo Tám ngành được tu tập, Thánh đạo Tám ngành sẽ
được sung mãn.
141.III. Chóp Mái (I-IV) (S.v,43)
1) Ở Sàvatthi...
2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, các đòn tay nào của một ngôi
nhà có mái nhọn, tất cả đều đi đến mái nhọn, hướng đến mái nhọn,
quy tụ vào mái nhọn. Mái nhọn đối với chúng được gọi là tối
thượng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo... (như kinh trên)
142.IV. Gốc Rễ (I-IV) (S.v,44)
1) ...
2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những loại rễ hương
nào, loại chiên-đàn đen (kàlànu-sàriyam) được gọi là tối thượng.
Cũng vậy... (như trên) ...
143.V. Lõi Hương (I-IV) (S.v,44)
1) ...
2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những loại lõi hương
nào, loại chiên-đàn đỏ (lohitacandanam) được gọi là tối thượng.
Cũng vậy... (như trên) ...
144.VI. Hạ Sanh Hoa (Bông huệ: vassikam) (I-IV) (S.v,44)
1) ...
2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những loại hoa hương
nào, hoa huệ được gọi là tối thượng. Cũng vậy... (như trên) ...
145. VII. Vua (I-IV) (S.v,44)
1) ...
2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những tiểu vương nào
(kuttaràjàno), tất cả đều tùy thuộc Chuyển luân vương. Vua
Chuyển luân đối với họ được gọi là tối thượng. Cũng vậy... (như
trên) ...
146.VIII. Mặt Trăng (I-IV) (S.v,44)
1) ...
2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm ánh sáng của bất cứ loại
sao nào, tất cả đều không bằng một phần mười sáu ánh sáng của
mặt trăng. Ánh sáng mặt trăng đối với chúng được gọi là tối
thượng. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo... (như trên) ...
147.IX. Mặt Trời (I-IV) (S.v,44)
1) ...
2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, vào mùa thu, khi hư không mở
rộng không có mây mù, mặt trời vươn thẳng lên hư không, quét
sạch mọi tối tăm trên trời, chói sáng, bừng sáng. Cũng vậy, này
các Tỷ-kheo... (như trên) ...
148.X. Vải (I-IV) (S.v,45)
1) ...
2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có vải gì được dệt, vải
dệt ở Ba-la-nại được gọi là tối thượng... Cũng vậy, này các
Tỷ-kheo, phàm có những thiện pháp nào, tất cả đều lấy không
phóng dật làm căn bản, lấy không phóng dật làm chỗ quy tụ, không
phóng dật được gọi là tối thượng trong tất cả thiện pháp.
3) Với Tỷ-kheo không phóng dật, này các Tỷ-kheo, được chờ
đợi rằng Thánh đạo Tám ngành được tu tập, Thánh đạo Tám ngành
được làm cho sung mãn. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo
không phóng dật, tu tập Thánh đạo Tám ngành và làm cho sung mãn
Thánh đạo Tám ngành?
4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến
liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt,
hướng đến từ bỏ... tu tập chánh định liên hệ đến viễn ly, liên
hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.
5) Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không phóng dật, tu tập
Thánh đạo Tám ngành và làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành. ooOoo |