BÀI HỌC HẰNG NGÀY

Thứ Sáu, ngày 24, tháng 10, 2025

MÔN HỌC THẮNG PHÁP PHỔ THÔNG
THẮNG PHÁP TẬP YẾU (ABHIDHAMMA SANGAHA)
Chương 9: Phân Tích Thiền Án (Kammaṭṭhānasangahavibhāga)
Bài 149. Tổng Lược về Thiền Quán III (vipassanāsaṅgaha) ̣
 

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thang-Phap-149.jpg

Các Giai Đoạn Thanh Tịnh Hoá

Vipassanākammaṭṭhāne pana

Sīla-visuddhi, citta-visuddhi, diṭṭhi-visuddhi, kaṅkhāvitaraṇa-visuddhi, maggāmagga-ñāṇa-dassana-visuddhi, paṭipadā-ñāṇa-dassana-visuddhi, ñāṇa-dassana-visuddhi cā ti sattavidhena visuddhi-saṅgaho.

Trong pháp hành thiền minh sát, có bảy giai đoạn  thanh tịnh như sau:

1.    Sự thanh tịnh về giới (sīla-visuddhi)

2.    Sự thanh tịnh về tâm (citta-visuddhi)

3.    Sự thanh tịnh về tri kiến (diṭṭhi-visuddhi)

4.    Sự thanh tịnh do vượt qua hoài nghi (kaṅkhāvitaraṇa-visuddhi)

5.    Sự thanh tịnh do tri kiến về Đạo và phi Đạo (maggāmagga-ñāṇa-dassana-visuddhi)

6.    Sự thanh tịnh do tri kiến về con đường thực hành (paṭipadā-ñāṇa-dassana-visuddhi)

7.    Sự thanh tịnh do liễu ngộ (ñāṇa-dassana-visuddhi)

Chú thích

Bảy giai đoạn thanh tịnh này cần được đạt được theo thứ tự. Mỗi giai đoạn là nền tảng cho giai đoạn tiếp theo. Với sự tương ứng theo “tam học” như sau”: Giai đoạn 1 tương ứng với Giới (Sīla), giai đoạn 2 tương ứng với Định (Samādhi), giai đoạn 3 đến giai đoạn 7 tương ứng với Tuệ (Paññā).

Sáu giai đoạn đầu thuộc về thế gian (lokiya)

Giai đoạn cuối cùngsiêu thế (lokuttara) — tức là các đạo trí (magga) và quả trí (phala)

Bảng tóm tắt Bảy Giai Đoạn Thanh Tịnh

Giai đoạn

Tên (Pāli)

Ý nghĩa – Nội dung thực hành

1-

Sīla-visuddhi

Giới thanh tịnh – Giữ giới (4 loại giới thanh tịnh)

2-

Citta-visuddhi

Tâm thanh tịnh – Thiền định: Cận định (upacāra), Định an trú (appanā)

3-

Diṭṭhi-visuddhi

Tri kiến thanh tịnh – Thấy rõ danh–sắc qua các đặc tính, chức năng, duyên khởi

4-

Kaṅkhāvitaraṇa-visuddhi

Vượt nghi thanh tịnh – Hiểu rõ điều kiện duyên sinh của thân–tâm

5-

Maggāmagga-ñāṇa-dassana-visuddhi

Biết rõ Đạo và phi Đạo – Có tuệ phân biệt các tuệ giác thật ảo tưởng

6-

Paṭipadā-ñāṇa-dassana-visuddhi

Thấy rõ con đường – 9 Tuệ giác Vipassanā trưởng thành (xem chi tiết bên dưới)

7-

Ñāṇa-dassana-visuddhi

Tuệ liễu ngộ– Chứng Đạo, Quả, và tuệ phản chiếu (Paccavekkhaṇañāṇa)


10  Chi tiết Tuệ giác trong giai đoạn 6 & 7:

Giai đoạn 5:

  • Tuệ tổng quát (sammasana ñāṇa)
  • Tuệ sinh–diệt non (udayabbaya ñāṇa – tender phase)

Giai đoạn 6 – Tuệ trưởng thành (9 loại):

1.    Tuệ sinh–diệt (mature)

2.    Tuệ hoại diệt

3.    Tuệ sợ hãi

4.    Tuệ thấy nguy hiểm

5.    Tuệ nhàm chán

6.    Tuệ mong giải thoát

7.    Tuệ tư duy lại

8.    Tuệ xả ly với các hành

9.    Tuệ thuận Đạo (anuloma ñāṇa)

Giai đoạn 7 – Siêu thế (Lokuttara):

  • Tâm chuyển tánh (gotrabhū)
  • Tâm đạo (magga)
  • Tâm quả (phala)
  • Tuệ phản chiếu (paccavekkhaṇa ñāṇa)

Tất cả bảy giai đoạn được mô tả trong tác phẩm Visuddhimagga của Ngài Buddhaghosa. Được xem là cốt lõi của con đường hành trì trong thiền minh sát truyền thống Theravāda. Đây cũng là lộ trình mà các hành giả A-la-hán đã đi qua.

Sự thanh tịnh về giới (Sīla-visuddhi)

Kathaṁ?
Pāṭimokkhasaṁvarasīlaṁ, indriyasaṁvarasīlaṁ, ājīvapārisuddhisīlaṁ, paccayasannissitasīlañ cā ti catupārisuddhisīlaṁ sīlavisuddhi nāma.

“Thế nào là sự thanh tịnh về giới?” “Sự thanh tịnh về giới (sīla-visuddhi) gồm bốn loại giới thanh tịnh, tức là:

1.    Giới do sự nhiếp phục theo Pāṭimokkha;

2.    Giới do sự nhiếp phục các căn;

3.    Giới do sự thanh tịnh trong việc nuôi mạng;

4.    Giới liên hệ đến việc sử dụng các vật dụng.”

Chú thích

Bốn loại giới thanh tịnh này được giải thích trong bối cảnh đời sống của một vị tỳ khưu:

1.    Giới Pāṭimokkha: Là bộ luật căn bản gồm 227 giới mà một tỳ khưu cần giữ (tỳ khưu ni có số giới nhiều hơn). Sự giữ giới trọn vẹn gọi là “giới do sự nhiếp phục theo Pāṭimokkha”.

2.    Giới nhiếp phục căn: Giới này đòi hỏi thực hành chánh niệm khi tiếp xúc với các đối tượng giác quan, không để tâm bị cuốn theo ưa thích hay ghét bỏ.

3.    Giới thanh tịnh về nuôi mạng: Tỳ khưu cần nuôi mạng một cách trong sạch, không dùng thủ đoạn để được vật dụng, đúng với hạnh xuất gia.

4.    Giới liên hệ đến vật dụng: Tỳ khưu phải quán chiếu mục đích khi dùng bốn vật dụng thiết yếu: y, đồ ăn, chỗ ở, và thuốc men — chỉ nên sử dụng để duy trì đời sống phạm hạnh.


2. Sự thanh tịnh về tâm (Citta-visuddhi)

Upacārasamādhi, appanāsamādhi cā ti duvidho pi samādhi cittavisuddhi nāma.

“Sự thanh tịnh về tâm (citta-visuddhi) gồm hai loại định (samādhi):

1.    Cận định (upacāra-samādhi),

2.    An chỉ định hay định an trú (appanā-samādhi).”

Chú thích

Có hai con đường chính trong phát triển tuệ giác:

1.    Hành giả theo lộ trình thiền chỉ (samatha-yānika): Trước tiên đạt đến định (samādhi) — cận định hoặc định an trú (các tầng thiền), rồi quán sát các hiện tượng tâm–vật lý trong thiền để phát triển tuệ giác.

2.    Hành giả theo lộ trình thuần quán (vipassanā-yānika): Không cần đạt thiền định trước, mà trực tiếp quán sát dòng chảy thân–tâm trong sát-na hiện tại. Tâm định khởi lên tự nhiên, gọi là sát-na định (khaṇika-samādhi) — tương đương cận định, và đây được xem là sự thanh tịnh về tâm cho hành giả quán thuần (sukkhavipassaka).


3. Sự thanh tịnh về tri kiến (Diṭṭhi-visuddhi)

Lakkhaṇa-rasa-paccupaṭṭhāna-padaṭṭhāna-vasena nāmarūpa pariggaho diṭṭhivisuddhi nāma.

“Sự thanh tịnh về tri kiến (diṭṭhi-visuddhi) là sự thấy rõ danh–sắc (nāma–rūpa) thông qua:

  • đặc tính (lakkhaṇa),
  • chức năng (rasa),
  • sự hiện hành (paccupaṭṭhāna),
  • duyên gần (padaṭṭhāna).”

Chú thích

Ở giai đoạn này, hành giả thấy rõ rằng không có bản ngã (attā), chỉ có danh sắc đang sinh diệt do điều kiện.

Còn gọi là tuệ phân biệt danh–sắc (nāma–rūpa vavatthāna ñāṇa) — thấy rõ năm uẩn (khandhā) chỉ là tiến trình không có chủ thể điều khiển.


4.  Sự thanh tịnh vượt khỏi hoài nghi (Kaṅkhāvitaraṇa-visuddhi)

Tesam eva ca nāmarūpānaṁ paccayapariggaho kaṅkhāvitaraṇavisuddhi nāma.

"Sự thanh tịnh do vượt qua hoài nghi" (kaṅkhāvitaraṇa-visuddhi) là sự quán sát các điều kiện (paccaya-pariggaha) của cùng chính danh–sắc (nāma–rūpa) ấy.

Chú thích

Sự thanh tịnh do vượt qua hoài nghi (kaṅkhāvitaraṇa-visuddhi) được gọi như vậy vì đây là giai đoạn phát sinh tuệ giác có khả năng loại trừ hoài nghi liên quan đến các điều kiện vận hành của danh–sắc trong ba thời: quá khứ, hiện tại và vị lai.

Sự thanh tịnh này đạt được bằng cách, trong tiến trình hành thiền, hành giả ứng dụng tuệ giác về duyên khởi (paṭicca-samuppāda) để hiểu rõ rằng:

Tổ hợp thân–tâm (danh–sắc) hiện tại không phải ngẫu nhiên mà có, cũng không do một đấng sáng tạo (creator god) hay một linh hồn nguyên thủy tạo ra, mà nó sinh khởi từ các nhân quá khứ: vô minh (avijjā), ái dục (taṇhā), thủ (upādāna), và nghiệp (kamma).

Sau đó, hành giả áp dụng cùng nguyên lý này để quán chiếu về quá khứ và tương lai.

Giai đoạn này còn được gọi là “tuệ quán duyên hệ” (paccaya-pariggaha-ñāṇa) – tuệ tri rõ ràng về những điều kiện sinh khởi và hoại diệt của thân–tâm.


5. Sự thanh tịnh do tuệ tri và minh kiến về điều là Đạo và điều không phải là Đạo (Maggāmaggañāṇadassanavisuddhi)

Tato paraṁ pana tathāpariggahitesu sappaccayesu tebhūmaka saṅkhāresu atītādibhedabhinnesu khandhādinayaṁ ārabbha kalāpavasena saṅkhipitvā…

“Sau khi đã quán sát rõ các hành (saṅkhāra) thuộc ba cõi, cùng với các duyên của chúng, chia ra thành các thời quá khứ, hiện tại và vị lai; hành giả gom chúng lại thành từng nhóm theo phương pháp như năm uẩn (khandha) v.v…”

…aniccaṁ khayaṭṭhena, dukkhaṁ bhayaṭṭhena, anattā asārakatthena ti addhānavasena, santativasena, khaṇavasena vā sammasanañāṇena lakkhaṇattayaṁ sammasantassa…

“…và với tuệ quán tổng quát (sammasana-ñāṇa), hành giả thấy rõ ba đặc tính của chúng: Vô thường (anicca) theo nghĩa là: bị hủy diệt (khayaṭṭhena); Khổ (dukkha) theo nghĩa là: đáng sợ, bất an (bhayaṭṭhena); Vô ngã (anattā) theo nghĩa là: không có thực thể, không có cốt lõi (asārakatthena)…sự quán này được thực hiện theo ba phương diện: theo thời gian (addhāna), theo dòng tiếp nối (santati), và theo sát-na (khaṇa).


…tesv’eva paccayavasena khaṇavasena ca udayabbayañāṇena udayabbayaṁ samanupassantassa ca.

“Sau đó, với tuệ thấy sinh–diệt (udayabbaya-ñāṇa), hành giả quán sát rõ sự sinh khởi và hoại diệt của các pháp này, cả về mặt duyên sinh (paccayavasena) và theo từng sát-na (khaṇavasena).”

Obhāso, pīti, passaddhi, adhimokkho ca, paggaho, sukhaṁ, ñāṇaṁ, upaṭṭhānaṁ, upekkhā ca, nikanti cā ti.

“Trong tiến trình này, có thể phát sinh các trạng thái như: Ánh sáng (obhāsa),   Hỷ lạc (pīti), Tĩnh lặng (passaddhi), Quyết tâm (adhimokkha), Nỗ lực (paggaha), An lạc (sukha), Tuệ tri (ñāṇa), Chánh niệm (upaṭṭhāna), Xả (upekkhā), và dính mắc vi tế (nikanti).”

Obhāsādhi-vipassan’upakkilesā paripanthapariggahavasena maggāmaggalakkhaṇavavatthānaṁ maggāmaggañāṇadassanavisuddhi nāma.

“Những trạng thái trên như ánh sáng v.v… được gọi là các cấu uế của tuệ quán – hay tuỳ phiền não (vipassan-upakkilesā). Việc nhận biết rằng những trạng thái này là chướng ngại và không phải là Đạo, gọi là: Sự thanh tịnh do tuệ tri và minh kiến về điều là Đạo và điều không phải là Đạo (maggāmaggañāṇadassanavisuddhi).”


Chú thích

 1. Phân nhóm các pháp hữu vi (Kalāpa)

“Gom chúng thành nhóm (kalāpa)”: điều này biểu thị sự chuẩn bị cho tuệ tổng quát (sammasanañāṇa) — giai đoạn phát triển tuệ quán trong đó các hiện tượng danh–sắc được quán xét theo ba đặc tính (vô thường, khổ, vô ngã).

Hành giả bắt đầu bằng cách quán rằng: Tất cả các sắc pháp — dù thuộc quá khứ, hiện tại, hay tương lai; dù nội hay ngoại; thô hay tế; hạ liệt hay cao thượng; gần hay xa — đều thuộc về uẩn của sắc (rūpakkhandha).

Tương tự, hành giả quán các hiện tượng:

  • Cảm thọ (vedanā) thuộc về thọ uẩn (vedanākkhandha),
  • Tưởng (saññā) thuộc về tưởng uẩn (saññākkhandha),
  • Hành (saṅkhāra) thuộc về hành uẩn (saṅkhārakkhandha),
  • Thức (viññāṇa) thuộc về thức uẩn (viññāṇakkhandha).

Tuệ căn bản (Sammasanañāṇa) – phân ba đặc tính

Kế đó, hành giả bắt đầu phân ba đặc tính (tilakkhaṇa) lên năm uẩn đã gom nhóm:

1.    Vô thường (anicca): theo nghĩa hủy diệt (khayaṭṭhena), vì chúng diệt ngay tại nơi chúng sinh khởi, không tồn tại tiếp tục như một thực thể nguyên vẹn.

2.    Khổ (dukkha): theo nghĩa đáng sợ (bhayaṭṭhena), vì cái gì vô thường thì không thể là nơi nương tựa an toàn.

3.    Vô ngã (anattā): theo nghĩa không có cốt lõi (asārakatthena), vì chúng không có tự ngã hay người điều khiển nào bên trong.


 Quán ba đặc tính theo ba cách

Việc quán ba đặc tính có thể được thực hiện theo ba phương diện:

1.    Theo thời gian (addhāna):

o    Bắt đầu từ toàn bộ đời sống, rồi chia nhỏ dần:

o    Tuổi trẻ, trung niên, tuổi già, rồi chia tiếp theo thập kỷ, năm, tháng, ngày, cho đến từng giây phút ngắn nhất — thấy rõ rằng trong mọi thời đoạn, tất cả pháp đều vô thường, khổ, vô ngã.

2.    Theo dòng tiếp nối (santati):

o    Quán từng chuỗi hiện tượng tâm hay vật liên tục nối tiếp, như từng chuỗi cảm thọ hay sắc pháp.

3.    Theo sát-na (khaṇa):

o    Quán từng khoảnh khắc ngắn nhất của danh–sắc, từng sinh và diệt vi tế.


Tuệ thấy sinh–diệt (Udayabbayañāṇa)

Đây là tuệ quán kế tiếp, đạt được nhờ quán sát sự sinh và diệt của các pháp:

  • Sinh (udaya): sự xuất hiện, hình thành, khởi sinh của hiện tượng.
  • Diệt (vaya): sự đổi thay, tan rã, chấm dứt.

Có hai cách thực hành:

  • Theo duyên (paccayavasena): thấy rằng các pháp sinh do duyên và diệt khi duyên chấm dứt.
  • Theo sát-na (khaṇavasena): thấy rõ từng hiện tượng sinh và diệt tức thời trong hiện tại.

Mười cấu uế của tuệ quán (Vipassan’upakkilesā)

Khi tuệ thấy sinh–diệt phát triển mạnh, có thể phát sinh 10 hiện tượng vi tế được gọi là cấu uế của tuệ (vipassan’upakkilesā):

1.    Ánh sáng (obhāsa)

2.    Hỷ lạc (pīti)

3.    Tĩnh lặng (passaddhi)

4.    Quyết tâm (adhimokkha)

5.    Nỗ lực (paggaha)

6.    An lạc (sukha)

7.    Tuệ tri (ñāṇa)

8.    Chánh niệm (upaṭṭhāna)

9.    Xả (upekkhā)

10.                       Vi tế tham ái (nikanti) – khởi tâm ưa thích, dính mắc vào các trạng thái vi diệu ấy.


Phân biệt điều là Đạo và không phải là Đạo

Nếu hành giả không có tuệ phân biệt, sẽ tưởng rằng mình đã chứng Đạo–Quả, rồi bỏ thiền quán mà an trú trong các trạng thái vi tế ấy.

Nhưng nếu hành giả có trí tuệ, sẽ:

  • Nhận biết những hiện tượng này chỉ là phụ, không phải Đạo,
  • Quán sát chúng cũng là vô thường – khổ – vô ngã,
  • Không dính mắc, và tiếp tục hành thiền đúng hướng.

Việc phân biệt đúng – sai, giữa đạo thực sự và hiện tượng tưởng chừng như đạo, chính là:  Sự thanh tịnh do tuệ tri và minh kiến về điều là Đạo và điều không phải là Đạo (maggāmaggañāṇadassanavisuddhi).


6. Sự thanh tịnh do tuệ tri và thấy biết về con đường hành trì (Paṭipadāñāṇadassanavisuddhi)
Tathā paripanthavimuttassa pana tassa udayabbayañāṇato paṭṭhāya yāvānulomā tilakkhaṇaṁ vipassanāparamparāya paṭipajjantassa nava vipassanāñāṇāni paṭipadāñāṇadassanavisuddhi nāma.

Khi hành giả đã vượt qua được các chướng ngại của tuệ quán, kể từ tuệ sinh–diệt trở đi, trong tiến trình quán chiếu các hiện tượng theo ba đặc tính (vô thường, khổ, vô ngã), hành giả lần lượt kinh nghiệm chín tuệ minh sát liên tục, được gọi là sự thanh tịnh do tuệ tri và thấy biết về con đường hành trì (Paṭipadāñāṇadassanavisuddhi).

Chú thích

Chín tuệ minh sát (Nava Vipassanāñāṇāni)

Dưới đây là chi tiết chín tuệ minh sát cấu thành giai đoạn thứ 6 trong bảy sự thanh tịnh (satta visuddhi):

STT

Pāli

Việt

Mô tả ngắn

1

Udayabbayañāṇa

Tuệ sinh–diệt

Thấy sự sinh và diệt của các pháp một cách rõ ràng, chín muồi sau khi vượt qua cấu uế tuệ.

2

Bhangañāṇa

Tuệ diệt

Không còn chú ý đến sự sinh, chỉ thấy rõ sự tan rã, biến hoại của tất cả hiện tượng.

3

Bhayañāṇa

Tuệ khiếp sợ

Thấy mọi sự tan hoại là đáng sợ – không có sự an toàn trong bất kỳ pháp hữu vi nào.

4

Ādīnavañāṇa

Tuệ hiểm họa

Thấy rõ các hiện tượng là nguy hại, trống rỗng, không có giá trị.

5

Nibbidāñāṇa

Tuệ nhàm chán

Tâm xả ly, chán nản các pháp hữu vi, không còn ưa thích chúng nữa.

6

Muñcitukamyatāñāṇa

Tuệ ước muốn giải thoát

Khởi tâm muốn thoát ly khỏi toàn bộ trường cảnh của các hành (saṅkhāra).

7

Paṭisaṅkhāñāṇa

Tuệ quán xét lại

Xét lại các pháp với ba đặc tính, củng cố sự xả ly.

8

Saṅkhārupekkhāñāṇa

Tuệ xả các hành

Tâm đạt đến trạng thái xả, bình đẳng, không bị dao động bởi hành.

9

Anulomañāṇa

Tuệ thuận thứ

Tuệ chuẩn bị đi vào đạo lộ siêu thế, hòa hợp với chân lý, là giai đoạn chuyển tiếp.


[Ghi lại để nhớ rõ]

  • Tuệ sinh–diệt (Udayabbayañāṇa):
    • Giai đoạn đầu đã có trước đó, nhưng giờ được củng cố và trở nên sâu sắc hơn sau khi vượt qua các cấu uế tuệ (vipassan’upakkilesa).
  • Tuệ diệt (Bhangañāṇa):
    • Tâm không còn quan sát sự sinh nữa, mà chỉ thấy rõ từng pháp diệt ngay khi chúng sinh khởi.
  • Tuệ sợ hãi – hiểm họa – nhàm chán (Bhaya, Ādīnava, Nibbidā):
    • Là ba tuệ tiếp theo liên kết nhau chặt chẽ: thấy rõ bản chất đáng sợ, nguy hại, và mất hứng thú hoàn toàn với các pháp hữu vi.
  • Tuệ ước muốn giải thoát (Muñcitukamyatāñāṇa):
    • Hành giả khởi tâm sâu sắc muốn thoát ra khỏi khổ, muốn chấm dứt luân hồi.
  • Tuệ quán xét (Paṭisaṅkhāñāṇa):
    • Là tuệ kiểm tra lại – không phải để nghi ngờ – mà để củng cố quyết tâm buông bỏ.
  • Tuệ hành xả đối với pháp hữu vi (Saṅkhārupekkhāñāṇa):
    • Một trong những giai đoạn cao nhất trước khi đắc đạo: tâm đạt sự quân bình hoàn toàn, không bị lôi kéo bởi thiện–ác–sinh–diệt.
  • Tuệ thuận thứ (Anulomañāṇa):
    • Là tuệ chót trong giai đoạn này, nối kết giữa tuệ minh sát và tuệ đạo (maggañāṇa). Sau tuệ này là cận hành tâm (gotrabhū), rồi đạo tâm (magga) phát sinh.

7. Sự thanh tịnh do liễu ngộ (Ñāṇa–dassana–visuddhi)

Tass’evaṁ paṭipajjantassa pana vipassanāparipākam āgamma idāni appanā uppajjissatī ti bhavangaṁ vocchinditvā uppannamanodvāra-vajjanānantaraṁ dve tīṇi vipassanācittāni yaṁ kiñci aniccādilakkhaṇam ārabbha parikamm’-opacār’-ānulomanāmena pavattanti. Yā sikhāpattā sā sānulomasankhārupekkhā vuṭṭhānagāminīvipassanā ti ca pavuccati.

Khi vị ấy hành trì như vậy, do tuệ minh sát đã chín muồi, [vị ấy nghĩ rằng]: “Bây giờ định (appanā) sẽ khởi lên.” Sau đó, chấm dứt dòng hữu phần (bhavaṅga), rồi phát sinh tâm hướng về cửa tâm (manodvāravajjana), tiếp theo là hai hoặc ba tâm minh sát (vipassanācitta), có đối tượng là một trong các đặc tướng như vô thường (anicca), v.v… Ba tâm này được gọi là chuẩn bị (parikamma), cận hành (upacāra), và thuận thứ (anuloma). Tuệ xả các hành thuận theo, đã đạt đến mức thành tựu, được gọi là: “Tuệ minh sát dẫn đến sự xuất khởi” (vuṭṭhānagāminīvipassanā).

Tato paraṁ gotrabhūcittaṁ nibbānam ālambitvā puthujjanagottam abhibhavantaṁ ariyagottam abhisambhontañ ca pavattati. Tass’ ānantaram eva maggo dukkhasaccaṁ parijānanto, samudayasaccaṁ pajahanto, nirodhasaccaṁ sacchikaronto, maggasaccaṁ bhāvanāvasena appanāvīthim otarati. Tato paraṁ dve tīṇi phalacittāni pavattitvā nirujjhanti. Tato paraṁ bhavangapāto va hoti.

Sau đó, tâm chuyển tánh (gotrabhū-citta) phát sinh, lấy Niết-bàn làm đối tượng, vượt qua chủng loại của phàm phu (puthujjana-gotta) và tiếp nhận chủng loại của bậc thánh (ariya-gotta).

Ngay sau đó là tâm đạo (magga) khởi lên, với bốn chức năng:

1.    Quán triệt Khổ đế (dukkhasacca),

2.    Từ bỏ Tập đế (samudayasacca),

3.    Chứng ngộ Diệt đế (nirodhasacca),

4.    Tu tập Đạo đế (maggasacca) — dưới hình thức định siêu thế (appanā-vīthi).

Sau đó, hai hoặc ba tâm quả (phalacitta) phát sinh và chấm dứt.
Rồi, tâm rơi trở lại dòng tiềm thức (bhavaṅgapāta).

Puna bhavangaṁ vocchinditvā paccavekkhaṇañāṇāni pavattanti. Maggaṁ phalañ ca nibbānaṁ paccavekkhati paṇḍito. Hīne kilese sese ca paccavekkhati vā na vā. Chabbisuddhikkamen’evaṁ bhāvetabbo catubbidho ñāṇadassanavisuddhi nāma maggo pavuccati. Ayam ettha visuddhibhedo.

Sau đó, khi dòng tiềm thức bị cắt đứt lần nữa, các tuệ hồi quán (paccavekkhaṇa-ñāṇa) khởi sinh. Người trí sẽ quán sát lại đạo, quả, và Niết-bàn. Vị ấy có thể quán sát các lậu hoặc đã đoạn tận và các lậu hoặc còn lại — hoặc không. Như vậy, con đường gồm bốn đạo phải được phát triển theo trình tự sáu thanh tịnh (chabbisuddhi), được gọi là thanh tịnh do liễu ngộ” (ñāṇadassanavisuddhi).

Đây là phần kết thúc về sự phân loại các thanh tịnh (visuddhibheda).


Chú thích

Ba sát-na tâm minh sát (vipassanā-citta) xảy ra đối với người có căn cơ bình thường, trong khi chỉ có hai sát-na (bỏ qua sát-na nhận thức, tức tâm xác định – vottapana) xảy ra đối với người có căn cơ đặc biệt nhạy bén.

Tuệ minh sát dẫn đến sự xuất khởi (vuṭṭhānagāminīvipassanā):
Đây là giai đoạn cuối cùng của tuệ minh sát trước khi con đường siêu thế (đạo tâm – magga-citta) khởi lên. Được gọi là “xuất khởi” vì:

  • Khách quan, tuệ này vượt ra khỏi các hành (saṅkhāra) và hướng đến Niết-bàn làm đối tượng;
  • Chủ quan, nó vượt thoát ra khỏi các lậu hoặc (kilesa).

Tâm chuyển tánh (gotrabhū-citta): Tâm này là sự hướng tâm đầu tiên đến Niết-bàn, và là điều kiện gần cho đạo tâm siêu thế. Gọi là “chuyển tánh” vì nó đánh dấu sự chuyển từ “chủng loại” (gotta) hay “dòng giống” của phàm phu (puthujjanagotta) sang dòng giống của bậc Thánh (ariyagotta). Tuy tâm này cũng nhận thức Niết-bàn như đạo tâm, nhưng khác đạo tâm, nó không có khả năng phá vỡ màn vô minh (kilesa) đang che phủ Tứ Thánh Đế. Ở những lần chứng đạo thứ hai trở lên, tâm này được gọi là “vodāna” – nghĩa là “chuyển hóa”, thay vì gotrabhū, vì hành giả đã thuộc về dòng của bậc Thánh.


Đạo (magga):
Tâm đạo (magga-citta) thực hiện đồng thời bốn chức năng, mỗi chức năng tương ứng với một Thánh đế:

1.    Hiểu rõ hoàn toàn Khổ đế (dukkhasacca) – (pariññā)

2.    Từ bỏ Tập đế (samudayasacca) – (pahāna)

3.    Chứng ngộ Diệt đế (nirodhasacca) – (sacchikiriya)

4.    Tu tập Đạo đế (maggasacca) – (bhāvanā)

Đối với người có căn cơ bén nhạy, bỏ qua sát-na chuẩn bị (parikamma), sẽ có ba tâm quả (phalacitta) khởi lên sau tâm đạo. Còn với người đi qua sát-na chuẩn bị, sẽ chỉ có hai tâm quả.


Tuệ hồi quán (paccavekkhaṇañāṇa):
Sau mỗi lần chứng được bốn đạo siêu thế, hành giả thực hiện tuệ hồi quán gồm:

  • Quán sát lại đạo (magga)
  • Quả (phala)
  • Niết-bàn (Nibbāna)

Thông thường (nhưng không bắt buộc), vị ấy cũng sẽ quán sát:

  • Các lậu hoặc (kilesa) đã đoạn tận, và
  • Các lậu hoặc còn lại (nếu chưa phải A-la-hán).

Như vậy, có tối đa mười chín (19) tuệ hồi quán:

  • Mỗi đạo trong ba đạo đầu có năm tuệ (đạo, quả, Niết-bàn, kilesa đã đoạn, kilesa còn lại)
  • Đạo cuối cùng (A-la-hán đạo) chỉ có bốn tuệ, vì A-la-hán không còn lậu hoặc nào để phản khán.

Dưới đây là trích đoạn trong quyển “Toát Yếu A Tỳ Đàm” của Hoà thượng Tuệ Siêu

CHƯƠNG IX.
TOÁT YẾU NGHIỆP XỨ
(KAMMAṬṬHĀNASAṄGAHA)

B. Quán niệm xứ
(Vipassanākammaṭṭhāna)

Mười tuệ quán hay tuệ minh sát (vipassanāñāṇa) là những tuệ tu tiến lấy tam tướng (tilakkhaṇa) làm cảnh. Nếu kể mười sáu tuệ trong tăng thượng tuệ (adhipaññā) thì kể thêm sáu tuệ nữa là hai tuệ lấy danh sắc làm cảnh (phân định danh sắc tuệ, Hiển duyên danh sắc tuệ), ba tuệ lấy níp-bàn làm cảnh (chuyển tộc tuệ, đạo tuệ, quả tuệ), một tuệ lấy đạo quả níp-bàn và phiền não đã trừ làm cảnh (phản khán tuệ).

Mười sáu tuệ thứ tự như sau:

(1) Phân định danh sắc tuệ (nāmarūpaparicchedañāṇa)

(2) Hiển duyên danh sắc tuệ (nāmarūpapaccayapariggahañāṇa)

(3) Thẩm sát tuệ (sammasanañāṇa)

(4) Sanh diệt tuệ (udayabbayañāṇa)

(5) Hoại tán tuệ (bhaṅgañāṇa)

(6) Kinh úy tuệ (bhayañāṇa)

(7) Nguy hại tuệ (ādīnavañāṇa)

(8) Yếm ố tuệ (nibbidāñāṇa)

(9) Dục thoát tuệ (muñcitukamyatāñāṇa)

(10) Giản trạch tuệ (paṭisaṅkhāñāṇa)

(11) Hành xả tuệ (saṅkhārupekkhāñāṇa)

(12) Thuận thứ tuệ (anulomañāṇa)

(13) Chuyển tộc tuệ (gotrabhūñāṇa)

(14) Đạo tuệ (maggañāṇa)

(15) Quả tuệ (phalañāṇa)

(16) Phản khán tuệ (paccavekkhaṇañāṇa)

d. Thất tịnh (visuddhi) là bảy giai đoạn thanh tịnh của hành trình giải thoát

Trong kinh Trạm xe (Rathavinītasutta), Trung bộ kinh, bài số 24 – bảy tịnh pháp được thí dụ như bảy trạm xe. Nhà vua đi từ Sāvatthi đến Sāketa, chặng đường dài được bố trí mỗi quãng đường có một trạm dừng chân để thay đổi xe và ngựa. Từ thành Sāvatthi đến thành Sāketa có bảy trạm. Vua phải đi qua tuần tự bảy trạm xe mới đến nơi. Cũng vậy, hành trình tu tập đến giải thoát, vị hành giả phải tuần tự thực hành bảy pháp tịnh là giới tịnh, tâm tịnh, kiến tịnh, đoạn nghi tịnh, đạo phi đạo tri kiến tịnh, hành lộ tri kiến tịnh và tri kiến tịnh.

(1) Giới tịnh (sīlavisuddhi) là sự thanh tịnh về giới hạnh, nghiêm trì giới luật làm cho thân khẩu ý được trong sạch. Hành giả, là vị tu sĩ phải thực thi tứ thanh tịnh giới (biệt giải thoát thu thúc giới, lục căn thu thúc giới, dưỡng mạng thanh tịnh giới, nhu yếu thọ dụng giới). Hành giả là cư sĩ phải thực thi một trong bốn loại giới tại gia (ngũ giới, bát quan trai giới, thập giới, huợt mạng đệ bát giới – ājīvaṭṭhamakasīla).

Khi hành giả có giới tịnh mới an trú tâm bất hối, không nóng nảy, và tiến hành tâm tịnh được.

(2) Tâm tịnh (cittavisuddhi) là an định nội tâm, tâm được vắng lặng năm triền cái (nīvaraṇa). Có ba loại định tâm (samādhi) là kiên cố định (appanāsamādhi), cận hành định (upacārasamādhi), và sát-na định (khaṇikasamādhi).

Có hai hạng hành giả tu tiến quán nghiệp xứ: Hạng "chỉ thừa" (samathayānika), hạng "quán thừa" (vipassanāyānika).

Hạng hành giả chỉ thừa (samathayānika) là người có thiền chỉ làm phương tiện, tức là tu tiến thiền chỉ trước, đắc kiên cố định (appanāsamādhi) hoặc cận hành định (upacārasamādhi) rồi dùng định này làm phương tiện để tu tiến thiền quán.

Hạng hành giả quán thừa (vipassanāyānika) cũng gọi là hành giả quán khô (sukkhavipassaka), hạng hành giả này không tu thiền chỉ, mà nhiếp tâm chánh niệm vào đề mục minh sát, tập trung trên đối tượng quán và đè nén các triền cái, gọi là sát-na định (khaṇikasamādhi), lấy sát-na định làm phương tiện tu tiến thiền quán. Vì hành giả tu quán này “khô thiền”, không có thiền chỉ làm phương tiện nên gọi là “quán khô” (sukkhavipassaka).

(3) Kiến tịnh (diṭṭhivisuddhi) là sự thanh tịnh tri kiến, chánh kiến sanh khởi.

Giai đoạn kiến tịnh là giai đọan khởi lên tuệ phân định danh sắc (nāmarūpaparicchedañāṇa).

Hành giả có cái nhìn phân định “đây là danh, đây là sắc”; thấy danh sắc qua năm uẩn (khandha), thấy danh sắc qua 12 xứ (āyatana), thấy danh sắc qua mười tám giới (dhātu).

Tuệ là chánh kiến về danh sắc, đó gọi là kiến tịnh.

(4) Đoạn nghi tịnh (kaṅkhāvitaraṇavisuddhi) là sự thanh tịnh của trí tuệ vượt qua sự hoài nghi tam thế: phá tan hoài nghi quá khứ, phá tan hoài nghi vị lai, phá tan hoài nghi hiện tại.

Giai đoạn đoạn nghi tịnh là giai đoạn khởi lên tuệ hiển duyên danh sắc (nāmarūpapaccayapariggahañāṇa).

Hành giả nghiệm ra tứ thực (āhāra) là duyên trợ sanh danh sắc; Hoặc nghiệm ra căn, cảnh, thức và nghiệp là duyên trợ sanh danh sắc; Hoặc nghiệm ra y tương sinh là duyên sanh ra danh sắc; Hoặc nghiệm ra ba luân là duyên sanh ra danh sắc…

Chính nhờ trí nghiệm ra duyên sanh danh sắc mà hành giả dẹp tan các mối nghi hoặc nên gọi là đoạn nghi tịnh.

(5) Đạo phi đạo tri kiến tịnh (maggāmaggañāṇa-dassanavisuddhi) là sự thanh tịnh tri kiến do trí biết rõ đạo (magga) và phi đạo (amagga).

Thế nào?

Giai đoạn tịnh này là hành giả sanh khởi thẩm sát tuệ (sammasanañāṇa) và sanh diệt tuệ (udayabbayañāṇa).

Hành giả tùy quán ba tướng phổ thông đối với danh sắc ngũ uẩn; Thấy danh sắc là vô thường (anicca) vì tính chất tạm bợ, diễn biến sanh rồi diệt, có rồi mất; Thấy danh sắc là khổ vì tính chất biến hoại không ngừng, bức xúc, bất toại; Thấy danh sắc là vô ngã vì tính chất rỗng không, vô quyền năng. Đây gọi là thẩm sát tuệ.

Sau khi tùy quán tam tướng, hành giả nhận thấy danh sắc rốt ráo chỉ là hiện tượng sanh diệt, từ hiện tượng sanh diệt của danh sắc mà có tính chất vô thường, khổ, vô ngã, nên hành giả tác ý đến sanh diệt thôi. Đây gọi là sanh diệt tuệ.

Chính trong giai đoạn này mười tùy phiền não quán sẽ hiện ra nơi hành giả [tùy phiền não quán (vipassanūpakilesa) là ánh sáng, tiệp tuệ, hoan hỷ, yên tịnh, an lạc, xác tín, cần dõng, cường niệm, xả nhiên và khát vọng] và do đó dễ bị vướng mắc ngộ nhận. Nếu hành giả giữ vững lập trường, không chú ý tới ánh sáng v.v... thì đạo và phi đạo sẽ phân ranh rõ ràng, nên giai đoạn này được gọi là đạo phi đạo tri kiến tịnh.

(6) Hành lộ tri kiến tịnh (paṭipadāñāṇadassanavisuddhi) là sự thanh tịnh tri kiến do hành trình tuệ quán tuần tự dẫn đến đích điểm. Cũng ví như một người đi vào thạch động để khám phá, sau khi đi qua các ngõ ngách, cuối cùng hiện ra một lối đi dẫn tới điểm sáng phía trước. Cũng vậy cuối hành lộ tri kiến tịnh là điểm sáng giải thoát.

Hành lộ tri kiến tịnh là giai đoạn sanh khởi chín thứ tuệ quán tuần tự: Dõng lực sanh diệt tuệ (balavudayabbayañāṇa), hoại tán tuệ (bhaṅgañāṇa), kinh úy tuệ (bhayañāṇa), nguy hại tuệ (ādīnavañāṇa), yếm ố tuệ (nibbidāñāṇa), dục thoát tuệ (muñcitukamyatāñāṇa), giản trạch tuệ (paṭisaṅkhāñāṇa), hành xả tuệ (saṅkhārupekkhāñāṇa), và thuận thứ tuệ (anulomañāṇa).

Từ tuệ thẩm sát (sammasanañāṇa) đến tuệ thuận thứ (anulomañāṇa) là mười tuệ quán (vipassanāñāṇa) lấy tam tướng là cảnh.

(7) Tri kiến tịnh (ñāṇadassanavisuddhi) là sự thanh tịnh tri kiến, giai đoạn cuối cùng của hành trình minh sát, đạt tới giải thoát (vimokkha).

Giai đoạn tri kiến tịnh có bốn tuệ là chuyển tộc tuệ (gotrabhūñāṇa), đạo tuệ (maggañāṇa), quả tuệ (phalañāṇa), và phản khán tuệ (paccavekkhanañāṇa). Đến đây đã đủ mười sáu tuệ.

Chuyển tộc tuệ (gotrabhūñāṇa) là tuệ chấm dứt phàm chủng tánh (puthujjanagottaṃ abhibhūyati) để bước qua thánh chủng tánh (ariyagotta).

Chuyển tộc tuệ lấy níp-bàn làm cảnh nhưng vẫn còn là tuệ hiệp thế (trí đổng lực thiện dục giới). Trong lộ đắc đạo, sát-na chuẩn bị, sát-na cận hành, sát-na thuận thứ và sát-na chuyển tộc đồng một thứ tâm là tâm thiện dục giới hợp trí.

Chuyển tộc tuệ là giao điểm giữa phàm phu tánh và thánh tánh, dẫn xuất minh sát và dẫn nhập thánh đạo.

Đạo tuệ (maggañāṇa) chính là sát-na tâm đạo tiếp nối sát-na chuyển tộc trong lộ đắc đạo (maggavīthi). Tuệ thánh đạo thuộc lãnh vực siêu thế (lokuttarabhūmi).

Có bốn thứ đạo tuệ:

a. Sơ đạo tuệ (paṭhamamaggañāṇa) là thánh đạo thứ nhất, tức là dự lưu đạo hay tu-đà-hườn đạo (sotāpattimagga). Thánh đạo này có mãnh lực tuyệt trừ ba kiết sử thấp là thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, đồng thời tuyệt trừ tham dẫn đọa xứ (apāyagamanīyarāga) và sân dẫn đọa xứ (apāyagamanīyapaṭigha).

b. Nhị đạo tuệ (dutiyamaggañāṇa) là thánh đạo thứ hai, tức là nhất lai đạo hay tư-đà-hàm đạo (sakadāgāmimagga). Thánh đạo này có mãnh lực làm suy yếu dục tham kiết sử, phẫn nộ kiết sử, đồng thời làm hoại chủng tử tái sanh cõi dục quá hai đời.

c. Tam đạo tuệ (tatiyamaggañāṇa) là thánh đạo thứ ba, tức là bất lai đạo hay a-na-hàm đạo (anāgāmimagga). Thánh đạo này có mãnh lực tuyệt trừ hai kiết sử đã muội lược là tham dục kiết sử và phẫn nộ kiết sử, đồng thời làm hoại chủng tử tái sanh dục giới.

d. Tứ đạo tuệ (catutthamaggañāṇa) là thánh đạo thứ tư, đạo tột bực, tức là ứng cúng đạo hay a-la-hán đạo (arahattamagga). Thánh đạo này tuyệt trừ năm thượng phần kiết sử là sắc ái, vô sắc ái, mạn, phóng dật và vô minh, đồng thời triệt tiêu chủng tử tái sanh luân hồi.

Đạo tuệ khởi lên trong lộ đắc đạo chỉ một sát-na. Sát-na sơ đạo thì sanh tiếp nối sát-na chuyển tộc (gotrabhū). Sát-na nhị đạo, tam đạo, tứ đạo thì sanh tiếp nối sát-na khiết hóa (vodāna) – Tâm vodāna thay thế tâm gotrabhū. Thay vì là tâm chuyển tộc (chuyển hóa từ phàm chủng tánh sang thánh chủng tánh) thì đắc ba đạo cao, tâm nhị đạo, tam đạo và tứ đạo tiếp nối tâm khiết hóa (tinh khiết hơn, từ thánh tánh thấp lên thánh tánh cao).

Khi sát-na tâm đạo diệt trợ liên tiếp sát-na tâm quả siêu thế sanh khởi, gọi là quả tuệ.

Quả tuệ (phalañāṇa) chính là sát-na tâm quả siêu thế sanh tiếp nối tâm đạo trong lộ đắc đạo (maggavīthi). Quả tuệ cũng thuộc lãnh vực siêu thế (lokuttarabhūmi).

Có bốn thứ quả tuệ:

a. Sơ quả tuệ (paṭhamaphalañāṇa) là thánh quả thứ nhất, tức là dự lưu quả hay tu-đà-hườn quả (sotāpattiphala). Sơ quả tuệ sanh khởi tiếp nối sơ đạo trong lộ đắc sơ đạo; Sơ quả tuệ khởi lên hai hay ba sát-na. Khi đắc sơ đạo hành giả được gọi là người đạo Dự lưu (sotāpattimaggapuggala), và khi tâm sơ quả khởi lên, vị ấy trở thành bậc thánh quả Dự lưu (sotāpattiphalapuggala) Sơ đạo tuệ cắt đứt ba hạ phần kiết sử; Sơ quả tuệ lắng yên ba kiết sử ấy.

b. Nhị quả tuệ (dutiyaphalañāṇa) là thánh quả thứ hai, tức là nhất lai quả hay tư-đà-hàm quả (sakadāgāmiphala). Nhị quả tuệ sanh khởi tiếp nối Nhị đạo tuệ trong lộ đắc nhị đạo; Nhị quả tuệ khởi lên hai hay ba sát-na. Khi đắc nhị đạo gọi là người đạo Nhất lai (sakadāgāmimaggapuggala) và khi tâm nhị quả khởi lên gọi là người quả Nhất lai (sakadāgāmiphalapuggala). Nhị quả tuệ tạm lắng yên Dục ái và phẫn nộ, hai kiết sử mà nhị đạo tuệ đã làm suy yếu.

c. Tam quả tuệ (tatiyaphalañāṇa) là thánh quả thứ ba, tức là bất lai quả hay a-na-hàm quả (anāgāmiphala). Tam quả tuệ sanh khởi tiếp nối tam đạo tuệ trong lộ đắc tam đạo, tam quả tuệ khởi lên hai hay ba sát-na. Khi đắc tam đạo gọi là người đạo Bất lai (anāgāmimaggapuggala) và khi tâm tam quả khởi lên gọi là người quả Bất lai (anāgāmiphalapuggala). Tam quả tuệ lắng yên dục ái và phẫn nộ, hai kiết sử mà tam đạo tuệ đã cắt đứt.

d. Tứ quả tuệ (catutthaphalañāṇa) là thánh quả thứ tư, tức là ứng cúng quả hay a-la-hán quả (arahattaphala). Tứ quả tuệ sanh khởi tiếp nối tứ đạo tuệ trong lộ đắc tứ đạo. Tứ quả tuệ khởi lên hai hay ba sát-na. Khi đắc tứ đạo gọi là người đạo Ứng cúng (arahattamaggapuggala) và khi tâm tứ quả khởi lên gọi là người quả Ứng cúng (Arahattaphalapuggala). Tứ quả tuệ lắng yên sắc ái, vô sắc ái, mạn, phóng dật và vô minh, là năm thượng phần kiết sử mà tứ đạo tuệ đã cắt đứt.

Cũng nên biết rằng, đạo tuệ (maggañāṇa) là đoạn tận trí (khayeñāṇaṃ) bởi cắt đứt phiền não (kilesasamucchedana); Quả tuệ (phalañāṇa) là vô sanh trí (uppādenānaṃ) bởi lắng yên phiền não (kilesapassambhana).

Bây giờ nói đến phản khán tuệ (paccavekkhaṇañāṇa).

Phản khán tuệ là tuệ thứ 16, và được kể là tuệ thuộc tri kiến tịnh.

Hành giả sau khi chứng đạo tuệ và quả tuệ liền quán xét lại những gì mình đã chứng và những gì mình đã đoạn trừ, tuệ quán xét ấy gọi là phản khán tuệ (paccavekkhaṇañāṇa).

Phản khán tuệ khởi lên trong lộ tâm ý môn thông thường với bảy sát-na đổng lực thiện dục giới hợp trí, và lộ tâm làm việc phản khán ấy sẽ diễn ra vô số lộ tâm. Sau lộ đắc đạo (maggavīthi) và lộ nhập thiền quả (phalasamāpattivīthi) thường diễn ra lộ phản khán.

Các bậc thánh hữu học có năm tuệ phản khán là phản khán đạo tuệ đã chứng (maggapaccavekkhaṇa), phản khán quả tuệ đã đắc (phalapaccavekkhaṇa), phản khán níp-bàn đã thể nhập (nibbānapaccavekkhaṇa), phản khán phiền não đã trừ (pahīnakilesapaccavekkhaṇa), và phản khán phiền não còn dư sót (avasiṭṭhakilesapaccavekkhaṇa). Hai tuệ phản khán phiền não có thể có, và có thể không đối với các bậc thánh hữu học.

Bậc thánh vô học (A-la-hán) có bốn tuệ phản khán là phản khán đạo tuệ đã chứng, phản khán quả tuệ đã đắc, phản khán níp-bàn đã thể nhập, và phản khán phiền não đã trừ.

Tóm lại, tri kiến tịnh là giai đoạn tịnh pháp cuối cùng trong thất tịnh, được kể là có bốn tuệ: chuyển tộc tuệ, đạo tuệ, quả tuệ, và phản khán tuệ. Thật ra, đạo tuệ và quả tuệ mới là chính trong Tri kiến tịnh vì đó là hai tuệ siêu thế. Còn chuyển tộc tuệ và phản khán tuệ là hai tuệ hiệp thế; Nhưng chuyển tộc tuệ vì bắt cảnh níp-bàn nên cũng được kể là tri kiến tịnh; Phản khán tuệ sanh nơi cơ tánh của bậc thánh nên cũng được kể là tri kiến tịnh.

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

@@@@@

I.
Giới thiệu về tính năng mới của Room Level DELUXE

-   Hi-Fi Audio & Multichannel (Up to 3 Speakers at once)

-      Hi-Fi là từ viết tắt của “high fidelity”, có nghĩa là độ chân thực cao. Khi nói “âm thanh Hi-Fi” tức là âm thanh có độ chân thực cao, sống động, không bị méo âm hoặc bị lẫn tạp âm và gần như không có gì khác so với âm thanh gốc.

-      Multichannel (cho phép người dùng có thể kết nối nhiều kênh âm thanh cùng lúc ‘Room Level DELUXE cho phép sử dụng 3 kênh âm thanh cùng lúc’

     Minh hoạ về Multichannel

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Multichannel.png

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

II.Quy tắc chung khi sử dụng Multichannel:

-   TT Giác Đẳng với vai trò điều hợp sẽ bật micro để điều hợp thảo luận và TT Tuệ Siêu – TT Tuệ Quyền – TT Pháp Tân – TT Pháp Đăng – Sư Nguyên Thông sẽ đảm trách vai trò là người trả lời và chư vị khi được thỉnh mời thì trực tiếp bật micro để người điều hợp biết là mình có thể tham gia mà không cần phải gửi text trên Room. Khi câu thảo luận được nêu ra hoàn tất thì chư vị có thể bắt đầu trả lời luôn mà không cần phải chờ đợi như trước. (Những ngày qua TT Tuệ Siêu đã sử dụng rất quen thuộc tính năng nầy).

-   Các MC có thể cầm micro liên tục khi dẫn chương trình cho đến khi đọc nội dung bài học mà không cần phải tắt micro.

-   Ví dụ: TT Tuệ Siêu là vị dẫn nhập cho chương trình mỗi ngày và với Multichannel thì khi nghe lời thỉnh mời TT Tuệ Siêu sẽ chủ động bật micro mà không cần chờ MC ‘hỏi Ngài có nghe âm thanh rõ không or phải cho biết tín hiệu’.

-   Các MC là “admin @ (A)” hoan hỷ lưu ý vì có thể cầm 3 micro cùng lúc nên phải để ý những người tham gia nếu thấy có tín hiệu cầm micro thì dùng chức năng (hạn chế or bỏ qua thành viên).